Bước tới nội dung

Đại Ngu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đại Ngu (chữ Hán: 大虞) là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ, tồn tại từ năm 1400 đến khi cha con Hồ Quý LyHồ Hán Thương bị bắt năm 1407.

Tên gọi Việt NamMap of Vietnam showing the conquest of the south (nam tiến, 1069-1757).
28792524 TCNXích Quỷ (truyền thuyết)
~700258 TCNVăn Lang
258179 TCNÂu Lạc
204111 TCNNam Việt
111 TCN40 CNGiao Chỉ
4043Lĩnh Nam
43203Giao Chỉ
203544Giao Châu
544602Vạn Xuân
602679Giao Châu
679757An Nam
757766Trấn Nam
768866An Nam
866967Tĩnh Hải quân
9681054Đại Cồ Việt
10541400Đại Việt
14001407Đại Ngu
14071427Giao Chỉ
14281804Đại Việt
18041839Việt Nam
18391945Đại Nam
18871954Đông Dương
từ 1945Việt Nam
Bản mẫu chính
Sinh vật định danh
Lịch sử Việt Nam

Ý nghĩa-Lịch sử

Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu vào tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền.[1][2] Sau đó vào tháng 4 năm 1407, nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và tên Đại Ngu không được dùng làm quốc hiệu từ thời điểm đó.[1] Sau khi nhà Hậu Lê chiến tranh giành lại độc lập, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.[1][2]

Chữ "Ngu" (虞) trong quốc hiệu "Đại Ngu" (大虞) của nhà Hồ có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", không phải chữ "Ngu" (愚) mang nghĩa là "ngu ngốc". "Đại Ngu" có thể hiểu là ước vọng về một sự bình yên rộng lớn trên khắp cõi giang sơn.[3]

Có một thuyết khác cho rằng họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn, là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ. Sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần, gọi là Hồ Công Mãn, sau dùng chữ Hồ làm tên họ.[cần dẫn nguồn] Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu.[4][5]

Tham khảo

  1. 1 2 3 Quốc hiệu Việt Nam qua các thời đại[liên kết hỏng], Trang web tỉnh Đồng Nai
  2. 1 2 Lịch sử quốc hiệu Việt Nam[liên kết hỏng], Trang web Sở Tư pháp Hải Phòng
  3. "Vì sao Hồ Quý Ly chọn tên nước là Đại Ngu?". Kienthuc.net.vn. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018.
  4. Họ Trần, nguồn gốc và truyền thống. Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. Trang 95.
  5. Gia Lê. Lạc Việt sử ca. Thành phố Hồ Chí Minh, 2003. Trang 144.