Bước tới nội dung

Bão Sarah (1977)

Bão số 2 năm 1977
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bão Sarah (bão số 3 năm 1977)
Bão Sarah ngày 21 tháng 7 năm 1977
Lịch sử khí tượng
Hình thành16 tháng 7 năm 1977
Tan21 tháng 7 năm 1977
Bão cuồng phong cấp 1
Duy trì trong 1 phút (SSHWS/JTWC)
Sức gió cao nhất140 km/h (85 mph)
Áp suất thấp nhất970 hPa (mbar); 28,64 inHg
Bão cuồng phong
Duy trì trong 10 phút (JMA)
Sức gió cao nhất130 km/h (80 mph)
Áp suất thấp nhất970 hPa (mbar); 28,64 inHg
Tác động cụ thể
Chết191
Bị thương519
Mất tích51
Vùng ảnh hưởngNam Trung Quốc, Việt Nam, Lào

Một phần của Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1977

Bão Sarah (tên địa phương Philippines là bão nhiệt đới Elang, Việt Nam gọi là bão số 3 năm 1977) là một cơn bão mạnh tác động đến Trung Quốc và Việt Nam vào tháng 7 năm 1977. Hình thành từ một vùng áp thấp ngoài khơi phía Đông Philippines, Sarah nhanh chóng phát triển thành bão nhiệt đới, đổ bộ vào Philippines rồi đi vào biển Đông. Đến ngày 20 tháng 7, Sarah đã phát triển trở thành một cơn bão cuồng phong khi nó tiến đến phía Đông đảo Hải Nam của Trung Quốc và sau đó đạt cường độ cực đại.

Vào ngày 21 tháng 7 năm 1977, Sarah đi vào Vịnh Bắc Bộ, đến chiều cùng ngày đã đổ bộ vào thành phố Hải Phòng của Việt Nam. Sarah đã gây gió mạnh, mưa lớn và thiệt hại nghiêm trọng cho đảo Hải Nam và các tỉnh miền Bắc Việt Nam, với 132 người chết, mất tích tại đảo Hải Nam, Trung Quốc và 110 người chết, mất tích tại Việt Nam. Sarah vẫn được xem là một trong những cơn bão mạnh nhất từng đổ bộ vào Việt Nam từ trước đến nay.

Lịch sử khí tượng Bão Sarah (1977)

Biểu đồ thể hiện đường đi và cường độ của bão theo thang Saffir–Simpson
Chú thích biểu đồ
     Áp thấp nhiệt đới (≤38 mph, ≤62 km/h)
     Bão nhiệt đới (39–73 mph, 63–118 km/h)
     Cấp 1 (74–95 mph, 119–153 km/h)
     Cấp 2 (96–110 mph, 154–177 km/h)
     Cấp 3 (111–129 mph, 178–208 km/h)
     Cấp 4 (130–156 mph, 209–251 km/h)
     Cấp 5 (≥157 mph, ≥252 km/h)
     Không rõ
Kiểu bão
▲ Xoáy thuận ngoài nhiệt đới, áp thấp tàn dư, nhiễu động nhiệt đới, hoặc áp thấp gió mùa

Nguồn gốc của Sarah xuất phát từ một vùng đối lưu cách khoảng 417 km về phía Đông của Palau được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hải quân Hoa Kỳ phát hiện vào ngày 14 tháng 7, sau đó một ngày cơ quan ngày đã ban hành "Cảnh báo về sự hình thành xoáy thuận nhiệt đới" (TCFA) đối với vùng thấp này. Trong ngày 16, dữ liệu vệ tinh chỉ ra phần hoàn lưu phía tây đang chiếm ưu thế, sau đó đối lưu trong khu vực đã trở nên tập trung, xoắn hơn vào trung tâm và cơ quan này đã phát cảnh báo đầu tiên về áp thấp nhiệt đới, tối cùng này đã trở thành bão và được cấp tên quốc tế "Sarah".[1] Cùng ngày Philippines đã ghi nhận xoáy thuận đi vào Khu vực Trách nhiệm của Philippines (PAR) và cấp tên Elang.[2] Sau đó, Sarah đã đổ bộ vào Philippines, và không thể tăng cường thêm do không gặp nhiều điều kiện thuận lợi.[1][3]

Sáng ngày 18 tháng 7, Sarah đi vào biển Đông và bắt đầu quá trình gia tăng cường độ. Ngày 19 tháng 7, áp cao cận nhiệt đới ở phía Bắc cơn bão rút đi, Sarah ngay lập tức dịch chuyển về hướng Tây Bắc, cường độ mạnh lên 75 kn (139 km/h).[1] Ghi nhận của Cục Khí tượng Trung Quốc (CMA) cũng đã cho thấy bão mạnh lên 68 kn (126 km/h).[3] Khoảng 05:15 sáng (UTC+8) ngày 20 tháng 7, một trạm khí tượng của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa đã đo được tốc độ gió duy trì (gió mạnh) 38 m/s (137 km/h), hướng gió Tây Tây Nam, tương ứng với gió mạnh cấp 13.[4] Vào tối ngày 20 tháng 7, Sarah đã đổ bộ vào đảo Hải Nam, Trung Quốc.[1][3] Sau đó, áp cao cận nhiệt đới bắt đầu lấn Tây, bão Sarah đã giảm tốc độ di chuyển còn 15 km/h cũng như lệch Tây dần, đi qua phía Bắc đảo Hải Nam và một trạm thời tiết ở tọa độ 19,5oB và 109,6oĐ nằm ở Đam Châu trên đảo đã ghi nhận khí áp 969,5 hPa.[1] Theo CMA, khí áp thấp nhất ghi nhận đối với Sarah là 957hPa vào tối 20 tháng 7.[3]

Ngày 21 tháng 7, Sarah đi vào Vịnh Bắc Bộ.[1] Diễn biến của bão trên Vịnh Bắc Bộ không có nhiều thông tin, ngoại trừ việc các cơ quan ghi nhận bão tăng tốc lên khoảng 25 km/h và sức gió khi mới vào vịnh ước tính là 65 kn (120 km/h) theo JTWC và 58 kn (107 km/h) theo CMA.[1][3] Chiều ngày 21 tháng 7, Sarah đã đổ bộ vào thành phố Hải Phòng với vùng tâm được cho là đi qua Đài khí tượng Phù Liễn, chấm dứt chuỗi 624 ngày không có bão đổ bộ vào Việt Nam.[1][5][6][7][8] Sau đó, Sarah đi sâu vào vùng Đồng bằng sông Hồng, JTWC phát cảnh báo cuối cùng vào tối cùng ngày khi nó đang ở phía tây bắc của Hà Nội.[1] Tàn dư của Sarah đi sâu vào vùng Thượng Lào và phía Bắc Myanmar rồi tan dần ngày hôm sau.[3]

Tác động và đánh giá Bão Sarah (1977)

Trung Quốc

Khoảng 19:00 đến 20:00 (giờ địa phương UTC+8) ngày 20 tháng 7, cơn bão đã đổ bộ vào đảo Hải Nam, vị trí đổ bộ ở huyện Quỳnh Hải (ngày nay là thành phố cấp huyện Quỳnh Hải). Cơn bão được đánh giá là có phạm vi ảnh hưởng rộng và gây mưa đáng kể trên toàn đảo. Nhiều nơi trên đảo Hải Nam ghi nhận gió mạnh cấp 8, cấp 9 và gió giật cấp 9–11,[9] trạm đo ở Đồn Xương ghi nhận gió mạnh nhất do bão, với gió mạnh đo được 27 m/s (97 km/h) và gió giật 40 m/s (144 km/h), tương ứng gió cấp 10 giật cấp 13, gió bão mạnh 22 m/s (79 km/h) và gió giật 32 m/s (115 km/h), tương ứng với gió mạnh cấp 9 giật cấp 11 được đo tại huyện Lâm Cao.[4] Từ ngày 19 đến ngày 23 tháng 7, số huyện hoặc thành phố cấp huyện ghi nhận mưa trên 200 mm là 8; riêng Bạch Sa, Đông Phương, Quỳnh Trung, Thông Thập (ngày nay là thành phố Ngũ Chỉ Sơn), Lạc Đông, Xương Giang ghi nhận tổng lượng mưa trên 326 mm.[9] Trạm quan trắc tại huyện lỵ của huyện Bạch Sa ghi nhận lượng mưa ngày 490,3 mm và tổng lượng mưa do bão đạt 591 mm, lượng mưa ngày tại các trấn và hương như Đả An, Tế Thuỷ, Nguyên Môn của huyện này đạt trên 600 mm. Tốc độ dòng chảy tại trạm thuỷ văn Nha Xoa là 6 m/s.[10] Ảnh hưởng của bão đã gây lũ quét, tại Bạch Sa, Quỳnh Trung, Đồn Xương, Xương Giang ghi nhận thiệt hại nặng.[9] Chỉ riêng tại huyện Bạch Sa, 60 người tử vong do thiên tai lũ lụt.[10] Thiệt hại do bão trên toàn đảo Hải Nam: tổng cộng 90 người chết, 42 người mất tích, 129 người bị thương, 135.400 gian nhà bị hư hỏng, 8.861 tấn lương thực và hạt giống bị thiệt hại, 11 hồ chứa bị vỡ (trong đó có 4 hồ dung tích trên 100.000 m³), 677 công trình như đường sá, cầu, các công trình thủy lợi bị phá hủy, 27.287 ha hoa màu và rừng bị tàn phá; hơn 4,7 triệu cây cao su, hồ tiêu, dừa… bị thiệt hại.[9]

Việt Nam

Khí áp mực nước biển thấp nhất ghi nhận
trên đất liền đối với các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam từ năm 1975
STTBãoNămTrị số khí ápNguồn
Giá trịTại
1Yagi (bão số 3)2024955,2 hPaBãi Cháy (Quảng Ninh)[11]
2Cecil (bão số 8)1985959,9 hPaĐông Hà (Quảng Trị)[12][13]
3Xangsane (bão số 6)2006963,3 hPaĐà Nẵng[14]
4Sarah (bão số 3)1977963,4 hPaPhù Liễn (Hải Phòng)[a][15]
5Doksuri (bão số 10)2017966,6 hPaBa Đồn (Quảng Trị)[16]
6Kalmaegi (bão số 13)2025967 hPaQuy Nhơn (Gia Lai)[17]
7Wayne (bão số 5)1986967,4 hPaNam Định (Ninh Bình)[18]
8Vera (bão số 3)1983968,3 hPaCửa Ông (Quảng Ninh)[19]
9Frankie (bão số 2)1996969 hPaVăn Lý (Ninh Bình)[20]
10Wutip (bão số 10)2013969,2 hPaĐồng Hới (Quảng Trị)[21]

Sarah là cơn bão số 3 năm 1977 theo thông tin của ngành khí tượng Việt Nam,[22][23] đổ bộ vào Hải Phòng với sức gió được cho là ở cấp 12, cấp 13 cùng bán kính lớn lên đến 200 km.[5][6][24] Vào thời điểm Sarah đổ bộ ngày 21 tháng 7 năm 1977, đài khí tượng Phù Liễn ở Hải Phòng ghi nhận sức gió giật tới 51–52 m/s (cấp 16) bằng máy gió Munro, một loại máy gió tự ghi có xuất xứ từ Anh[25][26][27][28] và khí áp thấp nhất (giá trị tuyệt đối) ghi nhận được tại trạm xuống đến 950,6hPa,[29] tuy nhiên giá trị này đo được ở độ cao 113m nên khi quy về mực nước biển thì giá trị áp ở khoảng 963,4hPa.[29] Khi đổ bộ, Sarah cũng đã gây ra mưa vừa và mưa to tại miền Bắc Việt Nam, với tổng lượng mưa ở thời điểm bão vào và sau khi bão vào ước tính khoảng 100mm, riêng tại Nam Định tổng lương mưa 176,9mm (thực đo khi bão vào là 124,9mm và sau bão là 52,0mm).[8]

Sarah vẫn được cho là một trong những cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào Hải Phòng,[5] Hải Dương.[30] Theo JTWC, Đài phát thanh Hà Nội không công bố thiệt hại.[1] Nhưng theo các tài liệu tại Việt Nam, tại Hải Phòng, Sarah đã làm 48 người chết, 228 người bị thương, 48.000 ha ruộng ngập úng và 160.000m3 đê kè bị sạt trôi.[5][6][31] Tính chung, tại Việt Nam, Sarah làm 101 người chết, 390 người bị thương, 9 người mất tích, 32.192 nhà đổ, 130.384 nhà hư hỏng, 302 trường học và 1965 bệnh viện bị đổ, 259 thuyền đắm, 4253 cột điện bị gãy đổ.[23]

Ghi chú Bão Sarah (1977)

  1. Giá trị khí áp tuyệt đối ghi nhận theo Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu 2013, tr. 104 là 950,6 hPa, tuy nhiên nó được đo ở độ cao 113m. Khi quy về mực nước biển trong điều kiện bình thường thì giá trị áp là khoảng 963,4 hPa.

Chú thích Bão Sarah (1977)

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Cpt. John D. Pickle 1978, tr. 20
  2. Michael Papua (2008). "PAGASA TROPICAL CYCLONES 1963-1988 [within the Philippine Area of Responsibility (PAR)]". Typhoon2000. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015.
  3. 1 2 3 4 5 6 "1977 Typhoon SARAH (1977194N06142)". International Best Tracks Archive for Climate Stewardship. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2024.
  4. 1 2 台风年鉴:1977 [Niên giám bão năm 1977]. Trung Quốc: 氣象出版社 [Nhà xuất bản Khí tượng Trung Quốc]. 1980. tr. 167.
  5. 1 2 3 4 Trần Đức Thạnh, Bùi Quang Sản 2015, tr. 204
  6. 1 2 3 Nguyễn Thu (ngày 11 tháng 7 năm 2024). "Đã hơn 600 ngày không có bão đổ bộ nước ta". Báo điện tử VTV. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2025.
  7. Thục Hân (ngày 23 tháng 7 năm 2024). "Những điểm trùng hợp của 3 chuỗi hơn 600 ngày không có bão ở nước ta". Hoa Học Trò (chuyên trang Báo Tiền Phong). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2025.
  8. 1 2 Nguyễn Văn Tuyên 1986, tr. 26
  9. 1 2 3 4 温克刚 (chủ biên); 吴岩峻 (chủ biên tập Hải Nam) (2008). 中国气象灾害大典: 海南卷 [Tuyển tập về thiên tai khí tượng tại Trung Quốc: tập Hải Nam] (bằng tiếng Trung). 气家出版社 [Nhà xuất bản khí tượng]. tr. 60.
  10. 1 2 "白沙县农业气象灾害性气候变化及影响分析" [Phân tích biến đổi khí hậu thiên tai và ảnh hưởng đến nông nghiệp tại huyện Bạch Sa]. Thông tin Khoa học và Công nghệ (bằng tiếng Trung). Trung Quốc. 2011. tr. 133–134. doi:10.3969/j.issn.1672-3791.2011.34.113. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
  11. Tổng cục KTTV Việt Nam (ngày 15 tháng 11 năm 2024). "MEMBER REPORT - SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM - ESCAP/WMO Typhoon Committee 19th Integrated Workshop" (PDF). Ủy ban Bão Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP/WMO Typhoon Committee) - Phiên họp lần thứ 19 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2024. Website Hội thảo Lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Wayback Machine
  12. Nguyễn Đức Ngữ 1998, tr. 53
  13. Phạm Vũ Anh 1987, tr. 7-13
  14. Nhiều tác giả 2007, tr. 20
  15. Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu 2013, tr. 104
  16. Nhiều tác giả 2018, tr. 29
  17. "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 qua Typhoon Committee.
  18. Nguyễn Hữu Lượng 1987, tr. 13
  19. Lê Văn Thảo 1983, tr. 18
  20. Lê Văn Thảo 1996, tr. 28
  21. Nhiều tác giả 2014, tr. 25
  22. Ngô Văn Khóa. "Tổng kết ảnh hưởng của xoáy thuận nhiệt đới đến nước ta trong 5 năm (1976-1980)" (PDF). Tạp chí Khí tượng thủy văn. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
  23. 1 2 Từ Mạo và cộng sự (1992). "Phụ lục 4: Tình hình thiệt hại do bão gây ra ở nước ta" (PDF). Chương trình 06B–Đề tài 06B-03-01. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
  24. "Đặc điểm khí hậu - khí tượng thủy văn khu vực Hải Phòng". Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024.
  25. Nguyễn Đăng Khoa 1993, tr. 22
  26. Nguyễn Xuân Hiển, Nguyễn Văn Thắng, Trần Thục, Nguyễn Văn Hiệp, Huỳnh Thị Lan Hương, Mai Văn Khiêm 2017, tr. 36–44
  27. "Báo cáo đánh gía tác động môi trường Dự án đầu tư xây dựng công trình cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng giai đoạn 2010-2015" (PDF). Ban quản lý dự án hàng hải II - Cục Hàng Hải Việt Nam & Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JJCA). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024.
  28. "Từng bước đổi mới phương tiện đo và đào tạo cán bộ, góp phần nâng cao chất lượng quan trắc thời tiết và khí hậu" (PDF). Tạp chí Khí tượng thủy văn. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024.
  29. 1 2 Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu 2013, tr. 104
  30. "Kế hoạch phòng chống thiên tai tỉnh Hải Dương" (PDF). Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương. ngày 20 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2025.
  31. "Đê Hải Phòng "lung lay" trước mùa mưa bão". Báo Công an nhân dân. ngày 27 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.

Đọc thêm Bão Sarah (1977)