Bước tới nội dung

Cao Bân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cao Bân (chữ Hán: 高斌, 1683 - 1755), Cao Giai thị (高佳氏), tự Hữu Văn (右文), hiệu Đông Hiên (東軒) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là một quan viên và ngoại thích nhà Thanh. Ông là trọng thần dưới hai triều Ung Chính ĐếCàn Long Đế cũng như sinh phụ của Tuệ Hiền Hoàng quý phi - một phi tần của Càn Long Đế. Ngoài ra, ông còn là danh thần trị thủy nổi tiếng, thông hiểu Dịch học, Lý học, có nhiều tác phẩm thơ văn và thư pháp lưu đời.

Tiểu sử

Cao Bân vốn thuộc họ Cao, xuất thân tầng lớp Bao y, thuộc Tương Hoàng kỳ, thế cư Liêu Dương. Trước thời của ông, Cao thị tuy không thuộc hàng thế gia quan lại nhưng cũng là có mặt mũi, đến thời cha của ông là Cao Diễn Trung (高衍中) làm đến Lang trung kiêm Tham lĩnh, dưới thời Khang Hi từng phụ trách xây dựng Sướng Xuân viên dựa trên nền cũ từ thời nhà Minh[1]. Mẹ của Cao Bân là Lý thị (李氏, 1652 - 1733), con gái thứ ba của Phúc Kiến Bố chinh sứ Lý Ứng Xương (李应昌), về sau nhờ huân công của con trai mà được Ung Chính phong làm Nhất phẩm Phu nhân.

Cao Bân có một anh trai, một em trai và hai em gái: Đại huynh Cao Thuật Minh (高述明) làm Tổng binh Lương Châu, có tác phẩm Tích Thúy Hiên thi tập; Tam đệ Cao Ngọc (高鈺) nhậm Tổng binh Thọ Xuân, từng phục vụ trong Trạm Can xứ (có tác dụng như nha môn tình báo, tiền thần của Quân cơ xứ) dưới triều Khang Hi. Hai em gái của ông cũng có mối hôn nhân tương đối cao trong Nội vụ phủ: trưởng nữ gả cho Đặng Chi Tùng (鄧之琮) xuất thân Hán quân Tương Hoàng kỳ, nhậm Lang trung; thứ nữ gả cho Đinh Tào Bảo (丁皂保) là Tổng quản Nội vụ phủ, về sau thăng đến Phó Đô thống.

Cuộc đời

Cao Bân có gia thế tầm trung tại Nội vụ phủ, những năm Khang Hi giữ chức Tẩm lăng Tổng quản rồi Chủ sự Chưởng Nghi ty. Năm Ung Chính thứ nhất (1723), thăng làm Viên ngoại lang kiêm Tá lĩnh, đến năm thứ tư (1726) nhậm chức Tô Châu chức tạo, kiêm quản lý thuế vụ cửa quan Hử Thú, cùng năm lại nhậm Nhiệt Hà Tổng quản. Ung Chính thứ năm (1727), ông được phong làm Bố chính sứ tỉnh Quảng Đông, sau đó lần lượt trải qua chức vụ tại Chiết Giang, Giang Tô, Hà Nam trong bốn năm, đều được quan viên địa phương khen ngợi. Tháng 9 năm Ung Chính thứ chín (1731), phong Hà Đông Phó tổng hà, từ đó bắt đầu sự nghiệp trị thủy của mình. Nhờ quản lý tốt, sang năm sau (1732) được điều nhiệm Lưỡng Hoài Tuần diêm Ngự sử kiêm Giang Nam chức tạo. Đến năm thứ 11 (1733), lại thăng Giang Nam Phó tổng hà, Giang Nam Hà Đạo Tổng đốc[2]. Năm sau (1734), trung tu An Định thư viện tại Dương Châu, sau đó tái nhậm Lương Hoài diêm chính, lại thăng Binh bộ Hữu Thị lang.

Sang thời Càn Long, ông được triệu về kinh, qua đó kiến nghị đào kênh dẫn tại Đăng Sơn để ngăn nước Hoàng Hà chảy ngược vào vận hà, Càn Long Đế chuẩn y. Năm Càn Long thứ hai (1737), ông tham gia biên soạn và viết lời tựa cho bộ Giang Nam thống chí, đến năm thứ sáu (1741) được phong Trực Lệ Tổng đốc, đến năm thứ mười thì kế nhiệm Nột Thân giữ chức Lại bộ Thượng thư, Hiệp biện Đại học sĩ, nhập trực Quân cơ xứ, cùng năm thì con gái ông, tức Tuệ Hiền Hoàng quý phi qua đời. Năm Càn Long thứ mười hai (1747), thăng Nghị chính đại thần, Văn Uyên các Đại học sĩ kiêm Binh bộ Thượng thư, thụ Nội đại thần, gia hàm Thái tử Thái bảo, sang năm sau lại quản lý Giang Nam Hà Đạo. Năm Càn Long thứ mười lăm (1750), Càn Long Đế nam tuần, ông cho xây dựng Hà Phương thư viện cùng tiến dâng tranh Nam Hà đồ cho Càn Long, sang năm thì tròn bảy mươi tuổi, được đích thân vua ban thơ mừng thọ. Năm Càn Long thứ mười tám (1753) xảy ra vỡ đê tại Bảo ỨngCao Bưu, Càn Long Đế nể tình ông đã có tuổi nên chỉ cách chức nhưng vẫn cho lưu nhiệm. Cùng năm, Trịnh Bản Kiều vẽ bức Thạch Trúc Lan Đồ tặng Cao Bân, ông cũng viết tựa cho tập ấn chương của Trịnh Bản Kiều. Năm Càn Long thứ hai mươi (1755), Cao Bân qua đời khi đang tại chức, thọ 72 tuổi. Càn Long Đế thương tiếc, tặng Thị vệ Nội đại thần, thụy là Văn Định (文定). Hai năm sau (1757), Càn Long Đế nam tuần, hạ chỉ tế lễ ông tại Tứ Công từ, về sau nhập Hiền Lương từ.

Mối quan hệ

Cao Bân nổi tiếng là một người trọng thơ từ, môn khách trong phủ đệ của ông có thể kể đến Hạ Kính Cừ (夏敬渠) và Tiền Đại Hân. Khi mẹ của Hạ Kính Cừ qua đời, ông đích thân viết văn bia cho, lời lẽ thập phần thương tiếc; đến khi ông qua đời, Hạ Kính Cừ lại đến mộ ông than khóc, còn viết một bài thơ để tưởng nhớ, tên là Trung Dục tứ địa yết Cao Đông Hiên (tên hiệu của Cao Bân) tương quốc mộ[3]. Ông rất thân thiết với quan đốc đào Đường Anh, hai người có vẻ mặt rất giống nhau nên thường bị nhìn nhầm. Ngoài ra, ông thường xuyên trao đổi thơ từ với Ngạc Nhĩ Thái, Doãn Kế Thiện và Nạp Lan Thường An. Nạp Lan Thường An từng nhận xét ông trong thư: "Độc kỳ thi, như tiếp kỳ nhân, ôn hậu hòa bình lưu dật chi thượng, nhân nhân chi ngôn ái như[4]".

Tính từ thời của ông, gia tộc họ Cao lần lượt có sáu đời làm đến Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần, bắt đầu từ: ông, Cao Hằng, Cao Thành, Cao Ninh, Quảng Hưng, Cao Kỉ.

Gia quyến

Tổ tiên

  • Thủy tổ: Cao Danh Tuyền (高名選), đưa gia tộc vào Bao y.
  • Tổ phụ: Cao Đăng Vĩnh (高登永, 1620 - ?), thời Thuận Trị nhậm Tri châu Xương Vĩnh, tặng Quang lộc đại phu.

Cha mẹ

  • Thân phụ: Cao Diễn Trung (高衍中, 1654 - 1692), nhậm Nội vụ phủ Lang trung.
  • Thân mẫu: Lý thị (李氏, 1652 - 1733), Nhất phẩm Phu nhân dưới thời Ung Chính.

Anh em

  • Cao Thuật Minh (高述明, 1671 - 1723), Tổng binh trấn Lương Châu, Cam Túc. Vợ là Chu thị (朱氏) xuất thân Bao y Chính Hoàng kỳ, con gái Viên ngoại lang kiêm Tá lĩnh Chu Quốc Thiện (朱國善).
    • Đồ Khắc Thiện (圖克善), còn có tên Cao Lữ (高履). Vợ là Kỳ thị (祁氏), con gái Đầu đẳng Thị vệ Thất Thập (七十).
    • Cao Thành (高誠), tự Kính Tư (敬思), nhậm Hồ Bắc Ân sát sứ, Tây Lăng Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần. Vợ là Triệu thị (趙氏), còn gọi Triệu Giai thị (兆佳氏), con gái Hộ quan Tham lĩnh Cáp Nhĩ Mẫn (哈爾敏).
    • Tây Ninh (西寧), còn có tên Cao Hàm (高咸), ban đầu nhậm Viên ngoại lang, dần thăng Giám sát Ngự sử, Cấp sự trung, Giang Ninh, Hàng Châu chức tạo, Hà Đông diêm chính, Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần, Sơn Đông Tuần diêm Ngự sử.
    • Cao Tấn (高晉, 1707 - 1779), ban đầu nhậm Bút thiếp thức, sau thăng Viên ngoại lang, Sát Cáp Nhĩ Đô thống, An Huy Bố chính sứ, Hà Nam Tổng đốc, An Huy Tuần phủ, Lưỡng Quảng Tổng đốc, Văn Hoa điện Đại học sĩ, khi mất tặng Thái tử Thái phó, thụy Văn Đoan (文端), phối thờ tại Hiền Lương từ. Vợ là Vương thị (王氏), con gái Binh bộ Viên ngoại lang Đức Lâm (德林).
      • Cao Thư Lâm (高書麟, 1730 - 1801), nhậm An Huy Tuần phủ, sau thăng Hồ Quảng Tổng đốc, Lại bộ Thượng thư. Khi mất, gia hàm Thái tử Thái sư, tước Nhất đẳng Nam. Vợ là Y thị (伊氏) xuất thân Mãn Châu Tương Bạch kỳ, con gái Công bộ Lang trung Âm Đức Bố (音德布).
        • Cát Lang A (吉郎阿), tập tước Nhất đẳng Nam, từng giữ chức Phó tướng tại Quảng Đông và Chiết Giang. Vợ là Chương Giai thị (章佳氏) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, cháu nội Đại học sĩ Doãn Kế Thiện.
          • Thường Thiện (常善), nhậm Lam linh thị vệ.
          • Trưởng nữ, chính thê của Nhất đẳng Phụng quốc Tướng quân Tái Mậu (載茂) - hậu duệ Hằng Ôn Thân vương Dận Kỳ.
      • Quảng Hưng (廣興), nhờ tố cáo tội trạng của Hòa Thân mà được Gia Khánh Đế phong làm Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần, Lễ bộ Thị lang. Sau bị đàn hặc tham ô và nhận hối lộ nên bị cách tước và bị ban tự tận. Vợ là Vưu thị (尤氏).
        • Trưởng nữ, chính thê của tông thất Trường Niên (長年).
      • Quảng Hậu (廣厚, ? - 1815), đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất năm Càn Long thứ 43 (1778). Ban đầu nhậm Lễ bộ Chủ sự, sau thăng Giám sát Ngự sử, Quảng Đông diêm đạo, Chiết Giang Án sát sứ, Chiết Giang Bố chính sứ, Hồ Nam Tuần phủ, Binh bộ Thị lang, Công bộ Thượng thư. Vợ là Trịnh thị (鄭氏), con gái Lang trung Hằng Ân (恒恩).
        • Việt Nạp (粵訥), nhậm Viên ngoại lang.
          • Trưởng nữ, chính thê của tông thất, Tả đô Phó ngự sử Chí Nguyên (志元).
          • Nhị nữ, chính thê của tông thất, Viên ngoại lang Chí Hinh (孚馨).
        • Trưởng nữ, Đích Phu nhân của Trấn quốc Tướng quân Vinh Dụ (永裕) - con trai Hàm Mật Quận vương Hoằng Sướng (弘暢).
        • Nhị nữ, vợ của Tích Khánh (積慶).
      • Thành Đức (成德, 1742 - 1781), nhậm Tri huyện các huyện Ninh Sóc và Hợp Thủy. Vợ là Triệu thị (趙氏) xuất thân Hán quân Chính Bạch kỳ, con gái Tá lĩnh Triệu Thương Lượng (趙常亮).
      • Quảng Bình (廣平), nhậm Nội các trung thư. Vợ không rõ họ, xuất thân Mãn Châu Tương Bạch kỳ, con gái Quế Lâm Tri phủ Chiết Đô (折都).
        • Tố Nạp (素納), nhậm Trực Lệ Bố chính sứ. Vợ là Đồ Bá Đặc thị (圖伯特氏) xuất thân Mông Cổ Chính Bạch kỳ, con gái Võ Anh điện Đại học sĩ Bảo Ninh (保寧).
        • Trưởng nữ, kế thê của Hàng Châu tướng quân Quế Luân (桂輪) thuộc Tát Nhĩ Đồ Khắc thị (薩爾圖克氏) xuất thân Mông Cổ Chính Bạch kỳ, con trai Nhất đẳng Uy Dũng công Trường Linh (長齡).
      • Quảng Phổ (廣溥), nhậm Giám sinh.
      • Quảng Vũ (廣武), nhậm Chủ sự.
      • Con trai không rõ tên, tự Vũ Đình (雨亭, ? - 1768).
      • Quảng Đức (廣德), đậu Cử nhân khoa Giáp Ngọ năm Càn Long thứ 39.
      • Trưởng nữ, kế thât của Quý Châu Bố chinh sứ Công Nga (公峩) thuộc tộc Phú Sát thị, thúc phụ bên ngoại Dự tần của Đạo Quang Đế.
      • Nhị nữ, chính thê của Đức Thành (德誠) thuộc Vương Giai thị (王佳氏), con trai Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần Kiệt Khánh (吉慶).
      • Tam nữ, chính thê của Đức Xương (德昌) thuộc Phí Mạc thị (費莫氏), con trai Sơn Tây Tuần phủ Tô Nhĩ Đức (蘇爾德).
    • Cao Thái (高泰), hiệu Kiện Trai (健齋). Vợ là Đồng thị (董氏), con gái Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần Đồng Đình Bang (董殿邦).
    • Cao Khôn (高坤), tự Hàm Chương (含章). Nguyên phối Trần thị (陳氏), con gái Tổng lãnh Mặc Nhĩ Sâm Ngạch (默爾森額); kế phối Phú Sát thị (富察氏), con gái Tam đẳng Thị vệ Phó Nhĩ Đôn (傅爾敦).
    • Cao Phục (高復). Vợ là Kỳ thị (祁氏), con gái Nội vụ phủ Viên ngoại lang Trường Linh (長齡).
    • Trưởng nữ, chính thê của Nhị đẳng Thị vệ Hồ Chiếu (胡照) xuất thân Hán quân Chính Lam kỳ.
    • Nhị nữ, chính thê của Nội vụ phủ Tá lĩnh Lý Duy Bình (李維屏).
  • Cao Ngọc (高鈺, 1691 - 1750), ban đầu nhậm Nội vụ phủ Bút thiếp thức, sau thăng Lam linh thị vệ, Tứ Xuyên Tổng binh, Kiêu kỵ Tướng quân, Giang Nam Đề đốc, Vinh lộc đại phu. Vợ là Chung thị (鍾氏) xuất thân Hán quân Chính Hoàng kỳ, con gái Viên ngoại lang Chung Quốc Đình (鍾國鼎).
    • Cao Khiêm (高謙, 1713 - ?), nhậm Công bộ Lang trung. Vợ là Hoàn Nhan thị (完顏氏) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái Công bộ Thị lang Lưu Bảo (留保).
      • Bảo Ninh (保寧), Cử nhân khoa Canh Dần, năm Càn Long thứ 35 (1770). Vợ là Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏).
      • Bảo Tĩnh (保靜), Cử nhân khoa Canh Tý, năm Càn Long thứ 45 (1780).
    • Cao Quan (高觀), nhậm Kiêu kỵ giáo. Vợ là Hoàng thị (黃氏), con gái Nội vụ phủ Bút thiếp thức Hoàng Thuyên (黃煓).
      • Y Tang A (伊桑阿, ? - 1801), nhậm Phó Đô thống Hán quân Chính Hồng kỳ, Tuần phủ Sơn Tây, Tuần phủ Quý Châu, Tuần phủ Vân Nam, do có tội nên bị xử tử.
      • Y Minh A (伊明阿), nhậm Phủ Châu Tri phủ. Vợ là Chương Giai thị (章佳氏).
        • Phúc Thuần (福淳), Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu năm Đạo Quang thứ 9 (1829).
      • Y Thăng A (伊昇阿), nhậm Loan nghi vệ.
    • Cao Ích (高益), nhậm Chiết Giang Tổng binh. Có ba người vợ: Đích thê Diêu Tố Ngọc (姚素玉), con gái Tây Lăng Tổng quản Nội vụ phủ Diêu Vĩnh Thái (姚永泰), tác giả tập thơ Hạnh Vũ Lâu thi cảo; kế thê La thị (羅氏), con gái của Đại lý tự Khanh Định Trụ (定住); tam kế thê Tô thị (蘇氏), con gái của Lang trung bộ Hộ Tô Thành (蘇誠).
    • Cao Tiết (高節), có hai người vợ: Đích thê Ái Tân Giác La thị, hậu duệ Tốn Giản Thân vương Mãn Đạt Hải; kế thê Quan thị (關氏), con gái của Nhị đẳng Thị vệ Thường Trụ (常柱).
    • Trưởng nữ, chính thê của Tá lĩnh Thành Luân (誠倫) thuộc Hỷ Tháp Lạp thị (喜塔臘氏), con trai của Văn Hoa điện Đại học sĩ Lai Bảo (來保).
    • Nhị nữ, chính thê của Hách Lăng Ngạch (赫升額), con trai của Nhất đẳng Hộ vệ Tứ Cách (四格).

Thê thiếp

  • Đích thê: Trần Giai thị (陳佳氏), nguyên họ Trần, xuất thân Bao y Tương Hoàng kỳ, con gái Đệ ngũ Tham lĩnh, Đệ tam Tá lĩnh A Lân (阿麟). Đường tỷ của bà là Thuần Dụ Cần phi của Khang Hi Đế, sinh mẫu Doãn Lễ, nhờ đó mà được nhập vào Mãn Châu Tương Hoàng kỳ. Được phong cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân, mất khi còn trẻ.
  • Kế thê: Kỳ thị (祁氏), người gốc Liêu Dương, con gái Tư khố Kỳ Sĩ Kiệt (祁士傑), xuất thân Bao y Chính Hoàng kỳ. Được phong cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân.
  • Tam kế thê: Mã thị (馬氏), con gái Kiêu kị giáo Mã Duy Phiên (馬維藩), xuất thân Bao y Chính Bạch kỳ, cũng được phong cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân. Gia tộc có nhiều người làm quan to, như Mã Tang Cách (馬桑格) kế nhiệm cha của Tào Tuyết Cần nhậm Giang Nam Tổng đốc, về sau nhậm Binh bộ, Lại bộ Thượng thư kiêm Thái tử Thái bảo.

Con cái

Tất cả đều do Mã thị sinh ra.

  • Trưởng nữ, tức Tuệ Hiền Hoàng quý phi của Càn Long Đế.
  • Nhị nữ, kế thất của Phó Đô thống Ngạc Thật (鄂實) - con trai thứ hai của Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái.
  • Tam nữ, kế thất của Hộ quân Kiêu kỵ giáo Hàn Cẩm (韓錦) thuộc Chính Hoàng kỳ.
  • Tứ nữ, không rõ thông tin.
  • Con trai duy nhất, Cao Hằng (高恒, 1717 - 1768), nhậm Lưỡng Hoài diêm chính, Nội vụ phủ Tổng quản, do tham ô thuế muối nên bị xử tử. Vợ là Na Lạp thị (那拉氏) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái Quang lộc tự Thiếu khanh Đức Nhĩ Bì (德爾弼). Phủ đệ cũ của ông tại Bắc Kinh sau được Càn Long Đế ban cho Cố Luân Hòa Tĩnh công chúa, về sau trở thành vương phủ của Thân vương Na Ngạn Đồ (那彥圖).
    • Cao Phác (高樸, ? - 1778), nhậm Đô sát viện Tả phó Đô ngự sử, Binh bộ Hữu thị lang, vì tham ô vàng tại Tân Cương khi đang giữ chức Biện sự Đại thần nên bị xử tử.
      • Trưởng nữ, chính thê của tông thất Quan Khánh (官慶) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con trai Hồ Nam Tuần phủ Đôn Phúc (敦福).
    • Cao Phường (高枋), nhậm Lam linh thị vệ. Vợ là Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái Phó Đô thống Thác Văn (托雲), hậu duệ Nhất đẳng công Pháp Ca (法喀).
    • Cao Thức (高栻).
    • Cao Kỳ (高杞, 1749 - 1826), tự Nam Hữu (南有), nhậm Nhất đẳng Khinh xa Đô úy, lần lượt trải qua chức vụ Nội vụ phủ Lang trung, Tuần phủ các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Chiết Giang, Hà Nam; Nhiệt Hà Đô thống, Ô Lỗ Mộc Đô Tề Đô thống, Thiểm Cam Tổng đốc, Hình bộ Tả thị lang, Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần. Vợ là Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏), con gái Hồ Quảng Tổng đốc Ái Tất Đạt, chị gái Thuận quý nhân của Càn Long.
      • Cao Trác (高焯), tự Rung Ba (蓉波), Cử nhân khoa Mậu Thìn năm Gia Khánh, tác giả tập Rung Ba thi thảo. Vợ là Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏), cháu gái Quả Nghị công Sách Lăng.
      • Trưởng nữ, Trắc Phúc tấn của Đôn Khác Thân vương Miên Khải - con trai Gia Khánh Đế.
      • Nhị nữ, chính thê của tông thất, tiến sĩ Sùng Khải (崇碩).
      • Tam nữ, chính thê của tiến sĩ Khuê Diệu (奎耀) thuộc tộc So Sát Lạc thị (索綽絡氏), xuất thân Mãn Châu Chính Bạch kỳ.
      • Tứ nữ, chính thê của Đầu đẳng Thị vệ Vinh Thọ (榮壽), con trai Binh bộ Thượng thư kiêm Văn Trang công Hy Ân (禧恩).
    • Trưởng nữ, nguyên phối của Tô Đệ Sát (蘇第察) thuộc họ Ô Lạp Na Lạp, con trai Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần kiêm Thành Nghị công Tam Hòa (三和).

Chú thích

  1. 武清侯李文全、武清侯李铭诚三代經營,《钦定日下旧闻考》、朱彝尊《日下旧闻》
  2. 载《钦定八旗通志:总督》卷339。
  3. 夏敬渠《怀人诗十首》,又载夏敬渠《浣玉轩集》卷4。
  4. dịch nghĩa ra là "Đọc thơ của ông, cũng giống như được tiếp kiến chính con người ông vậy; cái đức tính ôn hậu, hòa nhã và điềm đạm toát lên tràn trề trên mặt giấy, đúng như người ta vẫn nói: lời lẽ của bậc nhân đức thì luôn ôn hòa, dễ mến"