Bước tới nội dung

Bắc 54

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chuẩn bị lên tàu USS Montrose của hải quân Hoa Kỳ từ Hải Phòng cập bến Sài Gòn, tháng 8 năm 1954
Tàu HMS Warrior chở 1.455 người tị nạn

Bắc 54, hoặc "Bắc Kỳ 54", là cụm từ nói về những người miền Bắc di cư vào miền Nam Việt Nam dưới vĩ tuyến 17 vào năm 1954 và 1955. Họ rời khỏi vùng do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý để vào vùng do Quốc gia Việt Nam quản lý sau ngày ký kết Hiệp định Genève năm 1954.

Chiến dịch Con đường đến tự do

Diễn văn tại Sài Gòn chào mừng người di tản thứ 100.000 đi tàu thủy từ Hải Phòng

Chiến dịch Con đường đến tự do là một sáng kiến của hải quân Hoa Kỳquân đội Pháp để di chuyển các thường dân Việt Nam muốn di cư đến nửa phía Nam của Việt Nam từ miền Bắc, chủ yếu bằng tàu thuyền hoặc máy bay, theo hiệp định Genève năm 1954. Tạo ra thời kỳ 300 ngày mà mọi người có thể di cư tự do giữa miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam trước khi vĩ tuyến 17 bị phong tỏa vào ngày 18 tháng 5 năm 1955. Người Bắc 54 đã di cư vào miền Nam bằng chiến dịch con đường đến tự do với con số ước lượng từ 800.000 người đến gần 1 triệu người năm 1955.[1] Thêm 109.000 người di cư về phía Nam bằng phương tiện riêng của họ, một số ít di cư sau khoảng thời gian 300 ngày (ví dụ như sau cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu, Nghệ An năm 1956,...). Những người tự di cư bằng cách đi bộ xuyên qua Lào, lên tàu đánh cá địa phương sau khi lấy được hoặc đi vào tỉnh Quảng Bình để bơi qua dòng sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17. Phần lớn người di cư có nguồn gốc từ đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Nam Định, một số từ Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và số ít từ các tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ.

Theo các tài liệu của Mỹ, trong thời gian này Edward Lansdale, chuyên gia tình báo Mỹ hoạt động tại miền Bắc Việt Nam, có nhiệm vụ làm suy yếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi cách có thể.[2][3] Lansdale và nhóm của ông đã thực hiện một chiến dịch tuyên truyền miêu tả rằng các điều kiện sắp tới dưới chính quyền Việt Minh sẽ ác nghiệt hết mức. Những khẩu hiệu như "Chúa đã vào Nam", "Đức Mẹ đã rời miền Bắc" cũng được cho là do nhóm Lansdale đặt ra. Việt Minh gọi mỉa mai cuộc di cư là "theo Chúa vào Nam".[4] Nhưng một nghiên cứu cho thấy hầu như không ai trong số những người được phỏng vấn từng thấy truyền đơn, áp phích hay tài liệu nào kêu gọi di cư vào Nam. Họ ra đi vì tác động của cha xứ, những câu chuyện truyền miệng, hoặc vì lý do cá nhân chứ không phải vì chịu tác động của các truyền đơn tuyên truyền chống cộng của CIA.[5]

Chính bản thân Edward Lansdale cho rằng chiến dịch tâm lý của mình ít có ảnh hưởng tới dân chúng:

"Người ta không bật khỏi gốc rễ mà rời bỏ quê hương chỉ vì những khẩu hiệu xuông. Họ thật sự lo sợ những gì có thể xảy đến với mình, và cảm xúc ấy mạnh mẽ đến mức vượt qua được sự gắn bó với đất đai, nhà cửa và mồ mả tổ tiên. Vì vậy, ý định ấy phần lớn xuất phát từ họ, còn chúng tôi chủ yếu chỉ làm cho việc di chuyển trở nên khả thi."[5]

Hơn 200.000 người Phật giáo di cư vào Nam cùng với các tăng sĩ chính.[6] Cả một phong trào trí thức Phật giáo di dời vào miền Nam.[7] Hàng chục nghìn người thuộc các sắc tộc thiểu số cũng di chuyển vào Nam.

Định cư

Người tị nạn miền Bắc trưng các biểu ngữ bằng tiếng Anh cảm ơn sự trợ giúp của chính phủ và người dân các nước phương Tây
Hai miền Việt Nam khi chia cắt

Nhiều người Bắc 54 đã định cư ở các khu vực ven biển như Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận (nơi nhiều người làm nghề đánh bắt cá), Đồng Nai (nơi nhiều người làm nghề trồng trọt và chăn nuôi), hoặc tại các đô thị lớn như Sài Gòn hoặc Biên Hòa. Biên Hòa sau này sẽ trở thành địa điểm chống cự quy mô nhỏ với chính quyền mới trong những tháng đầu sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, vì sự tập trung cao độ của những người Bắc 54 chống cộng sản và con cháu của họ đã di cư vào miền Nam Việt Nam năm 1954, 1955.

Người Bắc di cư vì nhiều lý do chính trị, kinh tế, và tôn giáo. Trong số người Công giáo, có những người quyết định di cư không phải vì lý do tôn giáo.[8] Thành phần di cư Công giáo từ miền Bắc thực tế đã mang đến nhiều thách thức phức tạp cho Giáo hội Công giáo tại miền Nam; thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng không tái định cư người Công giáo miền Bắc ở quanh Sài Gòn như một chính sách chiến lược có chủ đích.[9] Người Công giáo Việt Nam không phải là một khối đồng nhất,[10] và họ cũng không thống nhất về lập trường chính trị.[11] Do đó, việc đồng nhất "người tị nạn Công giáo với tất cả người Công giáo, với tất cả người tị nạn, hoặc với những người ủng hộ trung thành Ngô Đình Diệm" là một huyền thoại.[12] Việc tái định cư người tị nạn Công giáo một cách phân tán cho thấy rằng việc là người tị nạn hay là người Công giáo không đảm bảo nhận được sự ưu ái từ tổng thống.[13] Giáo hội ở miền Nam phải đối phó với những thách thức gắn liền với việc đón một đoàn người Công giáo nhập cư có quy mô còn lớn hơn cả bản thân giáo hội miền Nam. Theo một thống kê, vào năm 1954 cả Việt Nam có hơn 1,9 triệu người Công giáo; trong đó hơn 1,4 triệu người ở miền Bắc, và khoảng 800.000 người trong số đó di cư vào Nam. Giáo hội miền Nam còn gặp khó khăn khi văn hóa của các tín đồ hai miền khác nhau. Ngoài những khó khăn thì Giáo hội có một thuận lợi là tất cả tín hữu đều theo một hệ thống giáo lý và nghi lễ.[14]

Những người Bắc 54 nổi tiếng

Bản đồ các tỉnh Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ năm 1925. Lưu ý bản đồ này có thể hiện các tỉnh lị nhưng không ghi ra tên tỉnh.

Đây là danh sách chưa đầy đủ những người nổi tiếng có quê hương phía Bắc vĩ tuyến 17 từ Quảng Bình trở ra, một số người trong danh sách này di cư từ trước năm 1954. Các tỉnh, thành của miền Bắc Việt Nam được sắp xếp theo thứ tự trên bản đồ từ phía cực Bắc xuống cực Nam, từ Tây sang Đông.

Cao Bằng

Yên Bái

Tỉnh cũ Yên Bái nay thuộc tỉnh Lào Cai.

Phú Thọ

Phạm vi tỉnh Phú Thọ ngày nay còn gồm đa số phạm vi ba tỉnh cũ Hòa Bình, Vĩnh Yên, và Phúc Yên.

Bắc Ninh

Phạm vi tỉnh Bắc Ninh ngày nay còn bao gồm tỉnh cũ Bắc Giang.

Quảng Ninh

Phạm vi tỉnh Quảng Ninh như ngày nay được hợp thành từ các tỉnh cũ Quảng YênHải Ninh.

Hưng Yên

Phạm vi tỉnh Hưng Yên ngày nay còn bao gồm tỉnh cũ Thái Bình.


Hà Nội

Phạm vi thủ đô Hà Nội ngày nay bao gồm cả các tỉnh cũ Hà Đông, Sơn Tây; phần tả ngạn sông Hồng của Hà Nội là một phần của các tỉnh cũ Phúc Yên và Bắc Ninh.

Hải Phòng

Phạm vi thành phố Hải Phòng ngày nay còn bao gồm các tỉnh cũ Kiến AnHải Dương.

Ninh Bình

Phạm vi tỉnh Ninh Bình như ngày nay được hợp thành từ các tỉnh cũ Ninh Bình, Nam Định, và Hà Nam.

Thanh Hóa

Nghệ An

Hà Tĩnh

Quảng Bình

Tỉnh cũ Quảng Bình nay thuộc tỉnh Quảng Trị.

Xem thêm

  • Di dân Bạch vệ
  • Bắc 75

Chú thích

  1. Lindholm, Richard (1959). Viet-nam, The First Five Years: An International Symposium. Michigan State University Press. tr. 49. ISBN 1258173123.
  2. Nguyên văn: "...his task was to weaken Ho Chi Minh's Democratic Republic of Viet Nam through any means available..."; Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 1998, tr. 220.
  3. Neel Sheehan, A Bright Shining Lie, 1988, tr. 137.
  4. "70 năm cuộc di cư 1954: người Công giáo ra đi rồi lại hướng về quê cũ!". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  5. 1 2 Hansen (2009).
  6. Goscha, Christopher (2016). Vietnam: A New History. Basic Books. tr. 280. ISBN 9780465094370.
  7. The Venerable Giac Duc (1996). "Buddhists and Catholics, the Beginning". In David Chanoff & Doan Van Toai (eds.) ‘Vietnam’: A Portrait of Its People at War. I.B. Tauris. page 39.
  8. Hansen (2009), tr. 184.
  9. Hansen (2009), tr. 176.
  10. Trân (2013), tr. 447.
  11. Nguyen-Marshall (2009).
  12. Nguyen (2016), tr. 210–211.
  13. Nguyen (2016), tr. 213.
  14. Bùi Đức Sinh, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (Calgary: Veritas Press, 1998), tập 3, trang 214

Tham khảo

Liên kết ngoài