Bước tới nội dung

Đường Thiệu Nghi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đường Thiệu Nghi
Chức vụ
Nhiệm kỳ13 tháng 3 năm 1912  27 tháng 6 năm 1912
Tiền nhiệmViên Thế Khải
Kế nhiệmLục Trưng Tường
Nhiệm kỳ5 tháng 8 năm 1922  19 tháng 9 năm 1922
Tiền nhiệmVương Sủng Huệ
Kế nhiệmVương Sủng Huệ
Thông tin cá nhân
Sinh(1862-01-02)2 tháng 1 năm 1862
Hương Sơn, Quảng Đông, nhà Thanh
Mất30 tháng 9 năm 1938(1938-09-30) (76 tuổi)
Đài Loan Thượng Hải, Trung Hoa Dân Quốc
Alma materQueen's College, Hồng Kông
Đại học Columbia

Đường Thiệu Nghi (giản thể: 唐绍仪; phồn thể: 唐紹儀; bính âm: Táng Shàoyí; Wade–Giles: T'ang Shao-i; Yale: Tong4 Siu6 Yee4; đổi tên thành Đường Thiệu Di 唐绍怡 để tránh tên húy của Phổ Nghi, về sau lấy lại tên cũ) (2 tháng 1, 1862 – 30 tháng 9 năm 1938), là một nhà chính trị và ngoại giao Trung Hoa. Ông là nhạc phụ của nhà ngoại giao Cố Duy Quân và nhà từ thiện Lee Seng Gee (Lý Thành Nghĩa).

Tiểu sử

Sự nghiệp

Ông quê tại Trung Sơn, Quảng Đông, được sự bảo trợ của Hội truyền giáo Giáo dục Trung Hoa, theo học tại Queen's College, Hồng Kông và Đại học Columbia, New York. Ông là Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Sơn Đông, một trong những trường đại học lâu đời và uy tín nhất Trung Quốc. Đường cũng là bạn Viên Thế Khải; trong Cách mạng Tân Hợi, ông đại diện cho Viên đàm phán với nhà ngoại giao Ngũ Đình Phương của phe cách mạng tại Thượng Hải, kết quả là Viên lên làm Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc.

Ông trở thành Thủ tướng đầu tiên của Dân Quốc năm 1912, nhưng nhanh chóng thất vọng với sự coi thường hiến pháp của Viên và từ chức.[1] Sau đó ông tham gia chính phủ của Tôn Dật Tiên tại Quảng Châu. Đường Thiệu Nghi dựa vào hiến pháp chống lại việc Tôn tự phong làm "Tổng thống đặc biệt" năm 1921, rồi từ chức.

Ẩn cư và qua đời

Năm 1924, ông từ chối lời mời làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ lâm thời của Đoàn Kỳ Thụy tại Bắc Kinh, về sau quản lý huyện Trung Sơn và chống đối Trần Tế Đường. Ông về sống tại Thượng Hải và rời bỏ chính trưởng.

Khi thành phố bị Nhật chiếm đóng trong Chiến tranh Trung-Nhật, Đại tướng Nhật Matsui Iwane tiếp cận Đường để mời ông thành lập một chính thể chống Tưởng. Dù Đường tỏ ra hứng thú – thậm chí có lúc còn khoe rằng ông có thể kêu gọi một số nhân vật quan trọng cùng tham gia – ông ra một điều kiện mà người Nhật khó có thể đáp ứng, đó là Trung Hoa phải được bảo toàn lãnh thổ. Tuy nhiên, ông vẫn bị đặc vụ Quốc dân đảng ám sát vì lo rằng ông sẽ thỏa hiệp. Để trấn an dân chúng, Tưởng Giới Thạch ra lệnh trả 5000 NDT cho chi phí tang lễ cùng việc lưu giữ tiểu sử của ông trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia[2]. Sau đó, quan tài của ông được di chuyển đến Hồng Kông và chôn cất tại đây.

Gia quyến

Đường Thiệu Nghi và Ngô Duy Kiều trong lễ cưới
  • Thê thiếp:
    • Nguyên phối Trương thị (張氏, ? - 1900), sinh hai con trai và hai con gái.
    • Kế phối Trịnh thị (鄭氏, ? - 1910), qua đời tại Bắc Kinh[3][4], sinh một con trai và hai con gái.
    • Tam kế phối Ngô Duy Kiều (吳維翹), con gái một nhà mại bản của Tập đoàn Swire [en] tại Hồng Kông, từng học tại Đại học Tô Châu. Lễ cưới của họ diễn ra vào ngày 2 tháng 6 năm 1913, cùng Đường Thiệu Nghi tình cảm rất tốt, sinh ba con trai và bốn con gái.
    • Thiếp Đàm thị (譚氏), sinh một con gái.
  • Con cái:
    • Con trai:
      • Trưởng tử Đường Lưu (唐榴, 1899 - 1981), mẹ là Trương thị. Từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Lãnh sự quán tại Nhật Bản, Ấn Độ, Mỹ, Singapore, qua đời tại Hoa Kỳ. Vợ là Lô thị (卢氏), có một con trai và một con gái.
      • Nhị tử Đường Đồng (唐棟), mẹ là Trương thị, chết yểu.
      • Tam tử Đường Trụ (唐柱), mẹ là Trịnh thị.
      • Tứ tử Đường Lương (唐梁, 1919 - 1969), mẹ là Ngô Duy Kiều.
      • Ngũ tử Đường Lịch (唐櫟), mẹ là Ngô Duy Kiều.
      • Lục tử Đường Kiện (唐楗, 1935 - ?), mẹ là Ngô Duy Kiều.
    • Con gái:
      • Trưởng nữ Đường Bảo Châu (唐寶珠), mẹ là Trương thị. Lấy Chư Xương Niên (諸昌年), Công sứ tại Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan.
      • Nhị nữ Đường Bảo Chương (唐寶璋), mẹ là Trương thị. Lấy nhà ngoại giao cuối thời Thanh là Trương Khiêm (张谦), từng làm Đại sứ tại Hà Lan. Có một con trai và bảy con gái, có một con gái sau trở thành con dâu của Viên Thế KhảiTào Côn.
      • Tam nữ, tứ nữ, thất nữ không rõ tên.
      • Ngũ nữ Đường Bảo Nguyệt (唐寶玥, ? - 1912), tên khác Đường Mai (唐梅), mẹ là Đàm thị. Sau khi Cố Duy Quân ly dị với người vợ đầu Trương Nhuận Nga (张润娥) thì trở thành vợ kế của ông, qua đời do bệnh cúm Tây Ban Nha tại Hoa Kỳ.
      • Lục nữ Đường Bảo Thuyên (唐寶琄), mẹ là Trịnh thị. Lấy Lương Bảo Sướng (梁寶暢), con trai người bạn của cha là nhà ngoại giao Lương Như Hạo (梁如浩).
      • Bát nữ Đường Bảo Mai (唐寶玫), mẹ là Trịnh thị.
      • Cửu nữ Đường Bảo Liên (唐寶璉), mẹ là Ngô Duy Kiều. Chồng đầu là Cam Gián Quang (甘鑒光), sau khi Gián Quang mất thì tái giá với Ủy viên Bộ Ngoại giao Sầm Đức Quảng (岑德广), con trai Sầm Xuân Huyên (岑春煊). Bà là người tổ chức buổi trình diễn thời trang hiện đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc[5].
      • Thập nữ Đường Bảo Duẫn (唐寶玧), mẹ là Ngô Duy Kiều.
      • Thập nhất nữ Đường Bảo Dung (唐寶瑢), mẹ là Ngô Duy Kiều. Chồng đầu là Chư Xương Linh (諸昌齡), em trai nhà ngoại giao Chư Xương Liên (诸昌年); về sau, bà tái hôn với kiến trúc sư Dư Thủ Liêm (余守廉).
      • Thập nhị nữ Đường Bảo Liên (唐寶珅, 1920 - 1978), mẹ là Ngô Duy Kiều. Lấy Lý Thành Ý (李成義), một tỷ phú người Hoa tại Singapore, ngoài ra còn là một doanh nhân và nhà từ thiện nổi tiếng.
      • Thập tam nữ Đường Bảo San (唐寶珊, 1930 - ?), mẹ là Ngô Duy Kiều. Lấy Bác sĩ Cao Bồi Khánh (生曹培).
        Đường Bảo Nguyệt và Cố Duy Quân

Chú thích

  1. John Stuart Thomson (1913). China revolutionized. INDIANAPOLIS: The Bobbs-Merrill company. tr. 105. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  2. 名人传记编辑部:《名流沧桑》,河南文艺出版社
  3. The Singapore Free Press and Mercantile Adviser. courtesy Reed Tang: 4. 24 Nov 1910.
  4. "NewspaperSG - Terms and Conditions" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2025.
  5. "手机新浪网". sina.cn. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2025.
Chức vụ nhà nước
Tiền nhiệm:
Viên Thế Khải
Thủ tướng Trung Hoa Dân Quốc
1912
Kế nhiệm:
Lục Trưng Tường