Bước tới nội dung

Wake Me Up When September Ends

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
"Wake Me Up When September Ends"
Bìa của "Wake Me Up When September Ends": Billie Joe Armstrong ngước lên khi đang hát vào microphone. Tựa bài hát và chữ "Green Day" được in ở góc trên cùng bên trái.
Đĩa đơn của Green Day
từ album American Idiot
Phát hành13 tháng 6 năm 2005 (2005-06-13)
Thể loại
Thời lượng
  • 4:45
Hãng đĩa
Soạn nhạcGreen Day
Viết lờiBillie Joe Armstrong
Sản xuấtRob Cavallo
Thứ tự đĩa đơn của Green Day
"Holiday"
(2005)
"Wake Me Up When September Ends"
(2005)
"Jesus of Suburbia"
(2005)
Video âm nhạc
"Wake Me Up When September Ends" trên YouTube
"Wake Me Up When September Ends" (bản rút gọn) trên YouTube

"Wake Me Up When September Ends" là một bài hát của ban nhạc rock người Mỹ Green Day, đồng thời là đĩa đơn thứ tư trích từ abum phòng thu thứ bảy của nhóm mang tên American Idiot (2004). Đây là một bản nhạc do ca sĩ chính của ban nhạc là Billie Joe Armstrong sáng tác, gợi về cái chết của cha anh vào tháng 9 năm 1982 và cuộc sống của anh sau ngày hôm đó. Ca từ của bài hát được giải thích là nói về các nạn nhân và người sống sót sau Sự kiện 11 tháng 9. Đây là một bản rock ballad mở đầu bằng một đoạn chơi bằng guitar acoustic, rồi trình bày bằng guitar điện và tiếng chuông. Bài nhạc được thu âm tại Ocean Way Recording.

Ca khúc được phát hành làm đĩa đơn vào ngày 13 tháng 6 năm 2005. Tác phẩm có mặt trên bảng xếp hạng của nhiều quốc gia, gồm vị trí quán quân tại Croatia và Cộng hòa Séc, đồng thời giành vị trí thứ sáu trên Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ. Ca khúc có một lần nhận được chứng nhận bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ và bốn chứng nhận bạch kim của Music Canada. Dẫu ban đầu nhận phải những phản ứng trái chiều, nhạc phẩm vẫn được khen ngợi cho phần ca từ và giờ đây được xem là một trong những bài hát hay nhất của Green Day. Bài hát giành giải giải Kids' Choice cho bài hát yêu thích tại lễ trao giải Kids' Choice 2006, trong khi Green Day được trao giải nhóm nhạc yêu thích

Một video âm nhạc đi kèm ca khúc do Samuel Bayer làm đạo diễn, miêu tả một cặp đôi trẻ (do Jamie Bell và Evan Rachel Wood thể hiện) chia tay sau khi cậu bạn trai nhập ngũ vào Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Iraq. Số phận của anh cùng sư đoàn vẫn chưa rõ ràng. Bài hát có mặt ở bảng xếp hạng nhiều nước, đạt vị trí thứ sáu trên Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ và ngôi quán quân ở các quốc gia như Cộng hòa Séc, còn video của ca khúc trở thành clip được đề xuất nhiều nhất trên Total Request Live và được bầu chọn là video nhạc hay nhất năm 2005 theo một cuộc thăm dò độc giả của tạp chí Rolling Stone.

"Wake Me Up When September Ends" nhận được sự tán dương từ các nhà phê bình, họ coi phần lời và khâu sáng tác là các điểm nhấn của bài. Ca khúc nhận được một chứng nhận bạch kim từ Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), và nhận giải Kids' Choice cho bài hát yêu thích tại lễ trao giải Kids' Choice 2006. Với dư âm của bão Katrina, bài hát gắn liền với cơn bão này do một video thịnh hành ghép bài hát với tin tức về bão trên mặt báo. Green Day cũng trình bày ca khúc tại một buổi hòa nhạc từ thiện nhằm góp phần khắc phục hậu quả của bão. Sau khi ra đời, ca khúc đã được sử dụng làm meme internet trong nhiều năm, thường có độ thịnh hành tăng đột biến hàng năm trên các nền tảng phát nhạc trực tuyến trong những ngày cuối của tháng 9.

Hoàn cảnh ra đời và sản xuất

Billie Joe Armstrong playing an electric guitar while singing into a microphone
Giọng ca Billie Joe Armstrong của Green Day biểu diễn vào năm 2005

Năm 2004, Green Day phát hành album phòng thu thứ bảy mang tên American Idiot.[1] American Idiot là một album chủ đề nhạc punk rock, với nội dung xoay quanh câu chuyện về một thiếu niên (tự nhận mình là "Jesus of Suburbia") trưởng thành ở Hoa Kỳ trong thời gian tại vị của tổng thống George W. Bush và thời điểm diễn ra chiến tranh Iraq. Cậu ta chỉ trích cả Bush lẫn cuộc chiến ấy.[2]

Một bài hát trong American Idiot là "Wake Me Up When September Ends" hoàn toàn không liên quan đến nội dung chính của album.[3][4] Bài hát được lấy cảm hứng từ vụ việc người cha của giọng ca chính Billie Joe Armstrong mất vào tháng 9 năm 1982.[2] Vào hôm tổ chức đám tang cha mình, Armstrong được cho là đã chạy về nhà và tự nhốt mình trong phòng. Khi mẹ đến kiểm tra, anh bảo mẹ rằng hãy đánh thức anh dậy khi tháng 9 kết thúc,[5] rồi giữ tựa ca khúc này suốt nhiều năm.[6] Trong một lần phỏng vấn với Howard Stern Show, Armstrong cho biết anh tránh sáng tác bài hát nói về cha mình trong nhiều năm, để rồi anh "[có] một bước ngoặt" và sáng tác ca khúc nhằm tri ân người cha quá cố.[5][6] Ca khúc được thu âm tại Ocean Way Recording và do Rob Cavallo làm nhà sản xuất.[7]

Phát hành

Ngày 21 tháng 9 năm 2004, American Idiot được phát hành qua Reprise Records.[8] "Wake Me Up When September Ends" là bài thứ 11 trong danh sách bài hát chuẩn của album.[7][9] Ca khúc được chọn làm đĩa đơn thứ tư của album,[10] phát hành vào ngày 13 tháng 6 năm 2005.[11][12][13] Một bản thu bài hát trực tiếp được đưa vào album ghi trực tiếp Bullet In A Bible, cũng do Reprise phát hành vào năm 2005.[14] Bài hát đã xuất hiện trong American Idiot, vở nhạc kịch jukebox (2009) dựa trên album cùng tên và cũng có mặt trong album thu âm của dàn diễn viên trong tác phẩm này (2010).[15][16] Sau đó ca khúc được đưa vào album tuyển tập God's Favorite Band (2017),[17] và sản phẩm tái bản kỷ niệm 20 năm ra đời American Idiot của Green Day, cùng các bản ghi trực tiếp và demo của ca khúc dự kiến phát hành vào ngày 25 tháng 10 năm 2024.[18] Một bản thu demo của ca khúc dự kiến nằm trong sản phẩm tái bản, được phát hành sớm vào ngày 6 tháng 9 năm 2024, cùng bài mặt B "Governator" và một bản thu trực tiếp bài "St. Jimmy".[19]

Sáng tác và ca từ

"Wake Me Up When September Ends" là một bản nhạc emo[3] rock ballad với tiết tấu chậm.[2][4][8] Thời lượng của bài hát là bốn phút và 45 giây.[20][21][22] Bài mở đầu bằng một đoạn chơi hợp âm rải trên guitar acoustic, rồi trình bày các nhạc cụ khác như guitar điện và chuông, tạo nên thứ âm thanh mà Jordan Blum của PopMatters ví như "nhịp điệu hành quân".[8] Blum còn viết rằng từng yếu tố trong bài hát "mang nỗi đau để thể hiện chung cảm giác hối hận".[8] Vài giây cuối bài im lặng, rồi bị những nốt nhạc vang vọng trên guitar phá vỡ, Blum miêu tả khúc nhạc ấy "thể hiện dư âm buồn".[8] Một số nhà báo thấy ca khúc có nét tương đồng với "Good Riddance (Time Of Your Life)", một bài hát khác cũng do Green Day sáng tác ở album trước.[4][8][10][23] Rob Sheffield của Rolling Stone nhận xét "Wake Me Up When September Ends" là "phần tiếp nối buồn hơn và trưởng thành hơn" của "Good Riddance..."[23]

Phần lời bài hát có đôi chút khác biệt với chủ đề chính của album, chủ yếu nói về cuộc đời Armstrong sau khi ngày cha anh mất, và cuộc đời anh sau ngày hôm đó.[3][5] Trong suốt ca khúc, Armstrong nhấn mạnh khoảng thời gian sau cái ngày hôm ấy: "Like my fathers come to pass / Seven years has gone so fast",[a] câu hát sau đó được lặp lại trong bài thành "Twenty years has gone so fast,"[b] ám chỉ rằng bao nhiêu năm tháng đã trôi qua khi anh sáng tác bài hát.[5] Trong khi trải nghiệm cá nhân của Armstrong là cơ sở chính của bài, nhiều người lại thấy ca khúc mang nhiều hàm ý, từ vai trò kể chuyện trong American Idiot cho đến việc giải thích ca khúc là để tri ân các nạn nhân của Sự kiện 11 tháng 9. Hàm ý đầu tiên có thêm cơ sở nhờ phần lời ca khúc liên hệ đến một bài hát ra đời trước đó trong album (đặc biệt là "Holiday") và bạn bè cùng gia đình mà nhân vật Jesus of Suburbia bỏ lại trong chuyến đi. Sau khi nhận ra những gì đã đánh mất, cậu ta lựa chọn trở về nhà trong bài hát kế tiếp của album là "Homecoming".[8]

Đánh giá chuyên môn

Ban đầu, "Wake Me Up When September Ends" nhận phải những đánh giá trái chiều. Một cây phê bình của IGN miêu tả ca khúc là "mạnh mẽ" và đề cao sự thiếu liên hệ trực tiếp tới phần còn lại của album. Người này viết rằng điều đó tạo điều kiện cho bài hát mang đến "cảm xúc chung."[4] Tim O'Neil của PopMatters bày tỏ cảm xúc lẫn lộn về bài hát, anh viết rằng đây là một trong những bài hát tác động về mặt cảm xúc lớn nhất trong album, song cũng thấy bài nhạc có vẻ hơi đại trà, giống như "được sử dụng trong phần kết một tập phim Dawson's Creek" hoặc một chương trình nổi tiếng khác.[24] Johnny Luftus của Pitchfork phê bình việc bài hát thay đổi màu sắc so với phần còn lại của album, anh tin rằng bài này chậm hơn so với các bài khác của American Idiot và ví ca khúc là "cái gái của tham vọng".[25] Sau đó anh một lần nữa phê phán bài hát trong một đánh giá Bullet in a Bible, anh miêu tả ca khúc làm cho "chẳng rõ ban đầu Idiot có ý nghĩa là gì."[14]

Những bài đánh giá tái nhìn nhận ca khúc ở góc độ tích cực.[8][26][27][28] Ở một bài tái đánh giá, Jordan Blum của PopMatters miêu tả "Wake Me Up When September Ends" là bài hát sâu sắc nhất trong album, anh cho rằng bài hát có thể bị xem là "đơn giản dễ gây nhầm lẫn, song xuất sắc mà tinh tế" dựa trên những giải thích khác nhau về phần lời ca khúc. Anh viết rằng đây là một trong những "bài hát dũng cảm và bộc trực nhất" mà Armstrong sáng tác nếu xem đây là một ca khúc cá nhân, cũng như "cực kỳ chân thực và cảm động" nếu xem bài hát này nói về Sự kiện 11 tháng 9. Ngoài ra anh còn nhận xét "Wake Me Up When September Ends" là bài hát hay nhất mà Green Day từng sáng tác.[8] Matthew Leimkuehler của American Songwriter miêu tả ca khúc sở hữu "thông điệp mạnh mẽ, đáng nhớ" - bàn về nỗi đau buồn kéo dài và dư âm của những sự kiện bất ngờ xảy ra trong đời.[26]

Khi lựa chọn thứ hạng cho các ca khúc của Green Day, Scott Waldman của Alternative Press và ban biên tập Consequence đã chọn "Wake Me Up When September Ends" lần lượt ở vị trí thứ 8 và 20. Waldman cho rằng ca khúc "mang tới một cú sốc về mặt cảm xúc," còn Philip Cosores từ Consequence cho rằng bài hát gợi cho anh nhớ về cha mình, đồng thời gửi lời cảm ơn Armstrong vì đã sáng tác bài hát."[27][28] Jon O'Brien xếp ca khúc thứ tư trong các bài hay nhất của American Idiot, ông miêu tả phần thể hiện của Armstrong là "một trong những phần hát nội lực nhất", đồng thời vẫn có thể đem bài này so với những ca khúc emo gần đây hơn.[29]

Diễn biến thương mại

Tại Hoa Kỳ, "Wake Me Up When September Ends" giành vị trí thứ sáu trên Billboard Hot 100 và có mặt trên bảng xếp hạng này trong 20 tuần.[30][31] Ca khúc còn giành vị trí á quân trên Billboard Alternative Airplay[32] và hạng 12 trên Mainstream Rock.[33] Ở các bảng xếp hạng cuối năm 2005, "Wake Me Up When September Ends" đạt vị trí thứ 46.[34] Ca khúc giành được chứng nhận bạch kim của RIAA vào năm 2008.[35] Tại Canada, bài hát lọt vào CHR/PoP Top 30 ở hạng bốn,[36] Hot AC Top 30 ở hạng ba[37] và Rock Top 30 ở hạng nhất.[38] Ca khúc cũng giành được chứng nhận bạch kim tới bốn lần của Music Canada.[39]

Ngoài Bắc Mỹ, "Wake Me Up When September Ends" giành ngôi nhất bảng xếp hạng ở Croatia,[40] Cộng hòa Séc[41] và Đức.[42] Tại Liên hiệp Anh, bài hát đoạt ngôi nhất bảng xếp hạng UK Rock & Metal,[43] sở hữu bảy tuần nắm giữ vị trí này,[44] cũng như vươn tới vị trí thứ tám trên UK singles chart.[45][46] Tính đến tháng 2 năm 2020, đây là bài hát thành công cao thứ tư của ban nhạc ở quốc gia này.[46] Bài hát thắng giải Kids' Choice cho bài hát yêu thích tại lễ trao giải Kids' Choice 2006, do Nickelodeon tổ chức. Tại cùng lễ trao giải đó, Green Day đã thắng giải Kids' Choice cho nhóm nhạc yêu thích.[47]

Video âm nhạc

Các nhân vật chính trong MV gồm Jamie Bell (trái, ảnh chụp năm 2019) và Evan Rachel Wood (phải, ảnh chụp năm 2022)

Video âm nhạc (MV) ca khúc "Wake Me Up When September Ends" của Green Day do Samuel Bayer làm đạo diễn - người từng thực hiện các video cho NirvanaMetallica.[48] Bayer hình dung đây sẽ là một bộ phim ngắn,[49] khác biệt với những video ca nhạc mà ông cho là dễ đoán.[48] Ý tưởng về bối cảnh Chiến tranh Iraq đến với ông sau khi phỏng vấn những binh sĩ nhập ngũ vì bị thuyết phục bởi một quảng cáo trên truyền hình.[50] Bayer muốn video mang tính chính trị hơn so với các sản phẩm cùng album của ban nhạc, mong muốn giới trẻ sẽ lên tiếng về cuộc chiến và cho rằng MTV chưa thực sự thức tỉnh khán giả về hậu quả của chiến tranh đối với những người lính.[10] Dù không phải ý nghĩa gốc của ca khúc, Billie Joe Armstrong vẫn thấy sự kết nối này phù hợp.[51] Bayer cùng ekip đã dành một tháng tuyển diễn viên và tập luyện kỹ lưỡng – điều hiếm thấy trong sản xuất video ca nhạc thời bấy giờ.[48] Bối cảnh được ghi hình tại Los Angeles.[49]

Video xoay quanh câu chuyện tình yêu của cặp đôi do Jamie Bell và Evan Rachel Wood thủ vai.[48] Chàng trai hứa sẽ không bao giờ rời xa cô gái, nhưng mâu thuẫn nổ ra khi anh tình nguyện nhập ngũ vào Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Với anh, đó là cách thể hiện tình yêu sâu sắc đến mức sẵn sàng hy sinh để bảo vệ người mình yêu. Ngược lại, cô gái đau khổ vì cho rằng anh đã phá vỡ lời hứa. Phân cảnh sau đó đưa người xem đến chiến trường Iraq, nơi chàng trai và đồng đội bị phục kích. Bất chấp nỗ lực kháng cự, nhiều người ngã xuống. Xen kẽ là hình ảnh cô gái lặng lẽ khóc trên cánh đồng hoang vắng,[52] ngụ ý rằng người yêu cô đã hy sinh cùng đồng đội.[53]

MV nhận được phản hồi tích cực từ giới chuyên môn.[10][54][55][56] Dù thông điệp phản chiến được truyền tải rõ ràng, một số khán giả lại xem đây như tác phẩm cổ vũ chiến tranh.[56] Cây bút Kelefa Sanneh của New York Times nhận xét video vừa mang thông điệp phản chiến, vừa là lời tri ân sâu sắc đến binh sĩ. Đồng nghiệp Sarah Boxer ghi nhận video thường xuyên được chia sẻ lại với chú thích "video tuyệt vời để tuyển quân".[56] Michael Moore của Rolling Stone ca ngợi tính chân thực trong khắc họa chiến tranh và tác động của nó lên người lính.[10]

MV nhanh chóng trở thành một trong những video được yêu cầu phát nhiều nhất trên MTV,[54] đứng đầu bảng xếp hạng Total Request Live[51] và duy trì sức nóng suốt tháng 9 năm 2005.[56] Trong cuộc bình chọn của độc giả Rolling Stone (2005)về video ca nhạc xuất sắc nhất năm, tác phẩm giành vị trí thứ hai sau "Hollaback Girl" của Gwen Stefani.[57] Michael Slezak của Entertainment Weekly xếp video ở vị trí thứ hai trong danh sách cuối năm, chỉ sau "Girl" của Destiny's Child.[55] Đến năm 2019, anh vẫn giữ tên tác phẩm trong danh sách những video giàu tính tự sự nhất.[58] Tại giải Video âm nhạc của MTV 2006, "Wake Me Up When September Ends" được đề cử ở hạng mục video rock xuất sắc nhất nhưng để thua "Miss Murder" của AFI.[59]

Biểu diễn trực tiếp

Green Day biểu diễn tại Manchester vào năm 2024, nơi mở đầu Saviors Tour.[60]

"Wake Me Up When September Ends" thường xuyên góp mặt trong danh sách tiết mục của nhiều chuyến lưu diễn lớn của Green Day.[61][62] Trong số đó có thể kể đến 21st Century Breakdown World Tour (2010),[63] Hella Mega Tour (2021)[64] và Saviors Tour (2024).[65][60] Ở các tour diễn như Saviors Tour, ca khúc được trình diễn cùng với tất cả các bài hát khác trong album American Idiot.[61][62][60] Bài hát cũng nằm trong danh sách biểu diễn của ban nhạc tại lễ hội When We Were Young vào năm 2023.[66] Tháng 10 năm 2019, ban nhạc đã biểu diễn trực tiếp ca khúc này trên chương trình Howard Stern Show, kết hợp với buổi phỏng vấn Billie Joe Armstrong về nguồn gốc ra đời của nó.[67] Đến tháng 4 năm 2020, Armstrong tiếp tục trình diễn ca khúc trong chương trình từ thiện trực tuyến One World: Together At Home, do Global Citizen tổ chức, nhằm gây quỹ hỗ trợ đại dịch COVID-19.[68]

Về mặt ảnh hưởng, tháng 4 năm 2021, ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát người Úc Didirri đã thể hiện bản cover ca khúc trong chương trình Like A Version hàng tuần của đài Triple J, cùng một bài tự sáng tác trích từ EP gần đây của anh.[69] Một bản cover khác của ban nhạc pop-punk Úc With Confidence cũng được tuyển chọn vào American Superhits! - album tổng hợp các bản hit của Green Day do tạp chí Kerrang! phát hành giới hạn.[70][71]

Di sản

"Wake Me Up When September Ends" gắn liền với dư âm của Bão Katrina, cơn bão đã đổ bộ vào Duyên hải Vịnh Mexico của Hoa Kỳ chỉ ba ngày trước khi bắt đầu tháng 9 năm 2005.[56] Sự liên hệ ấy bắt đầu sau khi một blogger khởi tạo video ghép bài hát với các bản thu đưa tin về thảm họa trên truyền hình, gây nên hiệu ứng lan truyền.[5][56] Sau đó, Green Day trình bày ca khúc tại ReAct Now: Music & Relief, một buổi hòa nhạc từ thiện nhằm tưởng nhớ các nạn nhân của cơn bão. Một bản thu bài hát trực tiếp (cũng để dành tặng các nạn nhân của cơn bão) được trình bày tại Sân vận động Gillette và phát hành vào ngày 3 tháng 9.[5] Nhóm thể hiện ca khúc một lần nữa tại show trước trận đấu Bóng bầu dục vào đêm Thứ Hai (Monday Night Football game) giữa hai đội New Orleans Saints và Atlanta Falcons tại New Orleans Superdome. Đây là trận đấu đầu tiên được tổ chức tại sân vận động sau cơn bão.[5] Tháng 4 năm 2020, Armstrong trình diễn ca khúc tại One World: Together At Home, một buổi hòa nhạc từ thiện phát trực tuyến dành cho các nỗ lực cứu trợ COVID-19.[72]

Độ thịnh hành của "Wake Me Up When September Ends" trên các nền tảng phát nhạc trực tuyến gia tăng đột biến vào những ngày đầu tháng 9, cuối tháng 9 và đầu tháng 10.[73][74] Theo Loudwire, lượng người xem MV trên YouTube tăng 135% vào ngày cuối tháng 9 năm 2019 so với lượng người xem trung bình các ngày còn lại của năm đó.[75] Nhờ thế mà ban nhạc thấy được lợi nhuận tăng trong những ngày hôm đấy.[74] Sự tái thịnh hành của nhạc phẩm vào khoảng cuối tháng cũng làm cho nhiều bài đăng trên mạng xã hội và meme internet ra đời, đa số đều yêu cầu đánh thức Armstrong. Những meme này bị chỉ trích vì cho thấy sự vô cảm trước nội dung của ca khúc.[5] Nhằm đáp lại những meme đó, trong một lần phỏng vấn với Vulture vào năm 2016, Armstrong trả lời đùa rằng anh sẽ sáng tác bài hát mới có tựa đề "Shut The Fuck Up When October Comes."[76][77] Sau đó anh liên hệ đến các meme trong một video quảng bá bài hát "The American Dream Is Killing Me" vào ngày 1 tháng 10 năm 2023.[78]

Đội ngũ sản xuất

Danh sách nhân sự được lấy từ các dòng ghi chú lót của đĩa UK CD1.[20]

  • Green Day – nhạc, sản xuất
    • Billie Joe Armstrong – ca từ, hát chính, guitar
    • Mike Dirnt – guitar bass, hát bè
    • Tré Cool – trống, gourd của châu Phi[79]
  • Rob Cavallo – sản xuất
  • Doug McKean – kỹ sư thu âm
  • Chris Lord-Alge – trộn âm
  • Chris Bilheimer – thiết kế nghệ thuật

Xếp hạng

Chứng nhận

Chứng nhận và doanh số của "Wake Me Up When September Ends"
Quốc giaChứng nhậnSố đơn vị/doanh số chứng nhận
Canada (Music Canada)[39]4× Bạch kim320.000
Đan Mạch (IFPI Đan Mạch)[119]Vàng4.000^
Ý (FIMI)[120]Bạch kim50.000
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[121]Vàng30.000
Anh Quốc (BPI)[122]Bạch kim600.000
Hoa Kỳ (RIAA)[35]Bạch kim1.000.000*

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.
Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ và phát trực tuyến.

Lịch sử phát hành

Ngày phát hành và định dạng của "Wake Me Up When September Ends"
Vùng lãnh thổNgàyĐịnh dạngHãng thu âmC.thích
Hoa Kỳ13 tháng 6 năm 2005Alternative radioReprise[11]
Vương quốc Liên hiệp AnhCD[12]
Úc11 tháng 7 năm 2005[123]
Hoa Kỳ
  • Mainstream rock
  • active rock radio
[124]
29 tháng 8 năm 2005[125]

Ghi chú

  1. Tạm dịch: "Tựa như ba tôi sống một đời rồi tạ thế / Bảy năm trôi qua thật mau,"
  2. Tạm dịch: "20 năm trôi qua thật mau,"

Chú thích

  1. Hendrickson, Matt (ngày 24 tháng 2 năm 2005). "Green Day and the Palace of Wisdom" [Green Day và Cung điện Thông thái]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Số 968. Thành phố New York. ISSN 0035-791X. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  2. 1 2 3 "Rage and Love: 15 years of Green Day's American Idiot" [Phẫn nộ và tình yêu: 15 năm ra đời American Idiot của Green Day]. Mixdown (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
  3. 1 2 3 Richardson, Jake (ngày 28 tháng 4 năm 2023). "The 12 best emo power ballads" [12 bản nhạc emo power ballad hay nhất]. Loudwire (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
  4. 1 2 3 4 JR (ngày 21 tháng 9 năm 2004). "American Idiot". IGN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2024.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 Hopper, Alex (ngày 7 tháng 6 năm 2022). "The Meaning Behind "Wake Me Up When September Ends" by Green Day" [Ý nghĩa đằng sau bài hát 'Wake Me Up When September Ends' của Green Day]. American Songwriter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  6. 1 2 The Howard Stern Show (ngày 16 tháng 10 năm 2019). Green Day "Wake Me Up When September Ends" Live on the Howard Stern Show (Video) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  7. 1 2 Green Day (2004). American Idiot (Dòng ghi chú đĩa CD) (bằng tiếng Anh). Reprise Records. 9362-48777-2.
  8. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 "Between the Grooves: Green Day – 'American Idiot'" [Giữa các đoạn Groove: Green Day – 'American Idiot']. PopMatters (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 1 năm 2021. tr. 11. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  9. Spitz 2006, tr. 167.
  10. 1 2 3 4 5 Spitz 2006, tr. 156.
  11. 1 2 "Going for Adds" (PDF). Radio & Records (bằng tiếng Anh). Số 1610. ngày 10 tháng 6 năm 2005. tr. 19. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2021.
  12. 1 2 "New Releases: Singles" [Các sản phẩm mới: Đĩa đơn]. Music Week (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 6 năm 2005. tr. 35.
  13. Spitz 2006, tr. 168.
  14. 1 2 Loftus, Johnny. "Green Day: Bullet in a Bible". Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
  15. Greene, Morgan (ngày 15 tháng 6 năm 2018). "'American Idiot' cast performs 'Wake Me Up When September Ends'" [Dàn diễn viên của 'American Idiot' biểu diễn 'Wake Me Up When September Ends']. Chicago Tribune (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
  16. Gans, Andrew; Jones, Kenneth (ngày 13 tháng 4 năm 2010). "Reprise Records to Release American Idiot Original Cast Recording". Playbill (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024. ...the musical and the cast recording include every song from "American Idiot"...
  17. Monroe, Jazz (ngày 12 tháng 10 năm 2017). "Green Day Announce Greatest Hits: God's Favorite Band". Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
  18. Skinner, Tom (ngày 9 tháng 8 năm 2024). "Green Day announce 'American Idiot' 20th anniversary reissue – including new documentary and unreleased songs". NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2024.
  19. "Green Day drop three more songs from their American Idiot 20th..." [Green ra mắt ba bài hát nữa từ bản kỷ niệm 20 năm của American Idiot...]. Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 9 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  20. 1 2 Green Day (2005). Wake Me Up When September Ends (UK CD1 liner notes) (bằng tiếng Anh). Reprise Records. W674CD1, 5439 16013 2.
  21. Green Day (2005). Wake Me Up When September Ends (European CD single liner notes) (bằng tiếng Anh). Reprise Records. 5439 16012-2.
  22. Green Day (2005). Wake Me Up When September Ends (UK 7-inch picture disc sleeve) (bằng tiếng Anh). Reprise Records. W 674, 5439 16013-7.
  23. 1 2 Sheffield, Rob (ngày 30 tháng 9 năm 2004). "Green Day: American Idiot". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Số 958. New York City. ISSN 0035-791X. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
  24. O'Neil, Tim (ngày 14 tháng 10 năm 2004). "Green Day: American Idiot". PopMatters (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  25. Loftus, Johnny (ngày 24 tháng 9 năm 2004). "Green Day: American Idiot: Pitchfork Review". Pitchfork (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  26. 1 2 Leimkuehler, Matthew (ngày 21 tháng 11 năm 2023). "All the Songs on Green Day's 'American Idiot,' Ranked" [Xếp hạng toàn bộ các bài hát của Green Day trong 'American Idiot']. American Songwriter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  27. 1 2 Waldman, Scott (ngày 16 tháng 3 năm 2020). "Green Day song by song ranking of band's studio album tracks". Alternative Press (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
  28. 1 2 Cosores, Philip (ngày 2 tháng 11 năm 2023). "Green Day's Top Songs: Their 20 Best Tracks Of All Time". Consequence (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  29. O'Brien, Jon (ngày 21 tháng 9 năm 2024). "Green Day's 'American Idiot' Turns 20: All the Songs Ranked". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  30. Childers, Chad (ngày 21 tháng 9 năm 2023). "19 Years Ago - Green Day Release 'American Idiot'". Loudwire (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
  31. 1 2 "Green Day Chart History (Hot 100)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  32. 1 2 "Green Day Chart History (Alternative Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  33. 1 2 "Green Day Chart History (Mainstream Rock)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  34. 1 2 "The 2005 Year in Music & Touring" (PDF). Billboard (bằng tiếng Anh). Quyển 117 số 52. ngày 24 tháng 12 năm 2005. tr. YE-39.
  35. 1 2 "Chứng nhận đĩa đơn Hoa Kỳ – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015.
  36. 1 2 "R&R Canada CHR/Pop Top 30" (PDF). Radio & Records (bằng tiếng Anh). Số 1630. ngày 28 tháng 10 năm 2005. tr. 29. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  37. 1 2 "R&R Canada Hot AC Top 30" (PDF). Radio & Records (bằng tiếng Anh). Số 1627. ngày 7 tháng 10 năm 2005. tr. 52. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2024.
  38. 1 2 "R&R Canada Rock Top 30" (PDF). Radio & Records (bằng tiếng Anh). Số 1622. ngày 2 tháng 9 năm 2005. tr. 54. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019.
  39. 1 2 "Chứng nhận đĩa đơn Canada – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). Music Canada. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2023.
  40. 1 2 "Top Lista Hrvatskog Radija" (bằng tiếng Croatia). Croatian Radiotelevision. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2021.
  41. 1 2 "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Radio Top 100 Oficiální. IFPI Cộng hòa Séc. Ghi chú: Chọn 39. týden 2005. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  42. 1 2 "Nielsen Music Control Airplay – Germany Top 5" (bằng tiếng Anh). Nielsen Music Control on behalf of BVMI. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2023.
  43. 1 2 "Official Rock & Metal Singles Chart Top 40" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2023.
  44. "Official Rock & Metal Singles Chart on 19/6/2005". Official Charts (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  45. 1 2 "Official Singles Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  46. 1 2 "Green Day's Top 20 biggest hits revealed". Official Charts (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  47. Rogers, John (ngày 4 tháng 4 năm 2006). "Cheers and slime at Kids Choice Awards". The Berkshire Eagle (bằng tiếng Anh). tr. 15.
  48. 1 2 3 4 James Montgomery (ngày 9 tháng 8 năm 2005). "'Teen Spirit' Director Calls Green Day Clip His Career Highlight". MTV News (bằng tiếng Anh). New York City. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
  49. 1 2 Montgomery, James (ngày 19 tháng 4 năm 2005). "It's A Dark Day For Green Day In Somber 'September' Video". MTV News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
  50. Colapinto, John (ngày 17 tháng 11 năm 2005). "Green Day: Working Class Heroes". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Số 987. New York City. tr. 50–56. ISSN 0035-791X. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
  51. 1 2 Moss, Corey (ngày 31 tháng 8 năm 2005). "Think Green Day's 'September' Clip Is Epic? Just Wait For 'Jesus Of Suburbia'". MTV News (bằng tiếng Anh). New York City. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
  52. Green Day (ngày 13 tháng 6 năm 2005). Wake Me Up When September Ends (Video) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  53. "Green Day's 15 best music videos, ranked in order of greatness". Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  54. 1 2 Boxer, Sarah (ngày 24 tháng 9 năm 2005). "Art of the Internet: A Protest Song, Reloaded". The New York Times (bằng tiếng Anh). New York City. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  55. 1 2 "The 10 best music videos of 2005: Watch 'em". EW.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  56. 1 2 3 4 5 6 Boxer, Sarah (ngày 24 tháng 9 năm 2005). "Art of the Internet: A Protest Song, Reloaded". The New York Times (bằng tiếng Anh). New York City. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  57. Greene, Andy (ngày 11 tháng 1 năm 2006). "The 2005 Readers' Poll". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). New York City. ISSN 0035-791X. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
  58. Slezak, Michael (ngày 20 tháng 12 năm 2019). "The best music videos that tell tales". EW.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  59. Childers, Chad (ngày 12 tháng 9 năm 2024). "MTV Video Music Awards Rock Video winners by year". Loudwire (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  60. 1 2 3 Shah, Rishi (ngày 24 tháng 6 năm 2024). "Green Day live in Manchester: an emphatic celebration of two timeless albums". NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  61. 1 2 Blashill, Pat (ngày 28 tháng 10 năm 2004). "Live Review: Green Day at Irving Plaza, New York". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  62. 1 2 Punknews.org (ngày 30 tháng 11 năm 2004). "Green Day / New Found Glory / Sugarcult - live in Rochester". Punknews (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  63. Goldberg, Michael (ngày 4 tháng 8 năm 2010). "Green Day Kick Off Epic Tour Near Philly". Spin (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
  64. Greene, Andy (ngày 25 tháng 7 năm 2021). "Green Day, Weezer, Fall Out Boy Launch 'Hella Mega' With Epic, Emotional Dallas Concert". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  65. "Green Day: Here's the setlist from the first night of The Saviors Tour". Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  66. Dunworth, Liberty (ngày 23 tháng 10 năm 2023). "Watch Green Day debut new song 'Look Ma, No Brains' at When We Were Young 2023". NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  67. "Billie Joe Armstrong Discusses "Honouring" His Late Father With Wake…". Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  68. Daly, Rhian (ngày 19 tháng 4 năm 2020). "Green Day's Billie Joe Armstrong plays poignant version of 'Wake Me Up When September Ends' on One World: Together At Home special". NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  69. Brereton, Greta (ngày 16 tháng 4 năm 2021). "Watch Didirri take on Green Day's 'Wake Me Up When September Ends' for Like A Version". NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  70. "Hear The World Premiere Of Waterparks' Brilliant Green Day Cover". Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
  71. Garner, George (ngày 2 tháng 12 năm 2016). "Pre-Order Kerrang!'s Green Day American Superhits Cover CD + Issue Now!". Kerrang! (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2017.
  72. Daly, Rhian (ngày 19 tháng 4 năm 2020). "Green Day's Billie Joe Armstrong plays poignant version of 'Wake Me Up When September Ends' on One World: Together At Home special". NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  73. Aniftos, Rania (ngày 4 tháng 10 năm 2019). "Green Day's 'Wake Me Up When September Ends' Gets Annual Spike in YouTube Views Because, Well, September Ended". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  74. 1 2 "Apparently Green Day Make Extra Money When September Ends Every Year". Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  75. DiVita, Joe (ngày 2 tháng 10 năm 2019). "Green Day See Huge YouTube View Spike When September Ends". Loudwire (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  76. Shutler, Ali (ngày 2 tháng 10 năm 2021). "Green Day fans are over the 'Wake Me Up When September Ends' joke". NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  77. Murphy, Patricia (ngày 13 tháng 11 năm 2016). "'Shut the F*** Up When October Begins'- Green Day's Billie Joe Armstrong on the trolls who mock his most famous song". Irish Independent (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.
  78. "Green Day are teasing something with new video and website". Kerrang! (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
  79. Zulaica 2004, tr. 66.
  80. "Australian-charts.com – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). ARIA Top 50 Singles. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  81. "Austriancharts.at – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  82. "Ultratop.be – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  83. "Ultratop.be – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Pháp). Ultratip. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  84. Green Day — Wake Me Up When September Ends (bằng tiếng Anh). Tophit. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2021.
  85. "Musicline.de – Green Day Single-Chartverfolgung" (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. PhonoNet GmbH. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  86. "IFPI archive" (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2005.
  87. "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ" (bằng tiếng Hungary). Rádiós Top 40 játszási lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége.
  88. "The Irish Charts – Search Results – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). Irish Singles Chart. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2020.
  89. "Italiancharts.com – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). Top Digital Download. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  90. "Nederlandse Top 40 – week 34, 2005" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40 Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
  91. "Dutchcharts.nl – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Hà Lan). Single Top 100. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
  92. "Charts.nz – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). Top 40 Singles. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  93. "Top Radio Hits Russia Weekly Chart: Feb 9, 2006" (bằng tiếng Anh). TopHit. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  94. "Official Scottish Singles Sales Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
  95. "Swedishcharts.com – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). Singles Top 100. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  96. "Swisscharts.com – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Đức). Swiss Singles Chart. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
  97. "Green Day Chart History (Adult Alternative Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  98. "Green Day Chart History (Adult Contemporary)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  99. "Green Day Chart History (Adult Pop Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  100. "Green Day Chart History (Pop Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  101. "2011-03-19 Top 40 Rock & Metal Singles Archive" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. ngày 19 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012.
  102. "Green Day Chart History (Alternative Digital Song Sales)". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  103. "Green Day Chart History (Rock Digital Song Sales)". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  104. "Billboard Japan Hot Overseas [2023/10/09 公開]". Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  105. "ARIA Top 100 Singles for 2005" (bằng tiếng Anh). ARIA. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2020.
  106. "Jahreshitparade Singles 2005" (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
  107. "Brazilian Top 100 Year-End 2005" (bằng tiếng n). Crowley Broadcast Analysis. ngày 3 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2022.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  108. "Rádiós Top 100 – hallgatottsági adatok alapján – 2005" (bằng tiếng Hungary). Mahasz. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  109. "End of Year Singles Chart Top 100 – 2005" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
  110. "2005 The Year in Charts: Top Adult Top 40 Songs". Billboard Radio Monitor (bằng tiếng Anh). Quyển 13 số 50. ngày 16 tháng 12 năm 2005. tr. 31.
  111. "2005 The Year in Charts: Top Mainstream Top 40 Songs". Billboard Radio Monitor (bằng tiếng Anh). Quyển 13 số 50. ngày 16 tháng 12 năm 2005. tr. 26.
  112. "2005 The Year in Music & Touring: Hot Modern Rock Songs". Billboard (bằng tiếng Anh). Quyển 117 số 52. ngày 24 tháng 12 năm 2005. tr. YE-70.
  113. "2005 The Year in Charts: Top Triple-A Songs". Billboard Radio Monitor (bằng tiếng Anh). Quyển 13 số 50. ngày 16 tháng 12 năm 2005. tr. 57.
  114. "Brazilian Top 100 Year-End 2006" (bằng tiếng Anh). Crowley Broadcast Analysis. ngày 3 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2022.
  115. "Лучшие песни и музыка за 2006 год" (bằng tiếng Nga). TopHit. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2021.
  116. "Rádiós Top 100 – hallgatottsági adatok alapján – 2006" (bằng tiếng Hungary). Mahasz. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2020.
  117. "Top Radio Hits Russia Annual Chart: 2006" (bằng tiếng Anh). TopHit. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  118. "Adult Pop Songs – Year-End 2006". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019.
  119. "Guld og platin november/december/januar" (bằng tiếng Đan Mạch). IFPI Denmark. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2015.
  120. "Chứng nhận đĩa đơn Ý – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2018.
  121. "Chứng nhận đĩa đơn Tây Ban Nha – Green Day – Wake Me Up When September Ends". El portal de Música (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
  122. "Chứng nhận đĩa đơn Anh Quốc – Green Day – Wake Me Up When September Ends" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2019.
  123. "The ARIA Report: New Releases Singles – Week Commencing 11/07/2005" (PDF) (bằng tiếng Anh). ARIA. ngày 11 tháng 7 năm 2005. tr. 28. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2021.
  124. "Going for Adds" (PDF). Radio & Records (bằng tiếng Anh). Số 1614. ngày 8 tháng 7 năm 2005. tr. 20. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2021.
  125. "Going for Adds" (PDF). Radio & Records (bằng tiếng Anh). Số 1621. ngày 26 tháng 8 năm 2005. tr. 20. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2021.

Nguồn

  • Spitz, Marc (ngày 7 tháng 11 năm 2006). Nobody Likes You (bằng tiếng Anh). Hachette Book Group. ISBN 9781401385798.
  • Zulaica, Don (tháng 12 năm 2004). "Tre Cool: Political Punk". DRUM! (bằng tiếng Anh). Số 103. tr. 62–68. ISSN 1097-0614.