Bước tới nội dung

Vẻ bề ngoài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một phụ nữ da trắng tóc vàng, quan điểm từ thời Trung cổ cho rằng người phụ nữ da trắng, tóc vàng là vẻ đẹp thông thường, còn các kiểu hình chủng tộc khác là vẻ ngoài dị thường[1][2]

Vẻ bề ngoài (Body image) hay ngoại hình hay hình ảnh cơ thể mình là những suy nghĩ, cảm xúcnhận thức của một người về thẩm mỹ hoặc sức hấp dẫn về mặt tình dục của cơ thể bản thân họ,[3][4] bao gồm sự kết hợp của các yếu tố nhận thức, cảm xúc, niềm tin, lý tưởng, đánh giá và thái độ mà một người có về cơ thể của mình. Sự nhận thức này không phải lúc nào cũng chính xác hoặc phù hợp với thực tế bởi hình ảnh trong tâm trí họ không nhất thiết phải phù hợp với thực tại khách quan. Khái niệm hình ảnh cơ thể được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, bao gồm khoa học thần kinh, tâm lý học, y học, tâm thần học, phân tâm học, triết học, nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu nữ quyền, truyền thông cũng thường sử dụng thuật ngữ này. Trong các ngành nghiên cứu này, không có định nghĩa thống nhất nào, nhưng nhìn chung, vẻ bề ngoài bao gồm cách mọi người nhìn nhận bản thân, ký ức, kinh nghiệm, giả định và so sánh của họ về ngoại hình cùng thái độ chung của họ đối với ngoại hình tương ứng (bao gồm nhưng không giới hạn ở màu da, chiều cao và cân nặng),[5] tất cả đều được hình thành bởi các lý tưởng xã hội và văn hóa phổ biến.[6] Sự liên tưởng giữa làn da sáng và mái tóc vàng duỗi thẳng với đức hạnh đạo đức có từ ít nhất là thời Trung cổ và được củng cố trong thời kỳ buôn bán nô lệ Đại Tây Dương.[2] Những luận thuyết từ thời Trung cổ cho rằng tất cả các chủng tộc đều bắt nguồn từ chủng tộc da trắng là nguồn gốc ban đầu của mối liên hệ lâu đời giữa cơ thể người da trắng và lý tưởng về cái đẹp với sự thông thường còn các kiểu hình chủng tộc khác là dị thường.[1]

Đại cương

Các cô gái trong quá trình phát triển có mối bận tâm về vẻ bề ngoài

Hình ảnh vẻ bề ngoài cơ thể có thể mang tính tiêu cực ("tiêu cực về cơ thể"), tích cực ("tích cực cơ thể") hoặc trung tính về cơ thể. Một người có hình ảnh cơ thể tiêu cực có thể cảm thấy tự ti hoặc xấu hổ và có thể cảm thấy người khác hấp dẫn hơn. Một thí nghiệm năm 2003 đã trình bày ba bức ảnh chụp phụ nữ da trắng, da đen và người châu Á có vẻ ngoài hấp dẫn theo truyền thống cho sinh viên da trắng, da đen và châu Á. Nghiên cứu kết luận rằng phụ nữ châu Á và phụ nữ da trắng đều có mức độ không hài lòng về ngoại hình tương đương nhau, trong khi phụ nữ da đen ít bất mãn hơn với ngoại hình của mình.[7][8] Những phát hiện này phù hợp với một số nghiên cứu trước đây cho thấy phụ nữ da đen thường có lòng tự trọng cao hơn phụ nữ da trắng hoặc phụ nữ châu Á ở Mỹ.[9] Một nghiên cứu cho thấy, trong số phụ nữ, phụ nữ Đông Á hài lòng với cơ thể của mình hơn phụ nữ da trắng. Đàn ông Đông Á cho biết họ không hài lòng với cơ thể mình nhiều hơn đàn ông da trắng.[10] Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác đã đề xuất rằng việc đánh giá hình ảnh cơ thể nên vượt ra ngoài việc chỉ đánh giá sự không hài lòng với kích thước cơ thể để đánh giá sự không hài lòng với tông màu da, loại tóc và các đặc điểm trên khuôn mặt.[11]

Vốn xã hội của trẻ em gái và phụ nữ vẫn tiếp tục bắt nguồn từ vẻ bề ngoài[12] cho thấy trong nhiều xã hội, giá trị xã hội (sự tôn trọng, ảnh hưởng, sự chấp nhận, sự nổi tiếng) mà phụ nữ và trẻ em gái có được chủ yếu dựa trên ngoại hình của họ, chứ không phải các yếu tố khác như trí tuệ, sự nghiệp, hay tính cách. Nó ngụ ý rằng ngoại hình là "tài sản" quan trọng nhất để họ tồn tại và thăng tiến trong một môi trường xã hội. Phụ nữ "trên toàn thế giới bị đánh giá và áp bức bởi ngoại hình của họ"[13] bao gồm tuổi tác, màu da, hoặc kích thước của họ. Nhiều quảng cáo thúc đẩy sự bất an ở khán giả để lừa bán cho họ giải pháp, và do đó có thể trình bày hình ảnh đã được chỉnh sửa, mô tả tình dục và thông điệp rõ ràng quảng bá "hình ảnh phi thực tế về cái đẹp" và làm suy yếu hình ảnh cơ thể[14] đặc biệt là đối với khán thính giả nữ.[15][16][17] Sự không hài lòng về cơ thể tạo ra thái độ tiêu cực, một tâm lý gây hại và những thói quen tiêu cực ở phụ nữ trẻ,[18][19] Việc nhấn mạnh vào hình dáng và kích thước cơ thể lý tưởng của phụ nữ có hại về mặt tâm lý cho phụ nữ trẻ[20] làm cho các cô gái suốt ngày quan tâm đến việc chải chuốt, ăn kiêng và phẫu thuật để cảm thấy hài lòng và mãn nguyện.[21] Tỷ lệ mắc chứng rối loạn ăn uống ở nữ sinh viên đại học đặc biệt cao, với tỷ lệ lên tới 24% trong số sinh viên đại học.[22] Sự không hài lòng về cơ thể ở các bé gái có liên quan đến tỷ lệ hút thuốc tăng lên và giảm sự thoải mái với tình dục khi chúng lớn lên, điều này có thể khiến chúng cân nhắc đến phẫu thuật thẩm mỹ.[23][24]

Mạng xã hội

Một cô gái có phong thái tự tin

Tiêu chuẩn sắc đẹp đang được thực thi và định hình thông qua mạng xã hội.[25] Người dùng liên tục tiếp xúc với các thông báo, bài đăng và hình ảnh về cuộc sống của người khác.[26] Mặc dù có khả năng tạo và kiểm soát nội dung trên phương tiện truyền thông xã hội, môi trường trực tuyến vẫn áp dụng các tiêu chuẩn sắc đẹp giống như phương tiện truyền thông truyền thống quảng bá.[27] Việc tham gia quá nhiều vào các nền tảng mạng xã hội và hình ảnh có thể dẫn đến những ý tưởng không thể đạt được về tiêu chuẩn cái đẹp.[27] Thông thường, ngoại hình của những người mà họ lý tưởng hóa là kết quả của các thủ thuật y tế.[28] Trong một nghiên cứu quốc tế về các ứng dụng mạng xã hội, các ứng dụng mạng xã hội dựa trên hình ảnh, chủ yếu là Facebook, Instagram và Snapchat, được phát hiện có tác động tiêu cực đến hình ảnh cơ thể của nam giới nhiều hơn các ứng dụng mạng xã hội không dựa trên hình ảnh.[29] Một nghiên cứu khác của Florida Health Experience phát hiện ra rằng 87% phụ nữ và 65% nam giới so sánh cơ thể của họ với hình ảnh họ xem trên mạng xã hội và phương tiện truyền thông truyền thống.[30]

Các ứng dụng như Instagram đã trở thành "chiến trường ngoại hình"[31] trong khi "ảnh tự sướng" là thứ mà mọi người sử dụng để chỉ trích cơ thể của họ (tự than phiền, tự giễu cợt) và những người khác.[32] FacebookSnapchat cũng cho phép người dùng nhận được sự chấp thuận về ngoại hình và sự công nhận của cộng đồng thông qua tỷ lệ lượt xem, bình luận và lượt thích. Vì những người sử dụng nền tảng mạng xã hội thường chỉ chia sẻ những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc sống, một khảo sát của Common Sense Media cho thấy 22% cảm thấy không vui nếu bài đăng của họ bị bỏ qua hoặc không nhận được sự chú ý như mong đợi.[33] Instagram được xếp hạng là có hại nhất cho sức khỏe tâm thần theo một nghiên cứu do Hội Hoàng gia về Sức khỏe Tâm thần thực hiện.[34] Việc sử dụng ngày càng nhiều các ứng dụng chỉnh sửa hình thể và khuôn mặt như Snapchat và Facetune đã được xác định là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra chứng rối loạn nhận thức về ngoại hình. Các ứng dụng mạng xã hội có bộ lọc thay đổi hình thể góp phần gây ra các vấn đề về nhận thức vẻ ngoài cơ thể, thường dẫn đến rối loạn ăn uống và rối loạn nhận thức về ngoại hình.[35]

Gần đây, một hiện tượng được gọi là rối loạn Snapchat đã được sử dụng để mô tả những người yêu cầu phẫu thuật thẩm mỹ để trông giống như phiên bản đã chỉnh sửa của chính họ khi họ xuất hiện qua các bộ lọc Snapchat.[36] Nhiều người dùng chỉnh sửa ảnh tự chụp bằng kỹ thuật số khi đăng lên mạng xã hội. Theo nghiên cứu của Quỹ Trung tâm Renfrew, có tới 50% nam giới và 70% phụ nữ từ 18 đến 35 tuổi đã chỉnh sửa ảnh trước khi đăng,[37] có tới 35% số người được hỏi cũng lo ngại về việc bị gắn thẻ trong những bức ảnh không hấp dẫn, trong khi có tới 27% lo lắng về ngoại hình của họ trên mạng.[37] Các báo cáo cũng chỉ ra rằng các thông điệp được gửi bởi các trang web "fitspiration" đôi khi giống hệt với các loại "thinspiration" hoặc ủng hộ chứng chán ăn.[38] Điều này thể hiện rõ qua ngôn ngữ gây ra cảm xúc tội lỗi về cân nặng hoặc cơ thể, và thúc đẩy chế độ ăn kiêng".[39] Việc tiếp thị chế độ ăn kiêng hạn chế cho phụ nữ trẻ như một hình thức tự chăm sóc có thể gây ra "tình trạng rối loạn ăn uống ngày càng gia tăng"[39] và chứng chán ăn tâm thần, một nỗi ám ảnh với các loại thực phẩm đúng và sai.[38]

Trong nỗ lực giải quyết những vấn đề như vậy, Vương quốc Anh đã phát động một chiến dịch quốc gia mang tên Be Real, sau khi phát hiện ra rằng có 76% học sinh trung học được học về sự tự tin về cơ thể trong lớp học cảm thấy tích cực hơn về bản thân.[40] Mục tiêu đã nêu của phong trào này là cải thiện sự tự tin về cơ thể thông qua các nguồn lực giáo dục được cung cấp cho các trường học và thuyết phục giới truyền thông, doanh nghiệp và ngành công nghiệp chế độ ăn kiêng ủng hộ các hình dạng và kích cỡ cơ thể khác nhau.[37] Các nền tảng mạng xã hội như Instagram đã cấm sử dụng các hashtag liên quan đến "thinspiration" và "thinspo". Các giải pháp khác bao gồm quảng bá các hashtag như #SelfLove và #BodyPositivity[41] và việc quảng bá những bức ảnh "ngoại hình biến chuyển" (transformation photos) là những hình ảnh so sánh thể hiện quá trình tập luyện hoặc giảm cân của một cá nhân, mà người dùng đã sử dụng để chứng minh sự lừa dối của mạng xã hội. Eating Disorder Hope đã khởi xướng Phong trào Phục hồi, một cuộc trò chuyện trực tiếp trên Twitter khuyến khích những người mắc chứng rối loạn ăn uống tôn vinh tình yêu bản thân và tự tin vào hình ảnh cơ thể, thông qua các chủ đề về phục hồi.[42] Gần đây đã có những yêu cầu đối với các trang mạng xã hội nhằm làm nổi bật những bức ảnh đã được chỉnh sửa và ngăn chặn việc xuất bản tràn lan.[43]

Chú thích

  1. 1 2 Camp, Stephanie (tháng 4 năm 2015). "Black Is Beautiful: An American History". Journal of Southern History. 3: 678.
  2. 1 2 Hunter, Margaret (ngày 1 tháng 6 năm 2011). "Buying racial capital: skin-bleaching and cosmetic surgery in a globalized world". Sociology.
  3. Grogan, S (2016). Body image: Understanding body dissatisfaction in men, women and children. Taylor & Francis.
  4. Kar, Sujita Kumar; Upadhyay, Saumya (2023). "Body Image". Encyclopedia of Sexual Psychology and Behavior. Springer, Cham. tr. 1–4. doi:10.1007/978-3-031-08956-5_362-1. ISBN 978-3-031-08956-5.
  5. "What is Body Image?". National Eating Disorders Association. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2017.
  6. Bordo, Susan (ngày 22 tháng 12 năm 2023). Unbearable Weight: Feminism, Western Culture, and the Body (bằng tiếng Anh). University of California Press. ISBN 978-0-520-93071-1.
  7. McConnell, Allen (2003). "Do Racial Minorities Respond in the Same Way to Mainstream Beauty Standards? Social Comparison Processes in Asian, Black, and White Women" (PDF). Self and Identity. 2. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015.
  8. McConnell 2003, tr. 161: "As shown in Table 1, Asian targets were perceived to be equally attractive by Asian women and White women, but they were perceived as less attractive by Black women. Similarly, White targets were perceived to be equally attractive by Asian women and White women, but they were perceived as less attractive by Black women. Black targets, however, were perceived to be equally attractive by all participants. Thus, Asian women and White women reacted equivalently to the target Asian, White, and Black women. However, Black women viewed outgroup targets as less attractive than did Asian and White participants, suggesting that Black women only viewed other Black target women as relevant social comparisons, consistent with our hypotheses."
  9. McConnell 2003, tr. 161: "The current work indicates that Asian women resemble White women in their desire to strive for mainstream beauty ideals. However, both Asian women and White women differ from Black women, who apparently rejected mainstream standards for their comparisons. This is consistent with other research that shows that Black women do not subscribe to the thinness ideals that are prescribed in mainstream culture (Hebl & Heatherton, 1998; Quinn & Crocker, 1998)."
  10. Barnett, Heather L.; Keel, Pamela K.; Conoscenti, Lauren M. (2001). "Body Type Preferences in Asian and Caucasian College Students". Sex Roles. 45 (11): 867–878. doi:10.1023/A:1015600705749. ISSN 1573-2762. S2CID 141429057. "Post hoc tests revealed that among Caucasian students, women reportedgreater body dissatisfaction compared to men, t(267) = −6.92, p <.001. However, among Asian students, men reported more bodydissatisfaction than women, t(83) = −5.92, p < .001."
  11. Landor, Antoinette M.; Ramseyer Winter, Virginia L.; Thurston, Idia Binitie; Chan, Jamie; Craddock, Nadia; Ladd, Brianna A.; Tylka, Tracy L.; Swami, Viren; Watson, Laurel B.; Choukas-Bradley, Sophia (tháng 3 năm 2024). "The Sociostructural-Intersectional Body Image (SIBI) framework: Understanding the impact of white supremacy in body image research and practice". Body Image. 48 101674. doi:10.1016/j.bodyim.2023.101674. PMID 38154289.
  12. Pierce, Cindy (2016). Sex, College, and Social Media: A Commonsense Guide to Navigating the Hookup Culture. Taylor & Francis. tr. 1–. ISBN 978-1-351-81858-2.
  13. "How should we tackle fashion's body image issues?". Dazed. ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2017.
  14. "Advertising Sets Impossible Standards for Women". The Balance. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017.
  15. Spettigue, Wendy; Henderson, Katherine A. (tháng 2 năm 2004). "Eating Disorders and the Role of the Media". The Canadian Child and Adolescent Psychiatry Review. 13 (1): 16–9. PMC 2533817. PMID 19030149.
  16. Hargreaves, Duane (2003). "Longer-term implications of responsiveness to 'thin-ideal' television: support for a cumulative hypothesis of body image disturbance?". European Eating Disorders Review. 11 (6): 465–477. doi:10.1002/erv.509. S2CID 54012822.
  17. Grabe, Shelly; Ward, L. Monique; Hyde, Janet Shibley (2008). "The role of the media in body image concerns among women: A meta-analysis of experimental and correlational studies". Psychological Bulletin. 134 (3): 460–476. doi:10.1037/0033-2909.134.3.460. PMID 18444705. S2CID 152637.
  18. Chang, Edward (2016). "Evaluative Concerns and Personal Standards Perfectionism as Predictors of Body Dissatisfaction in Asian and European American Female College Students". Journal of American College Health. 64 (7): 580–584. doi:10.1080/07448481.2016.1178121. PMID 27089244. S2CID 29922678.
  19. Zajac, Agnieszka; Shier, Katarzyna (tháng 12 năm 2011). "Body Image Dysphoria and Motivation to Exercise: A Study of Canadian and Polish Women Participating in Yoga or Aerobics". Archives of Psychiatry & Psychotherapy. 13 (4): 67.
  20. Linardon, Jake; McClure, Zoe; Tylka, Tracy L.; Fuller-Tyszkiewicz, Matthew (2022). "Body appreciation and its psychological correlates: A systematic review and meta-analysis". Body Image. 42: 287–296. doi:10.1016/j.bodyim.2022.07.003. PMID 35878528. S2CID 251001266.
  21. Cash, Thomas F.; Smolak, Linda (2011). Body Image, Second Edition: A Handbook of Science, Practice, and Prevention. Guilford Press. tr. 1–. ISBN 978-1-60918-184-0.
  22. Javier, Sarah; Belgrave, Faye (tháng 11 năm 2015). "Examination of Influences on Boy Dissatisfaction among Asian American College Females:Do Family, Media, or Peers Play a Role?". Journal of American College Health. 63 (8): 579–583. doi:10.1080/07448481.2015.1031240. PMID 25825925. S2CID 6626052.
  23. "Healthy body image: tips for guiding girls". MayoClinic.
  24. Halliwell, Emma; Malson, Helen; Tischner, Irmgard (ngày 1 tháng 3 năm 2011). "Are Contemporary Media Images Which Seem to Display Women as Sexually Empowered Actually Harmful to Women?". Psychology of Women Quarterly. 35 (1): 38–45. doi:10.1177/0361684310385217. ISSN 0361-6843. S2CID 143146656.
  25. "Social media effects on body image and eating disorders". News. ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
  26. Pierce, Cindy (2016). Sex, College, and Social Media: A Commonsense Guide to Navigating the Hookup Culture. Taylor & Francis. tr. 1–. ISBN 978-1-351-81858-2.
  27. 1 2 "The beauty myth puts big users of social media at risk of low self-esteem". University of South Australia. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  28. Beaulieu, Éliciane (ngày 12 tháng 11 năm 2021). "The Dark Side of Social Media: Unrealistic Beauty Standards". HEC Montréal. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
  29. Griffiths, S (2018). "The contribution of social media to body dissatisfaction, eating disorder symptoms, and anabolic steroid use among sexual minority men". Cyberpsychology, Behavior, and Social Networking. 21 (3): 149–156. doi:10.1089/cyber.2017.0375. PMC 5865626. PMID 29363993. S2CID 4763178.
  30. "Link Between Social Media & Body Image". King University Online. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
  31. Friedman, Vanessa (ngày 13 tháng 10 năm 2015). "Instagram Has Become a Body-Image Battleground". The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2021.
  32. "Here's How Body Image Issues Can Affect You (Even if You Don't Have an Eating Disorder)". Verily. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  33. Knorr, Caroline. "How girls use social media to build up, break down self-image". CNN. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  34. RSPH. "Instagram Ranked Worst for Young People's Mental Health". www.rsph.org.uk. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021.
  35. "A Psychiatrist's Perspective on Social Media Algorithms and Mental Health". Stanford HAI. ngày 14 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021.
  36. "A new reality for beauty standards: How selfies and filters affect body image". eurekalert. the American Association for the Advancement of Science (AAAS). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2019.
  37. 1 2 3 Ratcliffe, Rebecca (ngày 5 tháng 3 năm 2017). "Friends' pictures on social media have biggest impact on body image". The Observer. ISSN 0029-7712. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  38. 1 2 "The Unhealthy Truth Behind 'Wellness' and 'Clean Eating'". Vice. ngày 13 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  39. 1 2 "How Social Media Is a Toxic Mirror". Time. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  40. "Almost a third of 11-16 year-olds have body image anxiety". Academy Today. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  41. Lanquist, Lindsey. "20 Side-by-Side Photos That Show How Misleading Social Media Can Be". Self. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  42. "Positive Uses of Social Media in Body Image Advocacy". Eating Disorder Hope. ngày 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2017.
  43. Leon, Harmon (ngày 15 tháng 8 năm 2019). "The Dark Truth Behind Photo Editing Apps That 'Perfect' Your Appearance". Observer. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2021.

Tham khảo