Văn hóa truyền thông

Văn hóa truyền thông (Media culture) đề cập đến xã hội tư bản phương Tây hiện tại đã xuất hiện và phát triển trong thế kỷ XX dưới sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng.[1][2][3] Thuật ngữ này xuất hiện trong trong nghiên cứu truyền thông làm nổi bật tác động sâu rộng và ảnh hưởng trí tuệ của các phương tiện truyền thông, chủ yếu là truyền hình, nhưng cũng bao gồm cả báo chí, đài phát thanh và điện ảnh, đối với dư luận, thị hiếu và các giá trị. Thuật ngữ thay thế văn hóa đại chúng (Mass culture) gợi ý rằng nền văn hóa như vậy phát sinh một cách tự phát từ quần chúng, tương tự như sự phát triển của nghệ thuật đại chúng trước thế kỷ XX.[4] Tuy nhiên, thuật ngữ văn hóa truyền thông ngụ ý rằng nền văn hóa này phần lớn là sản phẩm của các phương tiện truyền thông đại chúng. Một thuật ngữ liên quan khác là văn hóa hình ảnh (Image culture), nhấn mạnh hơn nữa các khía cạnh trực quan và mang tính biểu tượng của ảnh hưởng truyền thông.[1][2] Văn hóa đại chúng và các phương tiện truyền thông đại chúng có một mối quan hệ cộng sinh: mỗi bên phụ thuộc vào bên kia trong một sự hợp tác mật thiết.[5]
Đại cương Văn hóa truyền thông

Hannah Arendt đã lập luận rằng một nền truyền thông do thị trường thúc đẩy sẽ dẫn đến việc văn hóa bị thay thế bởi các nhu cầu giải trí.[6] Tương tự, Susan Sontag cho rằng các giá trị bắt nguồn từ các ngành công nghiệp giải trí ngày càng thống trị văn hóa hiện đại, bình thường hóa các chủ đề nông cạn hoặc giật gân.[6] Báo chí ngày càng nhấn mạnh những tin đồn về người nổi tiếng và những câu chuyện giật gân thay vì những bài phóng sự quốc tế có chiều sâu.[6] Lịch phát sóng truyền hình hiện nay ưu tiên các chương trình phong cách sống chẳng hạn như các chương trình làm vườn và nấu ăn, thay thế cho sự tập trung vào các bộ phim truyền hình chất lượng cao.[6] Truyền hình thực tế và các vở opera xà phòng (soap opera) mang tính giải trí nhẹ nhàng đã gia tăng sự phổ biến, thu hút khán giả bằng nội dung xoay quanh những người nổi tiếng.[6] Sự thay đổi này đã được mô tả như là việc thay thế các tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao và các truyền thống dân gian chân thực bằng các mặt hàng được sản xuất hàng loạt được thiết kế để phục vụ cho những thị hiếu rộng rãi và đơn giản nhất.[6]
Gần đây hơn, các học giả nghiên cứu về sự phương tiện hóa (mediatization) văn hóa mô tả cách thức truyền thông ảnh hưởng đến các quá trình văn hóa. Truyền thông không chỉ đóng vai trò là những tạo tác văn hóa mà còn định hình các lĩnh vực khác, tích hợp sâu hơn nữa logic truyền thông vào các khía cạnh đa dạng của xã hội.[7] Việc tiếp thị đại chúng của văn hóa truyền thông đã được ví như vai trò của các tôn giáo truyền thống trong quá khứ.[8][9][10] Những làn sóng đam mê và sự hâm mộ quá mức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm đã được so sánh với các nghi lễ xuất thần của chủ nghĩa bái vật tôn giáo.[11][12] Ngược lại, Giáo hội Công giáo về sau đã được nhìn nhận như những ví dụ ban đầu của quan hệ công chúng, tiếp thị niềm tin của họ tới những người thờ phượng theo những cách tương tự như các chiến lược truyền thông hiện đại.[13][14] Văn hóa truyền thông, đặc biệt là thông qua quảng cáo và quan hệ công chúng, thường được xem như một hệ thống được thiết kế để gây ảnh hưởng và thao túng xã hội.[15] Truyền thông dòng chính hay truyền thông doanh nghiệp (Corporate media) thường xuyên phục vụ cho việc củng cố các hệ tư tưởng thống trị, như đã được Theodor Adorno đưa ra lý thuyết.[16][15] Mối liên hệ của văn hóa truyền thông với chủ nghĩa tiêu dùng đã khiến nó có cái tên thay thế là "văn hóa tiêu dùng".[1][3]
Tham khảo Văn hóa truyền thông
- Adorno, Theodor (1963) Culture Industry Reconsidered
- Bignell, Jonathan (2007) Postmodern Media Culture
- Debord, Guy (1977) [1967] The Society of the Spectacle, translation by Fredy Perlman and Jon Supak (Black & Red, 1970; rev. ed. 1977). Online at Library.nothingness.org (accessdate 2011-08-20)
- Debord, Guy (1994) [1967] The Society of the Spectacle, translation by Donald Nicholson-Smith (New York: Zone Books). Online at Cddc.vt.edu (accessdate 2011-08-20)
- Jansson, André (2002) The Mediatization of Consumption, Journal of Consumer Culture, March 2002 vol. 2 no. 1 5–31
- Nomai, Afsheen Joseph (2008) Culture Jamming: Ideological Struggle and the Possibilities for Social Change. Free pdf download available.
- Thoman, Elizabeth (1992) Rise of the Image Culture, in Media & Values, Issue# 57
- Thomas, P. L. (2012) Ignoring Poverty in the U.S. the Corporate Takeover of Public Education
- Duncan, Barry (1988). Mass Media and Popular Culture. Toronto, Ont.: Harcourt, Brace & Co. Canada. ISBN 0-7747-1262-7
Chú thích Văn hóa truyền thông
- 1 2 3 Jansson (2002)
- 1 2 Thoman (1992)
- 1 2 Thomas (2012) p.30 quotation:
Thế giới phương Tây thế kỷ XXI, được thúc đẩy bởi hệ tư tưởng doanh nghiệp và người tiêu dùng của Mỹ, là một nền văn hóa truyền thông vĩnh viễn phụ thuộc vào những đoạn trích dẫn âm thanh (Sound bite) và những thứ tiếp theo, khiến công chúng bị thu gọn thành những người tiêu dùng truyền thông không bao giờ được cho thời gian để suy ngẫm về thông tin. Khối lượng và tốc độ đã tiêu thụ và xóa bỏ sắc thái, đạo đức và tính chính xác.
- ↑ Adorno (1963) quotation:
...cách diễn giải dễ chịu đối với những người ủng hộ nó: rằng nó là vấn đề giống như một nền văn hóa phát sinh một cách tự phát từ chính quần chúng, hình thức nghệ thuật đại chúng đương đại.
- ↑ Shuker, Roy (1994). Understanding Popular Music, p. 4. ISBN 0-415-10723-7.
- 1 2 3 4 5 6 "Dumbing down". Nomuzak.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012.
- ↑ S. Hjarvard; L. N. Petersen (2013). "Mediatization and cultural change". MedieKultur. Số 54. tr. 1–7.
- ↑ từ Debord (1977) luận điểm 20: "Cảnh tượng là sự tái tạo vật chất của ảo tưởng tôn giáo".
- ↑ Debord (1967) luận điểm 25 về cảnh tượng và sự thiêng liêng
- ↑ Nomai (2008) p.176
- ↑ Debord (1977) Thesis 67
- ↑ từ Debord (1977) luận điểm 132: "Những bậc thầy lấy lịch sử làm tài sản riêng của họ, dưới sự bảo vệ của huyền thoại, trước hết sở hữu quyền sở hữu riêng về phương thức của ảo tưởng: ở Trung Quốc và Ai Cập, họ đã độc quyền nắm giữ sự bất tử của linh hồn trong một thời gian dài ... Sự phát triển sức mạnh lịch sử thực sự của họ đi cùng với sự phổ biến hóa quyền sở hữu huyền thoại và ảo tưởng."
- ↑ Ballardini, Bruno (2006) Gesù lava più bianco. Ovvero come la chiesa inventò il marketing. Bài đánh giá và đoạn trích .
- ↑ Ballardini, Bruno (2011) 'Gesù e i saldi di fine stagione. Perché la Chiesa non «vende» più. Bài đánh giá .
- 1 2 Bignell (2007) pp.21–2
- ↑ Nomai (2008) pp.5, 41