Vương quốc Fazughli
Vương quốc Fazughli | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| k. 1500–1685 | |||||||||
Vùng màu đỏ là ước đoán về lãnh thổ Vương quốc Fazughli | |||||||||
| Thủ đô | Không xác định | ||||||||
| Ngôn ngữ thông dụng | Nubia và các ngôn ngữ Đông Sudan khác. | ||||||||
| Tôn giáo | Chính thống giáo Copt | ||||||||
| Chính trị | |||||||||
| Chính phủ | Quân chủ | ||||||||
| Lịch sử | |||||||||
| Thời kỳ | Cận đại | ||||||||
• Thành lập | k. 1500 | ||||||||
• Bị Vương quốc Hồi giáo Funj chinh phục | 1685 | ||||||||
| |||||||||
| Hiện nay là một phần của | |||||||||
Vương quốc Fazughli là một quốc gia thời tiền thuộc địa ở khu vực ngày nay là đông nam Sudan và miền tây Ethiopia. Truyền thống truyền khẩu khẳng định nước này được thành lập bởi những người tị nạn đến từ vương quốc Alodia của người Nubia, sau khi thủ đô Soba của Alodia rơi vào tay người Ả Rập hay người Funj trong khoảng năm 1500. Tập trung quanh vùng núi Fazughli trên sông Nin Xanh và đóng vai trò là vùng đệm giữa Vương quốc Hồi giáo Funj và Đế quốc Ethiopia, vương quốc này tồn tại cho đến khi bị vương quốc Funj sáp nhập vào năm 1685.
Lịch sử
Hình thành
Thời Trung Cổ, phần lớn miền trung và nam Sudan bao gồm cả khu vực Fazughli trên biên giới với Ethiopia, do vương quốc Alodia của người Nubia theo Thiên chúa giáo kiểm soát.[1] Kể từ thế kỷ 12, Alodia đã suy tàn;[2] điều này trở nên trầm trọng hơn trong giai đoạn k. 1300.[3] Vào thế kỷ 14 và 15, các bộ lạc Bedouin Ả Rập thống trị phần lớn Sudan,[4] tiến xa về phía nam đến tận đảo Aba.[5] Đến nửa sau của thế kỷ 15, người Ả Rập đã sinh sống tại phần lớn Alodia ngoại trừ khu vực xung quanh Soba, thủ phủ của Alodia tại ngã ba sông Nin Xanh và Nin Trắng.[6] Người Ả Rập hoặc người Funj cuối cùng chinh phục thành phố, theo sử sách Sudan là vào thế kỷ thứ 9 sau thời kỳ Hijra (khoảng 1396–1494),[7] cuối thế kỷ 15,[8] hoặc các năm 1504[9] và 1509.[10] Sau đó người Funj thành lập một vương quốc với kinh đô tại Sennar, rồi bành trướng ra xa về phía bắc đến ghềnh thứ ba của sông Nin.[11]
Nhà sử học Jay Spaulding cho rằng Alodia vẫn tồn tại sau khi Soba sụp đổ. Ông tin rằng "Vương quốc Soba" mà lữ khách Do Thái David Reubeni đề cập vào năm 1523 ám chỉ Alodia và tin rằng nó nằm ở đâu đó trên bờ đông của sông Nin Xanh. Vương quốc này mất khoảng 10 ngày để đi hết lãnh thổ và bao gồm "vương quốc Al Ga'l", được miêu tả là chư hầu của sultan Funj Amara Dunqas.[12] "Al Ga'l" có lẽ ám chỉ bộ tộc Ả Rập Jaalin.[13] Từ lịch sử truyền miệng, Spaulding tiếp tục lập luận rằng người Alodia cuối cùng từ bỏ lãnh thổ mà họ vẫn nắm giữ ở vùng hạ lưu sông Nin và rút lui về vùng núi Fazughli ở phía nam, nơi họ tái lập vương quốc của mình.[12] Chẳng hạn, một tư liệu truyền miệng được thu thập vào thế kỷ 19 cho rằng:
Các vị vua của Fazughli, với quyền thống trị rộng rãi, bao trùm một phần lớn bán đảo Sennar (Gezira), cùng một trong những thủ đô của họ là Soba cổ đại, đã bị buộc phải nhường đường cho những kẻ mới đến...người Funj...và lui về vùng núi của họ...Ở đó...họ định cư... [Do đó] Đế quốc Fazughli nổi lên từ những tàn dư của vương quốc Soba.[14]

Lịch sử truyền miệng trong vùng cũng nhắc đến những cuộc di cư của người Alodia tới Fazughli.[16] Biên niên sử Funj, biên soạn vào khoảng năm 1870, cũng đề cập đến Fazughli là nơi có người Nubia lưu vong.[17] Một nền văn hóa khảo cổ học mang tên "tín ngưỡng Jebel Mahadid",[18] tập trung quanh vùng Mahadid ở Qwara, miền tây Ethiopia, với kiến trúc đồ sộ và đồ gốm tương tự như ở Soba, được cho là của những người tị nạn Alodia này. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy họ có thể đã bắt đầu đến vùng biên giới Ethiopia-Sudan vào thế kỷ 14. Điều này có nghĩa là họ sẽ đến Fazughli khi Alodia vẫn còn tồn tại, nhưng đã suy yếu đi nhiều.[19]
Các truyền thống truyền khẩu liên kết Fazughli với Alodia có thể không nhất thiết là sự thật, nhưng đúng hơn là được cho là hợp lý hóa sự cai trị của vua Fazughli.[20]
Nằm giữa Sennar và Ethiopia
Vương quốc Fazughli nằm giữa Vương quốc Hồi giáo Sennar và Đế quốc Ethiopia, đóng vai trò là vùng đệm giữa hai quốc gia này.[21] Nhà nghiên cứu văn hóa châu Phi Alessandro Triulzi miêu tả lãnh thổ gần đúng của vương quốc như sau:
Về phía đông, nó bao gồm lãnh thổ của người Gumuz, sinh sống giữa Gallabat và sông Nin Xanh, với trung tâm là Gubba. Về phía tây nó bao gồm vùng đất của người Burun với trung tâm là Jebel Gule, được cho là đã mở rộng về phía nam đến tận Kaffa ở miền nam Ethiopia. Về phía nam nó chủ yếu bao gồm lãnh thổ của người Bertha, dọc theo thung lũng Tumat chứa nhiều vàng, trải dài đến Fadasi, ngoại vi lãnh thổ của người Oromo.[22]
Người dân Fazughli chủ yếu nói các ngôn ngữ Đông Sudan.[23] Theo Spaulding, quốc gia này duy trì đức tin Cơ đốc, ít nhất là trong giới cầm quyền.[24] Theo ông, tầng lớp thượng lưu Alodia này sẽ được gọi là Hamaj.[24] Tuy nhiên, có thể trên thực tế phần lớn dân số Fazughli cấu thành Hamaj.[25]

Fazughli nổi tiếng với trữ lượng vàng phong phú.[22] Một ghi chép của Bồ Đào Nha từ năm 1607 cho biết nơi này có "nhiều vàng và ngựa tốt để trao đổi buôn bán với đế chế (Ethiopia)."[26] Một nguồn khác xuất bản năm 1622 ghi lại rằng "(...) chắc chắn như mọi người đều nói và Hoàng đế Seltan Cagued (Susenyos) bảo tôi, rằng vàng tốt nhất trong tất cả các vùng đất của ngài là từ vương quốc Fazcolo".[27] Vàng của Fazughli đã thu hút sự chú ý của các nước láng giềng,[22] khiến cả Ethiopia lẫn Sennar thỉnh thoảng đưa ra những tuyên bố phần lớn vô căn cứ rằng các mỏ vàng của Fazughli nằm trong lãnh thổ của họ.[28] Tuy nhiên, giai đoạn từ cuối thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 17 là một giai đoạn khó khăn đối với vùng biên giới Ethiopia-Sudan, phản ánh qua các khu định cư "truyền thống Jebel Mahadid", không chỉ nằm ở các vị trí được bảo vệ tự nhiên mà còn có các hệ thống phòng thủ bổ sung.[29] Người Hamaj được ghi nhận là đã tham gia cuộc chiến tranh Abyssinia–Adal,[21] liên minh với người dân Shire ở miền bắc Ethiopia, gần Kassala.[25] Trong thời kỳ trị vì của quốc vương Dakin (1568–1585), xuất hiện một cuộc viễn chinh đến Abu Ramlah, ngay phía nam Mahadid.[29] Dakin thua trận và khi trở về Sennar, ông đối đầu với Ajib, một tiểu vương đầy tham vọng của miền bắc Nubia. Ajib giành được quyền tự chủ lớn hơn, rồi biến các quốc vương Funj thành chư hầu. Đến năm 1606, ông xâm lược Gezira và đẩy quốc vương đang cai trị lúc bấy giờ là Abd al-Qadir II vào Ethiopia.[30] Theo một truyền thống truyền khẩu, Ajib thành lập một số nhà thờ Hồi giáo ở nơi vốn là lãnh thổ Fazughli. Nếu chuẩn xác, điều này có thể gợi ý rằng bằng cách theo phe Ajib, Fazughli đã tham gia vào cuộc tranh giành quyền lực giữa Ajib và Sennar. Nếu lực lượng của Ajib xâm nhập vào lãnh thổ Fazughli thì cuộc xâm nhập đó sẽ diễn ra trong thời gian ngắn, không gây hậu quả lâu dài.[21] Cuối cùng, Ajib tử trận vào năm 1611 hoặc 1612.[31]

Năm 1615, hoàng đế Ethiopia Susenyos được cho là đã chinh phục Fazughli.[32] Theo Spaulding, điều này dẫn đến việc Fazughli mất đi nền độc lập.[21] Mahadid được chứng thực là đã bị phá hủy vào thế kỷ 16 hoặc đầu thế kỷ 17, có thể là do người Ethiopia hoặc người Funj.[29] Các hoàng đế Ethiopia nỗ lực sáp nhập Fazughli vào đế quốc của họ, nhưng trong vòng bảy mươi năm, sau khi hoàng đế Yohannes I qua đời, Ethiopia mất quyền kiểm soát khu vực này. Khi ảnh hưởng của Ethiopia suy yếu, Sennar đã cố gắng lấp đầy khoảng trống quyền lực.[33] Năm 1685, Sennar khuất phục "các hoàng tử Hameg của Fazughli".[34]
Fazughli dưới sự cai trị của người Funj
Người Funj được ghi nhận là vẫn giữ lại người cai trị Fazughli thời bấy giờ thay vì thay thế ông bằng một thống đốc tỉnh mới.[35] Các thống đốc Fazughli nhận được danh hiệu manjil với tư cách chư hầu của Sennar.[36] Theo Spaulding, Hamaj vẫn theo đạo Thiên chúa trong ít nhất một thế hệ sau cuộc chinh phạt, nhưng đến giữa thế kỷ 18, họ đã cải sang đạo Hồi. Sử sách ghi nhận rằng một thân vương quốc Thiên chúa giáo với tên gọi Shaira đã tồn tại ở khu vực biên giới Ethiopia-Sudan muộn nhất là vào đầu những năm 1770.[37] Các phong tục có nguồn gốc từ Thiên chúa giáo vẫn tiếp tục được thực hành ở thượng lưu sông Nin Xanh muộn nhất là vào đầu thế kỷ 20.[38] Vương quốc Hồi giáo Sennar sáp nhập Fazughli, qua đó Hamaj trở thành một trong những nhóm dân tộc lớn nhất.[39] Cùng với đó Fazughli, cũng như hai tỉnh phía nam khác là Kordofan và Alays, trở thành một trong những tỉnh quan trọng nhất của Sennar,[40] chủ yếu do tầm quan trọng của vàng đối với nền kinh tế Sennar.[41] Trong giai đoạn 1761–1762,[42] Muhammad Abu Likayik, một chỉ huy quân sự xuất thân từ Fazughli, tập hợp một "nhóm quý tộc, lãnh chúa, binh lính nô lệ, thương gia và fuqara (thầy giảng tôn giáo) tân Alodia không đồng nhất"[43] và giành quyền kiểm soát vương quốc, khởi xướng thời kỳ nhiếp chính vương Hamaj, kéo dài cho đến khi Thổ Nhĩ Kỳ–Ai Cập xâm lược Sennar năm 1821.[42]
Tham khảo
- ↑ Zarroug 1991, tr. 97.
- ↑ Welsby & Daniels 1991, tr. 9.
- ↑ O'Fahey & Spaulding 1974, tr. 19.
- ↑ Hasan 1967, tr. 176.
- ↑ Hasan 1967, tr. 162.
- ↑ Hasan 1967, tr. 128.
- ↑ Vantini 1975, tr. 786–788.
- ↑ Hasan 1967, tr. 133.
- ↑ Vantini 1975, tr. 784.
- ↑ Vantini 2006, tr. 487–489.
- ↑ Hasan 1967, tr. 134.
- 1 2 Spaulding 1974, tr. 13–14.
- ↑ O'Fahey & Spaulding 1974, tr. 29.
- ↑ Spaulding 1974, tr. 13.
- ↑ Gonzalez-Ruibal 2014, tr. 176.
- ↑ Spaulding 1974, tr. 14.
- ↑ Vantini 1975, tr. 788.
- ↑ Gonzalez-Ruibal & Falquina 2017, tr. 12.
- ↑ Gonzalez-Ruibal & Falquina 2017, tr. 16–18.
- ↑ Gerhards 2021, tr. 455–456.
- 1 2 3 4 Spaulding 1974, tr. 18.
- 1 2 3 Triulzi 1981, tr. 61.
- ↑ Zarroug 1991, tr. 25.
- 1 2 Spaulding 1974, tr. 22.
- 1 2 Triulzi 1981, tr. 66.
- ↑ Triulzi 1981, tr. 58.
- ↑ Paez 2011, tr. 242.
- ↑ Triulzi 1981, tr. 67.
- 1 2 3 Gonzalez-Ruibal & Falquina 2017, tr. 18.
- ↑ O'Fahey & Spaulding 1974, tr. 36-37.
- ↑ O'Fahey & Spaulding 1974, tr. 36.
- ↑ Spaulding 1974, tr. 19.
- ↑ Spaulding 1974, tr. 20–21.
- ↑ Triulzi 1981, tr. 66–67.
- ↑ Triulzi 1981, tr. 67–68.
- ↑ Triulzi 1981, tr. 70.
- ↑ Spaulding 1974, tr. 22, note 31.
- ↑ Gerhards 2021, tr. 449–451.
- ↑ Spaulding 1974, tr. 23–25.
- ↑ Spaulding 1985, tr. 223.
- ↑ Triulzi 1981, tr. 62.
- 1 2 Spaulding 1974, tr. 24–25.
- ↑ Spaulding 1985, tr. 221.
Thư mục
- Gonzalez-Ruibal, Alfredo; Falquina, Alvaro (2017). "In Sudan's Eastern Borderland: Frontier Societies of the Qwara Region (ca. AD 600–1850)" [Ở vùng biên giới phía Đông Sudan: Các xã hội biên giới của khu vực Qwara (khoảng năm 600–1850)]. Journal of African Archaeology. Quyển 15 số 2. Brill. tr. 173–201. doi:10.1163/21915784-12340011. ISSN 1612-1651.
- Gonzalez-Ruibal, Alfredo (2014). An Archaeology of Resistance: Materiality and Time in an African Borderland [Khảo cổ học về sự kháng cự: Vật chất và thời gian ở vùng biên giới châu Phi]. Archaeology in Society. ISBN 978-1442230903.
- Hasan, Yusuf Fadl (1967). The Arabs and the Sudan. From the seventh to the early sixteenth century [Người Ả Rập và Sudan. Từ thế kỷ VII đến đầu thế kỷ XVI]. Đại học Edinburgh. OCLC 33206034.
- O'Fahey, R.S.; Spaulding, Jay L. (1974). Kingdoms of the Sudan [Những vương quốc ở vùng Sudan]. Methuen Young Books. ISBN 0416774504.
- Paez, Pedro (2011). Isabel Boavida; Hervé Pennec; Manuel Joao Ramos (biên tập). Pedro Páez's History of Ethiopia, 1622 [Lịch sử Ethiopia bởi Pedro Páez, 1622]. Quyển 1. Hakluyt Society. ISBN 978-1908145000.
- Spaulding, Jay (1974). "The Fate of Alodia" [Số phận của Alodia] (PDF). Meroitic Newsletter. Quyển 15. Académie des Inscriptions et Belles-Lettres. tr. 12–30. ISSN 1266-1635.
- Spaulding, Jay (1985). The Heroic Age in Sennar [Thời đại anh hùng ở Sennar]. Red Sea. ISBN 1569022607.
- Triulzi, A. (1981). Salt, Gold and Legitimacy: prelude to the history of a no-man's land Bela Shangul, Wallagga, Ethiopia (1800–98) [Muối, vàng và tính hợp pháp: khởi đầu lịch sử của vùng đất vô chủ Bela Shangul, Wallagga, Ethiopia (1800–98)]. Istituto di Studi Orientale. OCLC 10273177.
- Vantini, Giovanni (1975). Oriental Sources concerning Nubia [Nguồn tài liệu phương Đông liên quan đến Nubia]. Heidelberger Akademie der Wissenschaften. OCLC 174917032.
- Vantini, Giovanni (2006). "Some new light on the end of Soba" [Một vài điều được sáng tỏ về sự chấm dứt Alodia]. Trong Alessandro Roccati and Isabella Caneva (biên tập). Acta Nubica. Proceedings of the X International Conference of Nubian Studies Rome 9–ngày 14 tháng 9 năm 2002 [Acta Nubica. Kỷ yếu Hội nghị quốc tế lần thứ X về nghiên cứu Nubia tại Roma, 9–ngày 14 tháng 9 năm 2002]. Libreria Dello Stato. tr. 487–491. ISBN 88-240-1314-7.
- Welsby, Derek; Daniels, C.M. (1991). Soba. Archaeological Research at a Medieval Capital on the Blue Nile [Soba. Nghiên cứu khảo cổ học tại thủ đô thời trung cổ trên sông Nin Xanh]. The British Institute in Eastern Africa. ISBN 1872566022.
- Zarroug, Mohi El-Din Abdalla (1991). The Kingdom of Alwa [Vương quốc Alwa]. Đại học Calgary. ISBN 0-919813-94-1.
Đọc thêm
- Spaulding, Jay L. (1980). "Toward a Demystification of the Funj: Some Perspectives on Society in Southern Sinnar, 1685–1900" [Hướng tới việc làm sáng tỏ người Funj: Một số quan điểm về xã hội Nam Sinnar, 1685–1900]. Northeast African Studies. Nhà xuất bản Đại học Bang Michigan. 2 (1): 1–18. ISSN 0740-9133.