Bước tới nội dung

Đặc quyền nhan sắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tranh vẽ một nữ hầu gái có nhan sắc được các quý tộc xum xoe

Đặc quyền nhan sắc (Pretty privilege) hay là xu hướng những người được coi là hấp dẫn hơn, có nhan sắc hoặc "xinh đẹp" nhận được nhiều cơ hội, lợi ích, sự chú ý hoặc các đặc quyền khác hơn so với những người kém hấp dẫn hơn.[1] Hiện tượng này chính là lợi thế vẻ bề ngoài khả ái của một cá nhân, nó cũng chỉ sự ưu ái, cơ hội hoặc ưu thế mà những người có ngoại hình ưa nhìn và thu hút có thể nhận được từ xã hội so với những người khác không có lợi thế này. Khái niệm đặc quyền nhan sắc không có một người đề ra mà nó nảy sinh thông qua các cuộc thảo luận về nữ quyền trực tuyến xoay quanh việc phụ nữ được kỳ vọng phải trở nên hấp dẫn, phải đẹp hơn đặc biệt là so với nam giới.[2] Với sự gia tăng của các nền tảng mạng xã hội quy mô lớn tập trung vào ngoại hình cuốn hút và sự thảo luận nhiều hơn về động lực xã hội trên các nền tảng như TikTok, đặc quyền nhan sắc đã trở thành một thuật ngữ ngày càng phổ biến.[3] Đặc quyền nhan sắc có thể được nhìn thấy qua những tác động của nó đối với quỹ đạo sự nghiệp, sự chấp nhận của xã hội, hỗ trợ pháp lý và động lực giới tính.[4][5][6]

Đặc quyền hình thể

Đặc quyền hình thể (Body privilege) là một khái niệm được sử dụng để xem xét các lợi thế hoặc lợi ích về kinh tế, xã hội và chính trị dành cho cả nam và nữ chỉ dựa trên sự hấp dẫn ngoại hình. Thuật ngữ này được mượn từ ý tưởng của Peggy McIntosh về đặc quyền da trắng và phát triển thành ý tưởng rằng đặc quyền cũng có thể dựa trên kích thước cơ thể của một người. Samantha Kwan đã đặt ra thuật ngữ "đặc quyền hình thể" và giải thích cách nó ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của một số người. Ví dụ, trong một số trường hợp, cơ thể của một người được coi là chỉ số về trí thông minh của người đó. Cơ thể của một người cũng có thể là yếu tố quyết định trong các quyết định việc làm như tuyển dụng và thăng chức.[7] Tuy nhiên, một số người có thể nói rằng đặc quyền chỉ áp dụng trong những hoàn cảnh không thể thay đổi, chẳng hạn như chủng tộc hoặc giới tính, chứ không phải trong các trường hợp nằm dưới sự kiểm soát của người bị ảnh hưởng.

Thuật ngữ "đặc quyền hình thể" chỉ ra rằng có những lợi ích xã hội khi phù hợp với hình ảnh tiêu chuẩn. Mặc dù thuật ngữ này là một khái niệm tương đối mới, nhưng các khái niệm như kỳ thị béo phì và phân biệt kích cỡ đã có từ lâu. Về môi trường làm việc, Trung tâm Rudd thuộc Đại học Connecticut (UConn Rudd Center) nhận thấy rằng những nhân viên sở hữu các đặc điểm như trọng lượng cơ thể cao hơn thường phải đối mặt với "các hành vi tuyển dụng không công bằng, mức lương thấp hơn, ít cơ hội thăng tiến hơn, bị đồng nghiệp quấy rối và bị chấm dứt hợp đồng lao động một cách bất công".[8] Ngoài ra, Kwan cũng tuyên bố rằng sự hấp dẫn về thể chất là một yếu tố quyết định trong quá trình tuyển dụng. Những người được coi là hấp dẫn theo quy ước thường bị rập khuôn là những cá nhân thông minh hơn và được coi là những người có cuộc hôn nhân hạnh phúc hơn, và nhìn chung có cuộc sống tốt hơn.[7]

Hiệu ứng hào quang

Hiệu ứng hào quang (Halo effect) cho rằng ấn tượng tích cực về một đối tượng sẽ ảnh hưởng tích cực đến những ấn tượng khác của một người về đối tượng đó. Thuật ngữ này được giới thiệu lần đầu tiên bởi Edward Thorndike trong bài báo năm 1920 của ông có tựa đề "Một lỗi liên tục trong các đánh giá tâm lý" (A constant error in psychological ratings).[9] Nisbet & Wilson (1977) đã mở rộng cách hiểu về thuật ngữ này để bao gồm cả việc xu hướng tương tự cũng xảy ra khi con người là đối tượng.[10]

Định kiến ngoại hình

Định kiến về sự hấp dẫn ngoại hình cho rằng những người hấp dẫn thường được cho là có những phẩm chất đáng mơ ước, chẳng hạn như thông minh hoặc đáng tin cậy.[11] Các đặc điểm về địa vị xã hội những đặc điểm quan sát được về vẻ ngoài của ai đó như tuổi tác, giới tính, loại cơ thể hoặc chủng tộc sẽ xác định mức độ mà các cá nhân có quyền ra quyết định trong các nhóm, với những cá nhân được cho là hấp dẫn được trao nhiều ảnh hưởng hơn đối với các quyết định cuối cùng.[12]

Vốn tình dục

Vốn tình dục (Sexual capital) hay vốn quyến rũ đề cập đến giá trị xã hội và kinh tế tích lũy được bởi một cá nhân hoặc nhóm nhờ vào sự hấp dẫn tình dục và sự đáng khao khát của họ.[13] Vốn tình dục được xác định bởi các khía cạnh giao thoa của một người, bao gồm chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, tầng lớp và giới tính.[14]

Tác động

Sự nghiệp

Tác động của đặc quyền nhan sắc đối với các cơ hội nghề nghiệp đã được nghiên cứu rộng rãi trong giới học thuật. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều thông tin liên quan đến việc sự hấp dẫn được nhận thức ảnh hưởng như thế nào đến chiều hướng phát triển sự nghiệp. Những lợi ích của đặc quyền nhan sắc trong quỹ đạo sự nghiệp thường gắn liền với xu hướng gia tăng khả năng những người tìm việc hấp dẫn được tuyển dụng và nhận được tiền lương cao hơn.[11] Nhìn chung, có một mối tương quan dương giữa sự hấp dẫn về thể chất và cơ hội nhận được lời mời làm việc.[15] Watkins & Johnston phát hiện ra rằng những người hấp dẫn với hồ sơ xin việc ở mức trung bình có khả năng nhận được lời mời phỏng vấn cao hơn.[16] Hơn nữa, những cá nhân hấp dẫn kiếm được mức lương cao hơn trong suốt cuộc đời của họ so với những cá nhân kém hấp dẫn hơn.[4] Mobius & Rosenblat nhận thấy rằng các nhà tuyển dụng tiềm năng sẵn sàng tăng 10,5% mức lương đề nghị cho các cá nhân hấp dẫn khi tất cả các thông tin khác đều giống nhau.[11] Nghiên cứu sâu hơn đã xem xét nhận thức giữa các cá nhân về những người hấp dẫn trong số các đồng nghiệp, phát hiện ra rằng những nhân viên hấp dẫn có khả năng cao hơn được coi là có năng lực xã hội và được đề xuất cho một vai trò kế tiếp.[17] Ngoài ra, vốn xã hội mà những người hấp dẫn tích lũy được nhờ đặc quyền nhan sắc của họ có thể được sử dụng để thúc đẩy các mối quan hệ và cơ hội nghề nghiệp.[3]

Xã giao

Các cá nhân hấp dẫn được cung cấp các thuộc tính xã hội đáng mơ ước dựa trên ngoại hình của họ, họ có thể được coi là tự tin hơn, dễ mến hơn hoặc có sức thuyết phục hơn.[5] Các cá nhân hấp dẫn cũng được coi là đáng tin cậy hơn ngay từ ấn tượng đầu tiên.[18] Đối với những người bị coi là ngoại hình kém hấp dẫn, đặc quyền nhan sắc trong bối cảnh xã hội có thể gây ra những tác động bất lợi đến sức khỏe tâm thần và mức độ thành tựu.[19] Gupta và cộng sự (2015) kết luận rằng có một mối quan hệ tiêu cực giữa sự hấp dẫn về thể chất và trầm cảm/khổ đau. Cùng một nghiên cứu cũng kết luận rằng có một mối tương quan dương giữa sự hấp dẫn về thể chất và hạnh phúc tâm lý.[20]

Công quyền

Tại Hoa Kỳ, đặc quyền nhan sắc biểu hiện trong ba nhánh của chính phủ. Ở cấp độ tư pháp, phân tích các vụ án cho thấy sự hấp dẫn có thể ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của một quy trình hình sự.[21] Nghiên cứu đã tiết lộ rằng các bị cáo được coi là hấp dẫn ít có khả năng bị bắt giữ, ít có khả năng bị kết án và ít có khả năng nhận các bản án khắc nghiệt hơn.[22] Hơn nữa, sự hấp dẫn được nhận thức của luật sư đại diện cũng ảnh hưởng đến sự thuận lợi của vụ án, với những luật sư hấp dẫn hơn có mức độ thành công trong vụ án cao hơn.[23] Trong nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, sự hấp dẫn của các ứng cử viên có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của cử tri.[24]

Áp lực xã hội

Một cô gái có làn da sáng, một số nơi được xem là một đặc quyền da trắng

Đặc quyền nhan sắc tồn tại ở tất cả các giới tính phải đối mặt với vô số kỳ vọng và chuẩn mực xã hội giải thích lý do tại sao họ có thể nhận được những đặc quyền như vậy.[25] Trong xã hội đương đại, phụ nữ có xu hướng cảm nhận tác động (hoặc sự thiếu vắng) của đặc quyền nhan sắc một cách sâu sắc hơn (phải đẹp mới có quyền), vì phụ nữ thường bị vật thể hóa hơn và nắm giữ ít quyền lực xã hội hơn so với nam giới.[25] Hơn nữa, nghiên cứu đã chứng minh rằng phụ nữ dễ bị đánh giá qua sự hấp dẫn ngoại hình và các đặc điểm thể chất hơn nam giới, với sự nhấn mạnh vào ngoại hình này gắn liền với thái độ thù địch đối với phụ nữ và các hành vi phân biệt giới tính.[26][27] Các đặc điểm mang lại đặc quyền nhan sắc là khác nhau trên khắp thế giới và theo thời gian.[28]

Một số đặc điểm thường được coi là đáng mơ ước ở phụ nữ là khuôn mặt đối xứng, kích thước ngực lớn, đôi môi đầy đặn và tỷ lệ eo-hông lý tưởng.[29] Một số đặc điểm chung thường được coi là đáng mơ ước ở nam giới là chiều cao, sự dị hình khuôn mặt nam tính, sức mạnh thân trên và bờ vai rộng.[30][31] Từ góc độ xã hội, nội dung tự tin vào cơ thể (body positivity) trên mạng xã hội đã được chứng minh là ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe tâm thần của người dùng và giảm thiểu các định kiến về đặc quyền nhan sắc.[32] Một nhóm nghiên cứu nhỏ hơn cũng cho thấy rằng đặc quyền nhan sắc có thể tác động tiêu cực đến những người hấp dẫn, với xu hướng cao hơn cho rằng những cá nhân hấp dẫn là những người tự phụ, bất chấp các đánh giá tích cực khác.[33] Ngoài ra, Hamermesh (2011) cho rằng đặc quyền nhan sắc là một dạng năng suất xã hội, trong đó các đặc quyền được gán cho những người hấp dẫn nên được xem xét theo cùng một cách như các đặc điểm vốn có khác như trí thông minh, sức mạnh thể chất hoặc năng khiếu âm nhạc.[34]

Chú thích

  1. "Pretty Privilege | Applied Social Psychology (ASP)". sites.psu.edu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
  2. Yong, Sable (ngày 28 tháng 6 năm 2024). "Pretty People Really Do Have It Better". TIME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
  3. 1 2 "Pretty Privilege: A Deep Dive into Society's Beauty Standards". Society for Human Resource Management (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
  4. 1 2 Scholz, John Karl; Sicinski, Kamil (2015). "Facial Attractiveness and Lifetime Earnings: Evidence from a Cohort Study". Review of Economics and Statistics (bằng tiếng Anh). 97 (1): 14–28. doi:10.1162/REST_a_00435. ISSN 0034-6535. PMC 6261420. PMID 30505018.
  5. 1 2 Travers, Mark. "A Psychologist Explains The 'Pretty Privilege' Paradox". Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
  6. Stewart, John E. (1980). "Defendant's Attractiveness as a Factor in the Outcome of Criminal Trials: An Observational Study1". Journal of Applied Social Psychology. 10 (4): 348–361. doi:10.1111/j.1559-1816.1980.tb00715.x. ISSN 0021-9029.
  7. 1 2 Kwan, S. (2010). Navigating public spaces: Gender, race, and body privilege in everyday life.(cần đăng ký mua) Feminist Formations, 22(2), 144–166.
  8. "Workplace & Employer Weight Bias | UConn Rudd Center". University of Connecticut. ngày 20 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2025.
  9. "Halo effect | Attribution, Perception, Bias | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2025.
  10. Nisbett, Richard E.; Wilson, Timothy D. (1977). "The halo effect: Evidence for unconscious alteration of judgments". Journal of Personality and Social Psychology. 35 (4): 250–256. doi:10.1037/0022-3514.35.4.250. hdl:2027.42/92158. ISSN 0022-3514.
  11. 1 2 3 Mobius, Markus M; Rosenblat, Tanya S (ngày 1 tháng 2 năm 2006). "Why Beauty Matters". American Economic Review (bằng tiếng Anh). 96 (1): 222–235. doi:10.1257/000282806776157515. ISSN 0002-8282.
  12. Berger, Joseph; Cohen, Bernard P.; Zelditch, Morris (1972). "Status Characteristics and Social Interaction". American Sociological Review. 37 (3): 241. doi:10.2307/2093465. hdl:1969.1/154769. JSTOR 2093465.
  13. Hakim, C. (ngày 1 tháng 10 năm 2010). "Erotic Capital". European Sociological Review (bằng tiếng Anh). 26 (5): 499–518. doi:10.1093/esr/jcq014. ISSN 0266-7215.
  14. Hakim, Catherine (2011). Erotic capital: the power of attraction in the boardroom and the bedroom. New York: Basic Books. ISBN 978-0-465-02747-7.
  15. Chance, M. J. (2023). Pretty Privilege at Work: The Influence of Physical Attractiveness on Hiring Decisions, Mediated by Perceived Efficacy
  16. Watkins, Lucy M.; Johnston, Lucy (2000). "Screening Job Applicants: The Impact of Physical Attractiveness and Application Quality". International Journal of Selection and Assessment (bằng tiếng Anh). 8 (2): 76–84. doi:10.1111/1468-2389.00135. ISSN 0965-075X.
  17. Chance, Madeline; Jackson, Alexander; Frame, Mark (ngày 27 tháng 10 năm 2023). "Pretty privilege at work: the influence of physical attractiveness on hiring and rating decisions". River Cities Industrial and Organizational Psychology Conference.
  18. Wilson, Rick K.; Eckel, Catherine C. (2006). "Judging a Book by its Cover: Beauty and Expectations in the Trust Game". Political Research Quarterly (bằng tiếng Anh). 59 (2): 189–202. doi:10.1177/106591290605900202. ISSN 1065-9129.
  19. Umberson, Debra; Hughes, Michael (1987). "The Impact of Physical Attractiveness on Achievement and Psychological Well-Being". Social Psychology Quarterly. 50 (3): 227. doi:10.2307/2786823. JSTOR 2786823.
  20. Datta Gupta, Nabanita; Etcoff, Nancy L.; Jaeger, Mads M. (2016). "Beauty in Mind: The Effects of Physical Attractiveness on Psychological Well-Being and Distress". Journal of Happiness Studies (bằng tiếng Anh). 17 (3): 1313–1325. doi:10.1007/s10902-015-9644-6. ISSN 1389-4978.
  21. Beaver, Kevin M.; Boccio, Cashen; Smith, Sven; Ferguson, Chris J. (ngày 4 tháng 7 năm 2019). "Physical attractiveness and criminal justice processing: results from a longitudinal sample of youth and young adults". Psychiatry, Psychology and Law (bằng tiếng Anh). 26 (4): 669–681. doi:10.1080/13218719.2019.1618750. ISSN 1321-8719. PMC 6762156. PMID 31984103.
  22. Stewart, John E. (1980). "Defendant's Attractiveness as a Factor in the Outcome of Criminal Trials: An Observational Study1". Journal of Applied Social Psychology. 10 (4): 348–361. doi:10.1111/j.1559-1816.1980.tb00715.x. ISSN 0021-9029.
  23. Mazur, Allan; Hatfield, Elaine; Sprecher, Susan (1987). "Mirror, Mirror....The Importance of Looks in Everyday Life". Contemporary Sociology. 16 (4): 577. doi:10.2307/2069970. ISSN 0094-3061. JSTOR 2069970.
  24. Stockemer, Daniel; Praino, Rodrigo (2015). "Blinded by Beauty? Physical Attractiveness and Candidate Selection in the U.S. House of Representatives". Social Science Quarterly. 96 (2): 430–443. doi:10.1111/ssqu.12155. ISSN 0038-4941. JSTOR 26612233.
  25. 1 2 Yong, Sable (ngày 28 tháng 6 năm 2024). "Pretty People Really Do Have It Better". TIME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2025.
  26. Seidman, Gwendolyn; Miller, Olivia S. (2013). "Effects of Gender and Physical Attractiveness on Visual Attention to Facebook Profiles". Cyberpsychology, Behavior, and Social Networking (bằng tiếng Anh). 16 (1): 20–24. doi:10.1089/cyber.2012.0305. ISSN 2152-2715. PMID 23153080.
  27. Forbes, Gordon B.; Collinsworth, Linda L.; Jobe, Rebecca L.; Braun, Kristen D.; Wise, Leslie M. (ngày 6 tháng 3 năm 2007). "Sexism, Hostility toward Women, and Endorsement of Beauty Ideals and Practices: Are Beauty Ideals Associated with Oppressive Beliefs?". Sex Roles (bằng tiếng Anh). 56 (5–6): 265–273. doi:10.1007/s11199-006-9161-5. ISSN 0360-0025.
  28. "Bradley University: Body & Beauty Standards". www.bradley.edu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2025.
  29. Fisher, Maryanne (ngày 11 tháng 9 năm 2017). The Oxford Handbook of Women and Competition. ISBN 978-0-19-937639-1.
  30. Glassenberg, Aaron N.; Feinberg, David R.; Jones, Benedict C.; Little, Anthony C.; DeBruine, Lisa M. (tháng 12 năm 2010). "Sex-Dimorphic Face Shape Preference in Heterosexual and Homosexual Men and Women". Archives of Sexual Behavior (bằng tiếng Anh). 39 (6): 1289–1296. doi:10.1007/s10508-009-9559-6. ISSN 0004-0002. PMID 19830539.
  31. Sell, Aaron; Lukazsweski, Aaron W.; Townsley, Michael (ngày 20 tháng 12 năm 2017). "Cues of upper body strength account for most of the variance in men's bodily attractiveness". Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences (bằng tiếng Anh). 284 (1869) 20171819. doi:10.1098/rspb.2017.1819. ISSN 0962-8452. PMC 5745404. PMID 29237852.
  32. Stevens, Alicia; Griffiths, Scott (2020). "Body Positivity (#BoPo) in everyday life: An ecological momentary assessment study showing potential benefits to individuals' body image and emotional wellbeing". Body Image (bằng tiếng Anh). 35: 181–191. doi:10.1016/j.bodyim.2020.09.003. PMID 33068893.
  33. Han, Da Eun; Laurent, Sean M. (2023). "Beautiful seems good, but perhaps not in every way: Linking attractiveness to moral evaluation through perceived vanity". Journal of Personality and Social Psychology (bằng tiếng Anh). 124 (2): 264–286. doi:10.1037/pspa0000317. ISSN 1939-1315. PMID 35653733.
  34. Hamermesh, Daniel S. (2011). Beauty Pays: Why Attractive People Are More Successful. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-14046-9. JSTOR j.ctt7sjgz.

Tham khảo

  • DeFrancisco, V.P., Palczewski, C.H. & McGeough, D.D. (2014). Gender in Communication: A critical introduction. Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, Inc.
  • Van Amsterdam, N. (2013). Big fat inequalities, thin privilege: An intersectional perspective on 'body size'. European Journal of Woman's Studies. May 2013 (20) 155–169. doi:10.1177/1350506812456461.
  • "Weight Bias & Stigma." UConn Rudd Center for Food Policy and Health, 17 July 2023, uconnruddcenter.org/.