Bước tới nội dung

Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tranh biếm họa chú hề vàng đang phân phát tin tức sốt dẻo đến độc giả

Trong các lĩnh vực nghiên cứu truyền thông, truyền thông đại chúng, tâm lý học truyền thông, lý thuyết truyền thông, truyền thông chính trị và xã hội học thì Ảnh hưởng của truyền thông (Media influence) và Hiệu ứng truyền thông (Media effect) là những chủ đề liên quan đến tác động của phương tiện truyền thông đại chúngvăn hóa truyền thông đối với suy nghĩ, thái độhành vi của các cá nhân hoặc khán giả, độc giả. Thông qua các kênh viết, truyền hình hoặc nói, phương tiện truyền thông đại chúng tiếp cận được lượng lớn khán giả. Vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng trong việc định hình văn hóa hiện đại là một vấn đề trọng tâm đối với việc nghiên cứu văn hóa.[1] Ảnh hưởng của truyền thông là sức mạnh thực tế được tạo ra từ một thông điệp truyền thông, dẫn đến sự thay đổi niềm tin hoặc củng cố niềm tin của khán giả hoặc cá nhân.[2] Việc một thông điệp truyền thông có tác động đến bất kỳ thành viên nào trong khán giả của nó hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nhân khẩu học của khán giả và các đặc điểm tâm lý. Những tác động này có thể là tích cực hoặc tiêu cực, đột ngột hoặc từ từ, ngắn hạn hoặc lâu dài. Không phải tất cả các tác động đều dẫn đến sự thay đổi; một số thông điệp truyền thông củng cố một niềm tin hiện có. Các nhà nghiên cứu khảo sát khán giả sau khi tiếp xúc với phương tiện truyền thông để tìm kiếm những thay đổi trong nhận thức, hệ thống niềm tin và thái độ, cũng như các tác động về mặt cảm xúc, sinh lý và hành vi.

Đại cương Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng (hoặc hiệu ứng truyền thông) được quan sát thấy trong nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống con người, từ hành vi bỏ phiếu[3] đến nhận thức về bạo lực,[4][5] từ những đánh giá về các nhà khoa học[6] đến sự hiểu biết của chúng ta về ý kiến của người khác.[7] Tác động tổng thể của truyền thông đại chúng đã thay đổi đáng kể qua nhiều năm và sẽ tiếp tục như vậy khi bản thân truyền thông phát triển.[8] Trong môi trường truyền thông mới, người ta có danh tính kép gồm người tiêu dùng và người sáng tạo. Người ta không chỉ tiếp nhận thông tin thông qua phương tiện truyền thông mới, mà còn phổ biến thông tin đến đông đảo khán giả.[9][10][11] Hơn nữa, ảnh hưởng của truyền thông đến sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ em rất sâu sắc. Do đó, điều quan trọng là các bác sĩ phải thảo luận với cha mẹ về mức độ tiếp xúc với truyền thông của con cái họ và cung cấp hướng dẫn về việc sử dụng phù hợp với lứa tuổi đối với bất kỳ phương tiện truyền thông nào, bao gồm truyền hình, đài phát thanh, âm nhạc, trò chơi điện tửInternet.[12]

Có một số nghiên cứu học thuật giải quyết vấn đề về truyền thông và các tác động của nó. Bryant và Zillmann định nghĩa các hiệu ứng truyền thông là "tác động xã hội, văn hóa và tâm lý của việc giao tiếp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng".[13] Elizabeth Perse cho biết các nhà nghiên cứu hiệu ứng truyền thông nghiên cứu "cách kiểm soát, nâng cao hoặc giảm thiểu tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với các cá nhân và xã hội".[14] Annie Lang tuyên bố các nhà nghiên cứu hiệu ứng truyền thông nghiên cứu "loại nội dung nào, trong loại phương tiện truyền thông nào, ảnh hưởng đến những người nào, trong những tình huống nào".[15] McLuhan chỉ ra trong lý thuyết sinh thái truyền thông rằng: "Bản thân phương tiện truyền thông là thông điệp".[16] Các nghiên cứu về hiệu ứng truyền thông đã trải qua một số giai đoạn, được gọi là các mô hình (paradigm) hiệu ứng truyền thông,[17] thường tương ứng với sự phát triển của các công nghệ truyền thông đại chúng. Trong suốt đầu thế kỷ XX, các công nghệ truyền thông đại chúng đang phát triển, chẳng hạn như đài phát thanh và điện ảnh, được cho là có sức mạnh gần như không thể cưỡng lại để uốn nắn niềm tin, nhận thức và hành vi của khán giả theo ý chí của người truyền đạt.[18][19] Kết hợp với môi trường xã hội và công nghệ, các lý thuyết về hiệu ứng truyền thông ban đầu tuyên bố rằng các phương tiện truyền thông đại chúng là toàn năng.[20]

Cơ chế Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Các nhà nghiên cứu, bao gồm cả Lazarsfeld, đã phát hiện ra các bằng chứng thực nghiệm ngày càng tăng về bản chất đặc trưng của các tác động của phương tiện truyền thông đối với các cá nhân và khán giả, xác định vô số các biến can thiệp chẳng hạn như các thuộc tính nhân khẩu học, các yếu tố tâm lý xã hội, mối quan tâm chính trị và các hành vi sử dụng phương tiện truyền thông khác nhau. Với những biến mới này được thêm vào nghiên cứu, rất khó để cô lập ảnh hưởng của phương tiện truyền thông dẫn đến bất kỳ hiệu ứng truyền thông nào đối với nhận thức, thái độ và hành vi của khán giả. Như Berelson đã tóm tắt trong một kết luận được trích dẫn rộng rãi: "Một số loại hình giao tiếp về một số loại vấn đề đã thu hút sự chú ý của một số loại người trong một số loại điều kiện có một số loại hiệu ứng".[21] Mặc dù khái niệm về một phương tiện truyền thông đại chúng toàn năng đã bị pha loãng, điều này không xác định rằng phương tiện truyền thông thiếu ảnh hưởng hoặc hiệu ứng. Thay vào đó, cấu trúc sẵn có của các mối quan hệ xã hội và bối cảnh văn hóa được tin là chủ yếu định hình hoặc thay đổi ý kiến, thái độ và hành vi của mọi người, và các phương tiện truyền thông chỉ đơn thuần hoạt động trong các quá trình đã được thiết lập này. Sự phức tạp này có tác dụng làm nản lòng các nghiên cứu về hiệu ứng truyền thông.[20] Ở cấp độ vi mô, các cá nhân có thể bị ảnh hưởng theo sáu cách khác nhau:

  • Nhận thức: Tác động rõ ràng và có thể đo lường nhất, bao gồm bất kỳ thông tin, ý nghĩa hoặc thông điệp mới nào thu được thông qua việc tiêu thụ phương tiện truyền thông. Các tác động nhận thức vượt ra ngoài việc tiếp thu kiến thức: các cá nhân có thể xác định các khuôn mẫu, kết hợp các nguồn thông tin và suy luận thông tin thành các hành vi mới.
  • Niềm tin: Một người không thể xác thực mọi thông điệp truyền thông đơn lẻ, tuy nhiên có thể chọn tin vào nhiều thông điệp, ngay cả về những sự kiện, con người, địa điểm và ý tưởng mà họ chưa bao giờ tận mắt trải qua.
  • Thái độ: Thông điệp truyền thông, bất kể có chủ ý hay không, thường kích hoạt những phán xét hoặc thái độ về các chủ đề được trình bày.
  • Cảm xúc: Đề cập đến bất kỳ tác động cảm xúc nào, tích cực hoặc tiêu cực, đối với một cá nhân từ việc tiếp xúc với truyền thông.
  • Sinh lý: Nội dung truyền thông có thể kích hoạt một phản ứng vật lý tự động, thường biểu hiện ở phản ứng chiến đấu hay bỏ chạy hoặc đồng tử giãn ra.
  • Hành vi: Các nhà nghiên cứu đo lường phản ứng rõ ràng và sự gắn kết của một cá nhân với nội dung truyền thông, ghi nhận bất kỳ sự thay đổi hoặc củng cố nào trong các hành vi.[10]

Vào đầu những năm 1970, các lý thuyết bổ sung đã củng cố mô hình hiệu ứng truyền thông mạnh mẽ, bao gồm Elisabeth Noelle-Neumann, người đã giới thiệu Vòng xoắn im lặng, và George Gerbner, người đã tiến hành một loạt các nghiên cứu phát triển Thuyết nuôi dưỡng. Trong đó, Lý thuyết khoảng cách tri thức (Knowledge-gap theory) nêu rõ ảnh hưởng lâu dài của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với tình trạng kinh tế xã hội của mọi người với giả thuyết rằng "khi sự lan truyền của thông tin truyền thông đại chúng vào một hệ thống xã hội ngày càng tăng, các phân khúc có tình trạng kinh tế xã hội cao hơn có xu hướng tiếp thu thông tin này nhanh hơn các phân khúc dân số có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn, khiến khoảng cách tri thức giữa hai nhóm tăng lên thay vì giảm đi".[22] Các lý thuyết tiêu biểu bao gồm:

Lập kịch bản

Thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-setting theory): Mô tả cách lựa chọn chủ đề và tần suất đưa tin của các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến tầm quan trọng được nhận thức của các chủ đề cụ thể trong công chúng. Nói cách khác, phương tiện truyền thông đại chúng cho công chúng biết phải nghĩ về điều gì. Có hai lĩnh vực chính của thiết lập chương trình nghị sự truyền thông: (i) truyền thông cho chúng ta biết về các tin tức và (ii) truyền thông cho chúng ta biết phải nghĩ gì về các tin tức. Việc báo chí đưa tin gửi đi những tín hiệu cho khán giả về tầm quan trọng của các vấn đề được đề cập, trong khi việc thiết lập khung tin tức xui khiến những người xem không nghi ngờ phải đưa ra một phản ứng cụ thể. Ngoài ra, những tin tức không được báo chí đưa tin thường tiêu tan, không chỉ vì nó thiếu đi một phương tiện truyền thông đại chúng, mà còn vì các cá nhân có thể không bày tỏ mối quan tâm của họ vì sợ bị tẩy chay. Điều này càng tạo ra hiệu ứng vòng xoắn im lặng.

Định khung

Thiết lập khung (Framing): Xác định khả năng của truyền thông trong việc thao túng sự diễn giải của khán giả về một thông điệp truyền thông thông qua việc kiểm soát cẩn thận các góc độ, sự thật, ý kiến và số lượng tin tức. Truyền thông cho khán giả biết cách phải nghĩ như thế nào. Các hãng tin tức có thể tác động đến dư luận bằng cách kiểm soát các biến số trong việc trình bày tin tức. Những người thu thập tin tức sàng lọc các sự thật để nhấn mạnh một góc độ nhất định. Phương pháp trình bày, chẳng hạn như thời gian phát sóng, mức độ đưa tin và lựa chọn phương tiện tin tức cũng có thể thiết lập khuôn khổ cho thông điệp, điều này có thể tạo ra, thay thế hoặc củng cố một quan điểm nhất định trong một khán giả.

Entman mô tả việc thiết lập khung là "quá trình chọn lọc một vài yếu tố của thực tế được nhận thức và lắp ráp một câu chuyện kể làm nổi bật các mối liên hệ giữa chúng nhằm thúc đẩy một cách diễn giải cụ thể". Không chỉ phương tiện truyền thông xác định "nguyên nhân của các vấn đề" được cho là, nó còn có thể "khuyến khích những phán xét đạo đức" và "thúc đẩy các chính sách được ủng hộ".[8][23] Một hệ quả lâu dài của việc thiết lập khung, nếu các phương tiện truyền thông báo cáo tin tức với một khuynh hướng thiên vị nhất quán, là nó có thể cung cấp một bàn tay giúp sức cho các thể chế tư tưởng bao trùm nhất định và các thực thể liên quan. Nó có thể củng cố chủ nghĩa tư bản, chế độ phụ quyền, chủ nghĩa dị tính (heterosexism), chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng và đặc quyền của người da trắng.[24] Một số người đưa ra lý thuyết rằng sự thiên vị này có thể củng cố các đảng phái chính trị ủng hộ những mô hình tư duy này, mặc dù cần có thêm nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh cho những tuyên bố này.[23]

Nuôi dưỡng

Ông Volodymyr Zelenskyy được truyền thông phương Tây khắc họa như là vị "tổng thống thời chiến", đứng tuyến đầu trong cuộc chiến với Nga

Thuyết nuôi dưỡng: Khi một khán giả tương tác với các thông điệp truyền thông phổ biến và nhất quán, đặc biệt là trên truyền hình, họ sẽ suy luận thế giới được miêu tả đó sang thế giới thực. Không phải tất cả các hiệu ứng truyền thông đều là tức thời hoặc ngắn hạn. Gerbner (1969) đã tạo ra thuyết nuôi dưỡng lập luận rằng truyền thông nuôi dưỡng một "nhận thức tập thể về các yếu tố của sự tồn tại".[25] Nếu khán giả tiếp xúc với các chủ đề và cốt truyện lặp đi lặp lại, theo thời gian, họ có thể mong đợi những chủ đề và cốt truyện này sẽ được phản chiếu trong đời sống thực.[8]

Vòng im lặng

Vòng xoắn im lặng: Các cá nhân nhận thấy ý kiến của họ thuộc về thiểu số sẽ ít có khả năng lên tiếng hơn do sợ bị cô lập xã hội, điều này đổi lại khiến những người khác có cùng ý kiến cũng tránh lên tiếng. Vào cuối những năm 1970, các nhà nghiên cứu đã xem xét vai trò của truyền thông trong việc định hình các thực tại xã hội, còn được gọi là "chủ nghĩa kiến tạo xã hội" (Social constructivism)[18][26] Các cá nhân không muốn chia sẻ hoặc khuếch đại một số thông điệp nhất định vì sợ bị cô lập xã hội và sẵn sàng tự kiểm duyệt. Khi áp dụng cho các nghiên cứu về hiệu ứng truyền thông, một số cá nhân có thể giấu nhẹm đi ý kiến của họ nếu các phương tiện truyền thông không xác thực tầm quan trọng của họ hoặc quan điểm của họ. Vòng xoắn im lặng này cũng có thể áp dụng cho các cá nhân trong giới truyền thông, những người có thể kiềm chế việc xuất bản nội dung truyền thông gây tranh cãi có thể thách thức hiện trạng.[27]

Sàng lọc

Các hãng truyền thông lập luận rằng chức năng gác cổng (Gatekeeping) hay việc sàng lọc tin tức vốn có thể dẫn đến việc thiết lập chương trình nghị sự và thiết lập khung cụ thể, là điều không thể tránh khỏi. Với một lượng thông tin vô tận, gần như vô hạn, việc sàng lọc sẽ diễn ra theo mặc định. Các nhóm văn hóa nhỏ (Subculture) trong các tổ chức tin tức xác định loại nội dung được xuất bản, trong khi các biên tập viên và các cá nhân khác trong tổ chức tin tức sàng lọc các thông điệp để tuyển chọn nội dung cho đối tượng mục tiêu của họ.[28] Sự trỗi dậy của truyền thông kỹ thuật số, từ các blog đến mạng xã hội, đã làm thay đổi đáng kể vai trò gác cổng của truyền thông. Bên cạnh có nhiều cổng hơn, thì cũng có nhiều người gác cổng hơn. GoogleFacebook đều phục vụ nội dung cho người dùng của họ, chọn lọc thông qua hàng ngàn kết quả tìm kiếm và các bài đăng trên phương tiện truyền thông để tạo ra nội dung phù hợp với sở thích của người dùng.[29] Vào năm 2015, có tới 63% người dùng FacebookTwitter đã tìm thấy tin tức trên nguồn cấp dữ liệu của họ, tăng từ mức 57% vào năm trước.[30]

Với rất nhiều "cổng" hoặc đầu ra, tin tức lan truyền mà không cần đến sự trợ giúp của các mạng lưới truyền thông lâu đời. Trên thực tế, người dùng trên mạng xã hội có thể đóng vai trò là người kiểm tra đối với phương tiện truyền thông, thu hút sự chú ý vào sự thiên vị hoặc các sự thật không chính xác. Ngoài ra còn có một mối quan hệ cộng sinh giữa người dùng mạng xã hội và báo chí: các nhà báo trẻ sử dụng mạng xã hội để theo dõi các chủ đề thịnh hành.[29] Các hãng truyền thông truyền thống, cùng với các hãng tin tức chỉ hoạt động trực tuyến mới hơn, phải đối mặt với những thách thức to lớn. Sự đa dạng của các hãng tin tức kết hợp với việc thu hẹp quy mô sau cuộc suy thoái năm 2008 khiến việc đưa tin trở nên bận rộn hơn bao giờ hết. Một nghiên cứu cho thấy các nhà báo viết khoảng 4,5 bài báo mỗi ngày. Các công ty quan hệ công chúng (PR) đã bắt đầu đóng một vai trò ngày càng tăng trong việc tạo ra tin tức. "Có tới 41% các bài báo và 52% các bản tin phát sóng chứa các tài liệu PR đóng vai trò thiết lập chương trình nghị sự hoặc nơi tài liệu PR chiếm phần lớn câu chuyện".[31] Các câu chuyện thường được hối hả đem đi xuất bản và được chỉnh sửa sau đó, mà không "trải qua toàn bộ quy trình báo chí". Tuy nhiên, khán giả vẫn tìm kiếm nội dung chất lượng—hãng tin nào có thể đáp ứng được nhu cầu này có thể giành được khoảng chú ý (attention span) hạn hẹp của người xem hiện đại.[29]

Môi trường mạng Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Ngay từ những năm 1970, đã xuất hiện nghiên cứu về tác động của hành vi cá nhân hoặc nhóm trong môi trường qua trung gian máy tính.[18] Internet được áp dụng rộng rãi cho mục đích cá nhân vào những năm 1990, qua đó mở rộng thêm các nghiên cứu về CMC. Các lý thuyết chẳng hạn như xử lý thông tin xã hội (Walther, 1992)[32] và mô hình nhận dạng xã hội/phi cá nhân hóa (Social identification/deindividuation - SIDE). Postmes và cộng sự[33] đã nghiên cứu tác động của CMC đến hành vi của người dùng, so sánh những tác động này với các hiệu ứng của giao tiếp trực tiếp. Cùng với sự xuất hiện của nội dung do người dùng tạo động trên các trang web và nền tảng mạng xã hội, kết quả nghiên cứu thậm chí còn có lợi hơn cho các nghiên cứu về CMC. Ví dụ, Valkenburg và Peter đã phát triển giả thuyết tự bộc lộ bản thân được tăng cường bởi internet ở thanh thiếu niên, tuyên bố rằng các nền tảng mạng xã hội chủ yếu được sử dụng để duy trì tình bạn ngoài đời thực của những người trẻ tuổi. Do đó, việc sử dụng phương tiện truyền thông này có thể củng cố những tình bạn đó.[34]

Các công nghệ CMC mới đang phát triển với tốc độ chóng mặt, đòi hỏi các lý thuyết mới về hiệu ứng truyền thông.[20] Truyền thông mới và các công nghệ web, bao gồm cả phương tiện truyền thông xã hội, đang buộc các học giả về truyền thông phải suy nghĩ lại về các mô hình hiệu ứng truyền thống (Bennett và Iyengar, 2008).[35] Cùng với sự thay đổi của môi trường truyền thông và hành vi đang tiến hóa của khán giả, một số người cho rằng mô hình (paradigm) hiện tại cho nghiên cứu hiệu ứng truyền thông là mô hình hiệu ứng dựa trên sở thích (Cacciatore, Scheufele & Iyengar, 2016).[36] Mô hình này được gọi là sự củng cố dựa trên sở thích (Preference-based reinforcement) bởi vì môi trường tin tức trực tuyến ngày càng phân mảnh đã khớp nối nội dung với khán giả dựa trên niềm tin và sở thích hiện tại của họ.[36] Điều này được thúc đẩy bởi ba hiện tượng:

  • Các cơ quan truyền thông, hãng thông tấn ngày càng được điều chỉnh để hướng tới các công chúng bị phân mảnh theo ý thức hệ hẹp nhằm tạo ra các môi trường quảng cáo sinh lợi hơn.[37]
  • Các cá nhân dựa vào thông tin tự chọn lọc phù hợp với niềm tin trước đó của họ được tổng hợp thành các nguồn cấp dữ liệu (feed) được cá nhân hóa, được gọi là "buồng vang thông tin" hoặc "bong bóng lọc"[38]
  • Các giao diện truyền thông mới, chẳng hạn như kết quả được tinh chỉnh từ các công cụ tìm kiếm, dẫn đến việc điều chỉnh thông tin hẹp do đầu vào người dùng cả tự nguyện và không tự nguyện.[39]

Kích mồi là một khái niệm bắt nguồn từ một mô hình mạng lưới trí nhớ được sử dụng trong tâm lý học nhận thức. Trong mô hình này, thông tin được lưu trữ thành các điểm nút được nhóm lại với các điểm nút có liên quan thông qua các đường dẫn liên kết. Nếu một nút được kích hoạt, các nút lân cận cũng được kích hoạt. Điều này được gọi là sự kích hoạt lan truyền (spreading activation) hay hiện tượng lan truyền. Hoạt động kích mồi (priming) xảy ra khi một nút được kích hoạt, khiến các nút có liên quan ở trạng thái chờ sẵn cho khả năng kích hoạt. Cả cường độ và khoảng thời gian trôi qua kể từ thời điểm kích hoạt đều quyết định sức mạnh và thời gian tồn tại của hiệu ứng kích mồi.[20] Trong các nghiên cứu về hiệu ứng truyền thông, Kích mồi là cách thức mà việc tiếp xúc với truyền thông có thể làm thay đổi thái độ, hành vi hoặc niềm tin của một cá nhân. Hầu hết các nghiên cứu về bạo lực truyền thông, một lĩnh vực thảo luận phổ biến trong các nghiên cứu về hiệu ứng truyền thông, đưa ra giả thuyết rằng việc tiếp xúc với các hành vi bạo lực có thể kích mồi một cá nhân để hành xử hung hăng hơn trong khi sự kích hoạt vẫn còn nán lại.[8]

Bạo lực truyền thông Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Những tác động của bạo lực truyền thông đối với các cá nhân đã có nhiều thập kỷ nghiên cứu, bắt đầu từ những năm 1920. Trẻ em và thanh thiếu niên, được coi là những người tiêu dùng truyền thông dễ bị tổn thương, thường là mục tiêu của các nghiên cứu này. Hầu hết các nghiên cứu về bạo lực truyền thông xoay quanh các danh mục truyền thông là truyền hình và những tranh cãi về trò chơi điện tử. Sự trỗi dậy của ngành công nghiệp điện ảnh, cùng với những tiến bộ trong khoa học xã hội, đã thúc đẩy các nghiên cứu của Quỹ Payne. Mặc dù chất lượng của nghiên cứu đã bị đặt dấu hỏi, một trong những phát hiện cho thấy vai trò trực tiếp giữa các bộ phim miêu tả thanh thiếu niên phạm pháp và các hành vi phạm pháp ở thanh thiếu niên. Wertham (1954) sau đó đã cho rằng sách truyện tranh ảnh hưởng đến trẻ em dẫn đến các hành vi phạm pháp, cung cấp những thế giới quan sai lầm và làm giảm trình độ học vấn trong cuốn sách của ông Sự quyến rũ của những người vô tội (Seduction of the Innocent). Nghiên cứu này quá thiếu chính thức để đạt được một phán quyết rõ ràng, và một nghiên cứu gần đây cho thấy thông tin đã bị bóp méo và thậm chí bị làm giả, tuy nhiên nó đã dẫn đến sự phản đối kịch liệt của công chúng dẫn đến nhiều tạp chí truyện tranh bị ngừng xuất bản.[40] Sự phổ biến của truyền hình vào những năm 1950 đã tạo ra nhiều mối lo ngại hơn. Kể từ đó, các nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về một số tác động.

Tác động nhận thức bao gồm niềm tin gia tăng về khả năng xảy ra bạo lực trong thế giới thực từ việc xem nội dung truyền thông bạo lực dẫn đến lo lắng về an toàn cá nhân.[41] Tác động hành vi bao gồm sự giải phóng ức chế, sự bắt chước và sự giải mẫn cảm. Sự giải phóng ức chế (Disinhibition) cho rằng việc tiếp xúc với phương tiện truyền thông bạo lực có thể hợp pháp hóa việc sử dụng bạo lực. Đã tìm thấy sự ủng hộ trong nhiều thí nghiệm được kiểm soát cẩn thận. Trong một nghiên cứu, những người đàn ông tiếp xúc với nội dung khiêu dâm bạo lực được phát hiện có hành vi hung hăng hơn đối với phụ nữ trong một số trường hợp nhất định.[42] Lý thuyết bắt chước (Imitation theory) cho rằng các cá nhân có thể học bạo lực từ các nhân vật truyền hình. Thí nghiệm búp bê Bobo của Albert Bandura, cùng với các nghiên cứu khác, dường như chỉ ra mối tương quan ngay cả khi kiểm soát sự khác biệt của từng cá nhân.[43] Sự giải mẫn cảm (Desensitization) là sự quen dần của một cá nhân với bạo lực thông qua việc tiếp xúc với nội dung truyền thông bạo lực, thường dẫn đến những hệ lụy trong đời thực. Các nghiên cứu đã đề cập đến bạo lực cả trên truyền hình và trong trò chơi điện tử.[44] Sự giải mẫn cảm đã trở thành một vấn đề đối với các bộ phim chuyển thể của Hollywood liên quan đến tội ác. Rất dễ để một nhà sản xuất phim quá đắm chìm vào việc làm cho bộ phim của họ trông có tính nghệ thuật đến mức họ bắt đầu làm cho khán giả của mình trở nên thờ ơ với sự kinh hoàng thực sự đang diễn ra trên màn ảnh.[45]

Ảnh hưởng chính trị Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Truyền thông phương Tây ủng hộ Ukraina và công kích Putin

Truyền thông chính trị hay chính trị và phương tiện truyền thông đại chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, vì phương tiện truyền thông đại chúng đóng một vai trò trong việc định hình dư luận xung quanh các chủ đề và nhân vật chính trị. Phương tiện truyền thông đôi khi được gọi là nhánh quyền lực thứ tư của chính phủ ở các quốc gia dân chủ, hoặc quyền lực thứ tư vì vai trò của nó như một cơ quan giám sát các vấn đề chính trị cho công chúng.[46][47] Một nghiên cứu đã kết luận rằng mạng xã hội đang cho phép các chính trị gia được nhìn nhận là chân thực hơn, với một phát hiện quan trọng cho thấy cử tri cảm thấy các chính trị gia trung thực hơn trên mạng xã hội so với trong các cuộc phỏng vấn hoặc trên các chương trình truyền hình. Điều này mở ra một cơ sở cử tri mới cho các chính trị gia để trực tiếp thu hút sự ủng hộ.[48] Mặc dù phương tiện truyền thông mới cho phép có sự tương tác trực tiếp giữa cử trichính trị gia cũng như sự minh bạch trong chính trị, tiềm năng phá hoại thông tin trên quy mô rộng này lại đặc biệt có hại cho bối cảnh chính trị. Theo báo cáo năm 2018 của Ofcom thì có đến 64% người lớn nhận tin tức của họ từ internet và 44% từ mạng xã hội.[49] Các tính năng riêng biệt của mạng xã hội, chẳng hạn như lượt thích, lượt tweet lại (retweet) và lượt chia sẻ, cũng có thể xây dựng một buồng vang về mặt ý thức hệ với cùng một tin thật hoặc tin giả được lan truyền liên tục.[50]

Các phương tiện truyền thông đại chúng cũng thiết lập ảnh hưởng của mình giữa các thể chế quyền lực như cơ quan lập pháp. Thông qua sự đồng thuận thích hợp trong các phương tiện truyền thông để ủng hộ, các nhóm xã hội khác nhau có thể tác động đến quá trình ra quyết định liên quan đến sự an toàn của trẻ em, kiểm soát súng đạn. Có ba chức năng xã hội chính mà phương tiện truyền thông đại chúng thực hiện đối với các quyết định chính trị được nhà khoa học chính trị Harold Lasswell nêu ra: giám sát thế giới để báo cáo các sự kiện đang diễn ra, diễn giải ý nghĩa của các sự kiện, và quá trình xã hội hóa các cá nhân vào trong môi trường văn hóa của họ. Các phương tiện truyền thông đại chúng thường xuyên trình bày những thông tin mang tính quyết định về chính trị cho lượng khán giả khổng lồ và đồng thời cũng đại diện cho phản ứng của khán giả một cách nhanh chóng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Chính phủ hoặc những người ra quyết định chính trị có cơ hội hiểu rõ hơn về phản ứng thực sự từ công chúng đối với những quyết định mà họ đã đưa ra.[51] Lý thuyết hệ biến hóa thống trị cho thấy phương tiện truyền thông đại chúng có khả năng thiết lập sự thống trị bằng cách phản ánh ý kiến của giới tinh hoa xã hội, những người đồng thời cũng sở hữu và kiểm soát nó, được nhà xã hội học Todd Gitlin mô tả như một kiểu "sự quan trọng, tương tự như khái niệm sai lầm về quyền lực".[52] Bằng cách sở hữu, hoặc tài trợ cho một phương tiện truyền thông cụ thể, giới tinh hoa có khả năng thay đổi những gì mọi người nhận thức được từ việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. Edward S. Herman và Noam Chomsky khẳng đinh rằng có năm bộ lọc mà qua đó các phương tiện truyền thông tin tức thuộc truyền thông dòng chính của các tập đoàn Hoa Kỳ hoạt động:[53]

  • Quyền sở hữu (Ownership): Suy cho cùng, các công ty truyền thông đại chúng là những tập đoàn lớn đang cố gắng kiếm lợi nhuận vì vậy hầu hết các bài báo, tin tức của họ sẽ là bất cứ thứ gì mang lại cho họ nhiều tiền nhất.[54]
  • Quảng cáo (Advertising): Vì chi phí truyền thông đại chúng cao hơn nhiều so với những gì hầu hết người tiêu dùng sẵn sàng trả, các tập đoàn truyền thông đang bị thâm hụt. Để lấp đầy khoảng trống này, các nhà quảng cáo được sử dụng. Trong khi phương tiện truyền thông đang được bán cho người tiêu dùng, thì trên thực tế, những người tiêu dùng đó đang bị "bán" cho các nhà quảng cáo.[54]
  • Giới tinh hoa truyền thông (The media elite) hay trùm truyền thông: Theo bản chất của nó, báo chí không thể được quản lý hoàn toàn, vì vậy nó cho phép sự tham nhũng bởi các chính phủ, các tập đoàn và các tổ chức lớn biết cách "chơi khăm hệ thống".[54]
  • Sự chỉ trích gay gắt (Flak): Thật khó để một nhà báo đi chệch khỏi sự đồng thuận bởi vì nhà báo sẽ phải nhận "sự chỉ trích gay gắt". Khi một câu chuyện không phù hợp với câu chuyện kể của một thế lực, thế lực đó sẽ cố gắng làm mất uy tín các nguồn tin, bôi nhọ các câu chuyện và cố gắng đánh lạc hướng người đọc.[54]
  • Kẻ thù chung (The common enemy): Việc tạo ra một kẻ thù chung, một con ngáo ộp để khán giả tập hợp chống lại sẽ thống nhất dư luận.[54]

Chú thích Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

  1. Jacobs, Norman (ngày 1 tháng 1 năm 1992). Mass Media in Modern Society (bằng tiếng Anh). Transaction Publishers. ISBN 978-1-4128-2818-5.
  2. Thị Hương, Bùi (ngày 4 tháng 10 năm 2023). "Lịch sử và phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng (History and methods of studying the influence of mass media)". Học viện Báo chí và Tuyên truyền (in Vietnamese). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2025.
  3. Dellavigna, S.; Kaplan, E. (2007). "The Fox News Effect: Media Bias and Voting". The Quarterly Journal of Economics. 122 (3): 1187–1234. doi:10.1162/qjec.122.3.1187. S2CID 16610755. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  4. Di Tella, Rafael; Freria, Lucía; Gálvez, Ramiro H.; Schargrodsky, Ernesto; Shalom, Diego; Sigman, Mariano (2019). "Crime and violence: Desensitization in victims to watching criminal events". Journal of Economic Behavior & Organization. 159: 613–25. doi:10.1016/j.jebo.2017.10.005. hdl:11336/47668.
  5. Gerbner, George; Gross, Larry; Signorielli, Nancy; Morgan, Michael (1980). "Aging with Television: Images on Television Drama and Conceptions of Social Reality". Journal of Communication. 30 (1): 37–47. doi:10.1111/j.1460-2466.1980.tb01766.x. PMID 7372841. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  6. Gerbner, George (1987). Science on television : how it affects public conceptions. National Academy of Sciences. OCLC 557233261.
  7. Noelle-Neumann, Elisabeth (1974). "The Spiral of Silence a Theory of Public Opinion". Journal of Communication. 24 (2): 43–51. doi:10.1111/j.1460-2466.1974.tb00367.x. S2CID 59515037. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  8. 1 2 3 4 Valkenburg, Patti M.; Peter, Jochen; Walther, Joseph B. (ngày 4 tháng 1 năm 2016). "Media Effects: Theory and Research". Annual Review of Psychology. 67 (1): 315–338. doi:10.1146/annurev-psych-122414-033608. PMID 26331344. S2CID 11875375.
  9. Guerrero-Solé, Frederic; Sala, Mónica Terribas; Pinsach, Josep Gifreu (ngày 17 tháng 4 năm 2018). "People on Media Effects. An Exploratory Study of People's Theorization on the Influence of Mass Media". Estudios sobre el Mensaje Periodístico (bằng tiếng Anh). 24 (1): 583–601. doi:10.5209/ESMP.59968. hdl:10230/35902. ISSN 1988-2696.
  10. 1 2 Media Effects (ấn bản thứ 60502). SAGE Publications, Inc. ngày 3 tháng 1 năm 2012. tr. 35–63. ISBN 9781412964692.
  11. King, Gary; Schneer, Benjamin; White, Ariel (ngày 10 tháng 11 năm 2017). "How the news media activate public expression and influence national agendas". Science (bằng tiếng Anh). 358 (6364): 776–780. Bibcode:2017Sci...358..776K. doi:10.1126/science.aao1100. hdl:1721.1/119647. ISSN 0036-8075. PMID 29123065. S2CID 4777225.
  12. "Impact of media use on children and youth". Paediatrics & Child Health. 8 (5): 301–306. ngày 1 tháng 5 năm 2003. doi:10.1093/pch/8.5.301. PMC 2792691. PMID 20020034.
  13. Perspectives on Media Effects. Routledge. ngày 1 tháng 9 năm 1989. tr. xiii. ISBN 9780805807219.
  14. Perse, Elizabeth M. (ngày 1 tháng 1 năm 2001). Media Effects and Society. Routledge. tr. ix. ISBN 9781135686796.
  15. Lang, Annie (tháng 2 năm 2013). "Discipline in Crisis? The Shifting Paradigm of Mass Communication Research: Discipline in Crisis". Communication Theory. 23 (1): 10–24. doi:10.1111/comt.12000. S2CID 141693188.
  16. Em, Griffin (2014). A FIRST LOOK AT COMMUNICATION THEORY, NINTH EDITION. NY: McGraw-Hill Education. tr. 316. ISBN 978-0073523927.
  17. Cacciatore, Michael A.; Scheufele, Dietram A.; Iyengar, Shanto (ngày 2 tháng 1 năm 2016). "The End of Framing as we Know it … and the Future of Media Effects". Mass Communication and Society. 19 (1): 7–23. doi:10.1080/15205436.2015.1068811. ISSN 1520-5436. S2CID 31767132.
  18. 1 2 3 McQuail, Denis (ngày 12 tháng 3 năm 2010). McQuail's Mass Communication Theory. SAGE Publications. tr. 456–460. ISBN 9781849202923.
  19. Bauer, R.A. & Bauer, A. (1960). "America, mass society and mass media". Journal of Social Issues. 16 (3): 3–66. doi:10.1111/j.1540-4560.1960.tb00953.x.
  20. 1 2 3 4 McQuail, Denis (2010). McQuail's mass communication theory. London: SAGE Publications. tr. 458.
  21. Berelson, B. (1959). "The state of communication research". Public Opinion Quarterly. 23 (1): 1–2. doi:10.1086/266840.
  22. Tichenor, P. J.; Donohue, G. A.; Olien, C. N. (1970). "Mass Media Flow and Differential Growth in Knowledge". Public Opinion Quarterly. 34 (2): 159. doi:10.1086/267786.
  23. 1 2 Entman, Robert M. (tháng 3 năm 2007). "Framing Bias: Media in the Distribution of Power". Journal of Communication. 57 (1): 163–173. doi:10.1111/j.1460-2466.2006.00336.x. S2CID 43280110.
  24. Budd, Mike; Craig, Steve; Steinman, Clayton M. (ngày 1 tháng 1 năm 1999). Consuming Environments: Television and Commercial Culture. Rutgers University Press. tr. 175. ISBN 9780813525921.
  25. Gerbner, George (ngày 1 tháng 6 năm 1969). "Toward 'Cultural Indicators': The analysis of mass mediated public message systems". AV Communication Review. 17 (2): 137–148. doi:10.1007/BF02769102. S2CID 142611239.
  26. Gamson, W. & Modigliani, A. (1989). "Media discourse and public opinion on nuclear power, a constructivist approach" (PDF). American Journal of Sociology. 95: 1–37. doi:10.1086/229213. S2CID 144232602.
  27. Noelle-Neumann, Elisabeth (ngày 1 tháng 6 năm 1974). "The Spiral of Silence a Theory of Public Opinion". Journal of Communication. 24 (2): 43–51. doi:10.1111/j.1460-2466.1974.tb00367.x. S2CID 59515037.
  28. Shoemaker, Pamela J.; Vos, Timothy (ngày 10 tháng 9 năm 2009). Gatekeeping Theory. Routledge. ISBN 9781135860608.
  29. 1 2 3 Vos and Heinderyckx (ngày 28 tháng 4 năm 2015). Gatekeeping in Transition. Routledge. tr. 12, 175, 10, 115, 175, 110. ISBN 9780415731614.
  30. "New Pew data: More Americans are getting news on Facebook and Twitter". Nieman Lab. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2016.
  31. Lewis, Justin; Williams, Andrew; Franklin, Bob (2008). "A Compromised Fourth Estate?". Journalism Studies. 9 (1): 1–20. doi:10.1080/14616700701767974. S2CID 142529875.
  32. Walther, J. B. (1992). "Interpersonal effects in computer-mediated interaction: a relational perspective". Communication Research. 19: 52–90. doi:10.1177/009365092019001003. S2CID 145557658.
  33. Postmes T, Lea M, Spears R, Reicher SD (2000). SIDE Issues Centre Stage: Recent Developments in Studies of De-individuation in Groups. Amsterdam: KNAW.
  34. Valkenburg, Patti M.; Peter, Jochen (tháng 3 năm 2009). "The Effects of Instant Messaging on the Quality of Adolescents' Existing Friendships: A Longitudinal Study". Journal of Communication. 59 (1): 79–97. doi:10.1111/j.1460-2466.2008.01405.x. S2CID 83151183.
  35. Bennett, W. Lance; Iyengar, Shanto (tháng 12 năm 2008). "A New Era of Minimal Effects? The Changing Foundations of Political Communication". Journal of Communication. 58 (4): 707–731. doi:10.1111/j.1460-2466.2008.00410.x.
  36. 1 2 Cacciatore, Michael A.; Scheufele, Dietram A.; Iyengar, Shanto (ngày 2 tháng 1 năm 2016). "The End of Framing as we Know it … and the Future of Media Effects". Mass Communication and Society. 19 (1): 7–23. doi:10.1080/15205436.2015.1068811. S2CID 31767132.
  37. Wahl-Jorgensen, Karin; Hanitzsch, Thomas, biên tập (2009). The Handbook of Journalism Studies. doi:10.4324/9780203877685. ISBN 9781135592011.
  38. Shelley, Anne (ngày 8 tháng 6 năm 2012). "Book review of Eli Pariser. The filter bubble: What the Internet is hiding from you". First Monday. 17 (6). doi:10.5210/fm.v17i6.4100.
  39. Ladwig, Peter; Anderson, Ashley A.; Brossard, Dominique; Scheufele, Dietram A.; Shaw, Bret (tháng 5 năm 2010). "Narrowing the nano discourse?† †This material is based upon work supported by the National Science Foundation (Grant No. DMR-0832760). Any opinions, findings, and conclusions or recommendations expressed in this material are those of the authors and do not necessarily reflect the views of the National Science Foundation". Materials Today. 13 (5): 52–54. doi:10.1016/S1369-7021(10)70084-5.
  40. Tilley, Carol (2013). "Seducing the Innocent: Fredric Wertham and the Falsifications that Helped Condemn Comics". Information & Culture: A Journal of History. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016.
  41. Media Effects: Advances in Theory and Research. Routledge. ngày 3 tháng 1 năm 1994. tr. 184. ISBN 9780805809183.
  42. Malamuth, Neil (1981). "Rape Proclivity Among Males" (PDF). Journal of Social Issues. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2016.
  43. "Longitudinal relations between children's exposure to TV violence and their aggressive and violent behavior in young adulthood: 1977-1992". APA PsycNET. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016.
  44. Carnagey, Nicholas L.; Anderson, Craig A.; Bushman, Brad J. (ngày 1 tháng 5 năm 2007). "The effect of video game violence on physiological desensitization to real-life violence". Journal of Experimental Social Psychology. 43 (3): 489–496. CiteSeerX 10.1.1.112.7703. doi:10.1016/j.jesp.2006.05.003.
  45. Lovell, Jarret (Spring 2001). "Crime and popular culture in the classroom: Approaches and resources for interrogating the obvious". Journal of Criminal Justice Education. 12: 229–244. doi:10.1080/10511250100085141. S2CID 143843550.
  46. Felle, Tom (2015). "Digital watchdogs? Data reporting and the news media's traditional 'fourth estate' function". Journalism. 17 (1): 85–96. doi:10.1177/1464884915593246. S2CID 141616678 qua SAGE Journals.
  47. "List of books and articles about Politics and Mass Media". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020.
  48. Enli, G. and Rosenberg, L.T., 2018. Trust in the Age of Social Media: Populist Politicians Seem More Authentic. Social Media+ Society
  49. Ofcom report 'News consumption in the UK' Jigsaw research, 2017.
  50. Kumar, Srijan; Shah, Neil (ngày 23 tháng 4 năm 2018). "False Information on Web and Social Media: A Survey". arXiv:1804.08559 [cs.SI].
  51. Kapko, Matt (2016) (ngày 29 tháng 9 năm 2016). "How social media is shaping the 2016 presidential election". CIO. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  52. Gitlin, Todd (1978). "Media Sociology: The Dominant Paradigm". Theory and Society. 6 (2): 205–253. doi:10.1007/BF01681751. JSTOR 657009. S2CID 146993883.
  53. Chomsky, Noam (tháng 10 năm 2006). "Message from Noam Chomsky". Lingua. 116 (10): 1469. doi:10.1016/j.lingua.2006.06.001.
  54. 1 2 3 4 5 "Noam Chomsky: The five filters of the mass media". Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019.

Tham khảo Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

  • Adorno, Theodor (1973), The Jargon of Authenticity
  • Allan, Stuart (2004), News Culture
  • Barker, Martin, & Petley, Julian, eds (2001), Ill Effects: The media/violence debate – Second edition, London: Routledge
  • Carter, Cynthia, and Weaver, C. Kay, eds (2003), Violence and the Media, Maidenhead: Open University Press
  • Chomsky, Noam & Herman, Edward S. (1988, 2002). Manufacturing Consent: The Political Economy of the Mass Media. New York: Pantheon
  • Curran, J. & Seaton, J. (1988), Power Without Responsibility
  • Curran, J. & Gurevitch, M. (eds) (1991), Mass Media and Society
  • Durham, M. & Kellner, D. (2001), Media and Cultural Studies. UK: Blackwell Publishing
  • Fowles, Jib (1999), The Case for Television Violence, Thousand Oaks: Sage
  • Gauntlett, David (2005), Moving Experiences – Second Edition: Media Effects and Beyond, London: John Libbey
  • Grossberg, L., et al. (1998). Mediamaking: Mass media in a popular culture. CA: Sage Publications
  • Harris, J. L.; Bargh, J. A. (2009). "Television Viewing and Unhealthy Diet: Implications for Children and Media Interventions". Health Communication. 24 (7): 660–673. doi:10.1080/10410230903242267. PMC 2829711. PMID 20183373.
  • Habermas, J. (1962), The Structural Transformation of the Public Sphere
  • Horkheimer (1947), The Eclipse of Reason, Oxford University Press
  • Lang K & Lang G.E. (1966), The Mass Media and Voting
  • Lazarsfeld, Berelson and Gaudet (1944), The People's Choice
  • Mander, Jerry, "The Tyranny of Television", in Resurgence No. 165
  • McClure, S. M.; Li, J.; Tomlin, D.; Cypert, K. S.; Montague, L. M.; Montague, P. R. (2004). "Neural correlates of behavioral preference for culturally familiar drinks". Neuron. 44 (2): 379–387. doi:10.1016/j.neuron.2004.09.019. PMID 15473974. S2CID 15015392.
  • McCombs, M; Shaw, D.L. (1972). "The Agenda-setting Function of the Mass Media". Public Opinion Quarterly. 36 (2): 176–187. doi:10.1086/267990.
  • Nabi, Robin L., and Mary B. Oliver. The SAGE Handbook of Media Processes and Effects. SAGE, 2009.
  • Potter, W. James (1999), On Media Violence, Thousand Oaks: Sage
  • Powell, L. M.; Szczpka, G.; Chaloupka, F. J.; Braunschweig, C. L. (2007). "Nutritional content of television food advertisements seen by children and adolescents". Pediatrics. 120 (3): 576–583. doi:10.1542/peds.2006-3595. PMID 17766531. S2CID 9104763.
  • Riesman, David (1950), The Lonely Crowd
  • Robinson, T. N.; Borzekowsi, D. L.; Matheson, D. M.; Kraemer, H. C. (2007). "Effects of fast food branding on young children's taste preferences". Archives of Pediatrics and Adolescent Medicine. 161 (8): 792–797. doi:10.1001/archpedi.161.8.792. PMID 17679662.
  • Thompson, J. (1995), The Media and Modernity
  • Trenaman J., and McQuail, D. (1961), Television and the Political ImageMethuen

Liên kết ngoài Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng