Bước tới nội dung

Tác chiến phòng không

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Các hệ thống phòng không tầm ngắn và tầm xa do Bộ Tư lệnh Phòng không Mặt đất Hợp nhất của Hà Lan sử dụng.

Tác chiến phòng không hay phòng không (tiếng Anh: anti-aircraft warfare – AAW) là hoạt động đối phó với tác chiến đường không[1], bao gồm "mọi biện pháp nhằm vô hiệu hóa hoặc giảm hiệu quả của hoạt động không kích đối phương".[2] Phòng không bao trùm các hệ thống vũ khí bố trí trên mặt đất, từ dưới mặt nước (phóng từ tàu ngầm) và trên không, cùng các hệ thống cảm biến, chỉ huy – điều khiển, và biện pháp thụ động (ví dụ: khinh khí cầu rào cản). Phòng không có thể dùng để bảo vệ lực lượng hải, lục, không quân ở bất kỳ khu vực nào; tuy vậy, với đa số quốc gia, trọng tâm thường là phòng thủ lãnh thổ. Phòng thủ tên lửa là phần mở rộng của tác chiến phòng không, cũng như các nỗ lực thích ứng phòng không để đánh chặn mọi loại vật thể bay.

Phần lớn hệ thống phòng không hiện đại được tối ưu theo tầm: ngắn, trung, hoặc xa, một số tổ hợp tích hợp nhiều loại vũ khí (như vừa có pháo tự động vừa có tên lửa đất đối không). "Phòng không phân lớp" (layered air defence) chỉ nhiều tầng phòng không phối hợp, buộc mục tiêu trên không phải vượt qua từng lớp để tiếp cận mục tiêu; thường đạt được bằng cách kết hợp các hệ thống đã tối ưu theo từng tầm ngắn/trung/xa.

Ở một số quốc gia như AnhĐức trong Thế chiến II, Liên Xô, và NATO/Hoa Kỳ hiện nay, phòng không mặt đất và máy bay phòng không được đặt dưới hệ thống chỉ huy hợp nhất. Tuy vậy, dù phòng không tổng thể hướng tới bảo vệ lãnh thổ (kể cả các cơ sở quân sự), thì các đơn vị tác chiến ngoài thực địa, ở bất cứ đâu, vẫn phải tự tổ chức lực lượng phòng không để đối phó các mối đe dọa từ trên không.

Cho tới thập niên 1950, các loại pháo phòng không cỡ từ 7,62 mm (0,30 in) đến 152,4 mm (6 in) là vũ khí tiêu chuẩn cho các lực lương phòng không; sau đó, tên lửa dẫn đường trở thành lực lượng chủ đạo, ngoại trừ ở cự ly rất ngắn (như hệ thống phòng thủ tầm gần – CIWS, thường dùng pháo tự động nòng xoay, hoặc trong các hệ thống rất hiện đại là phiên bản đất đối không của tên lửa không đối không tầm ngắn, thường kết hợp trong cùng một tổ hợp với pháo nòng xoay).

Thuật ngữ

Thuật ngữ air defence (phòng không) nhiều khả năng được Anh dùng đầu tiên khi thành lập Air Defence of Great Britain (ADGB) như một bộ tư lệnh của Không quân Hoàng gia vào năm 1925. Tuy nhiên, tại Anh khi đó các phương án bố trí phòng không còn được gọi là anti-aircraft, viết tắt là AA, cách gọi này vẫn phổ biến tới tận thập niên 1950.Sau Thế chiến I, AA đôi khi thêm tiền tố "light" hoặc "heavy" (LAA hay HAA) để phân loại cỡ pháo hay cấp đơn vị.

  • AA: viết tắt của anti-aircraft (phòng không)
  • AAA hay triple-A: viết tắt của anti-aircraft artillery (pháo phòng không)
  • flak: từ từ tiếng Đức: Flugzeugabwehrkanone, Fliegerabwehrkanone (nghĩa đen: "pháo chống máy bay")
  • ack-ack: cách đọc theo bảng chữ cái vô tuyến của Anh cho "AA"[3]
  • archie: thuật ngữ Anh thời Thế chiến I, có lẽ do Amyas Borton đặt; được cho là xuất phát từ câu của danh hài George Robey: "Archibald, certainly not!"[4]

NATO định nghĩa tác chiến phòng không là "các biện pháp nhằm bảo vệ một lực lượng hải quân trước các đòn tấn công bằng vũ khí phóng từ máy bay, tàu mặt nước, tàu ngầm và các trận địa trên bờ".[2] Ở một số quân đội, thuật ngữ "phòng khôg toàn diện" (all-arms air defence – AAAD) chỉ phòng không do lực lượng không chuyên trách đảm nhiệm. Từ cuối thế kỷ 20 còn có các thuật ngữ "phòng không măt đất" (ground based air defence" – GBAD); cùng các nhánh "phòng không tầm thấp " (short range air defence – SHORAD) và tên lửa phòng không vác vai (MANPADS). Tên lửa phòng không cũng là nòn cốt của lực lượng phòng không hiện đại, ví dụ gồm RIM-66 Standard, Raytheon Standard Missile 6, hay hệ các hệ thống S-300, S-400,...

Thuật ngữ không phải tiếng Anh tương đương "phòng không" gồm Flak hay FlaK (tiếng Đức: Fliegerabwehrkanone, n.đ. 'pháo chống máy bay',[5] cũng ghi Flugabwehrkanone), thuật ngữ tiếng Nga Protivovozdushnaya oborona (tiếng Nga: Противовозду́шная оборо́на, n.đ.'phòng không'), viết tắt là PVO.[6] Trong tiếng Nga, các hệ thống phòng không còn được gọi zenitnye (i.e., 'hướng lên thiên đỉnh'). Trong tiếng Pháp còn được gọi là Défense contre les aéronefs (DCA) , n.đ. 'phòng thủ chống máy bay'.[7]

Tầm bắn tối đa (khoảng cách lớn nhất pháo hoặc tên lửa có thể đánh trúng máy bay) là một chỉ số quan trọng. Nhưng vì có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nếu không dùng cùng một chuẩn, ta không thể so sánh hiệu năng giữa các loại vũ khí. Với pháo phòng không, chỉ đoạn bay lên của đường đạn là hữu ích. Thuật ngữ "ceiling" (trần) là độ cao tối đa viên đạn đạt được khi bắn thẳng đứng, bản thân nó không thực tế (ít pháo bắn được thẳng đứng, và thời gian ngòi nổ có thể không đủ), nhưng vẫn hữu ích như một chuẩn để so sánh các loại pháo.

Người Anh dùng khái niệm "effective ceiling" (trần hiệu dụng): độ cao mà tại đó khẩu pháo có thể bắn liên tiếp vào mục tiêu đang di chuyển; giá trị này phụ thuộc cả giới hạn thời gian ngòi nổ lẫn khả năng nâng nòng. Đến cuối những năm 1930, định nghĩa của Anh là:"Độ cao tại đó một mục tiêu bay thẳng vào với tốc độ 400 mph [640 km/h] có thể bị đánh chế áp trong 20 giây, trước khi khẩu pháo phải nâng đến góc 70°."[8]

Tổng quan

Một nữ trinh sát thuộc Lực lượng Phòng thủ Lãnh thổ Anh đang dùng ống nhòm tại một sở chỉ huy phòng không, phía trước là pháo phòng không QF 3.7 inch (tháng 12 năm 1942).

Bản chất của tác chiến phòng không là phát hiện máy bay đối phương và tiêu diệt chúng. Vấn đề then chốt là đánh trúng một mục tiêu đang di chuyển trong không gian ba chiều; một đòn tấn công không chỉ phải khớp được ba tọa độ đó mà còn phải khớp đúng vào thời điểm mục tiêu ở vị trí ấy. Điều này có nghĩa là đạn bắn ra hoặc phải được dẫn đường để đánh trúng mục tiêu, hoặc phải ngắm vào vị trí dự đoán của mục tiêu tại thời điểm đạn tới nơi, có tính đến tốc độ và hướng chuyển động của cả mục tiêu lẫn viên đạn.

Trong suốt thế kỷ 20, phòng không là một trong những lĩnh vực công nghệ quân sự phát triển nhanh nhất, vừa đáp ứng theo sự tiến bộ của máy bay, vừa tận dụng các công nghệ như radar, tên lửa dẫn đường và tính toán (ban đầu là tính toán tương tự điện–cơ từ thập niên 1930 trở đi, như các thiết bị được mô tả bên dưới). Các cải tiến diễn ra ở bộ phận cảm biến, kĩ thuật điều khiển hỏa lực, vũ khí, cũng như hệ thống chỉ huy và kiểm soát. Vào đầu thế kỷ 20, những thứ này hoặc còn rất sơ khai, hoặc gần như chưa tồn tại.

Ban đầu, cảm biến là các thiết bị quang học và âm thanh được phát triển trong Thế chiến I và tiếp tục dùng đến thập niên 1930,[9] nhưng nhanh chóng bị radar thay thế; và đến thập niên 1980, radar lại được bổ sung thêm bởi các hệ thống quang–điện tử. Hệ thống chỉ huy và kiểm soát vẫn còn thô sơ cho tới cuối thập niên 1930, khi Anh tạo ra một hệ thống tích hợp[10] cho ADGB, liên kết mạng phòng không mặt đất của Bộ tư lệnh Phòng không Lục quân Anh; tuy nhiên, phòng không triển khai theo đội hình dã chiến vẫn dựa vào những cơ chế kém tinh vi hơn. Sau này NATO gọi các cơ chế đó là một "air defence ground environment" (môi trường phòng không mặt đất), được định nghĩa là "mạng lưới các trạm radar mặt đất và các trung tâm chỉ huy–kiểm soát trong một chiến trường cụ thể, dùng để điều khiển tác chiến phòng không ở cấp chiến thuật"[2]

Quy tắc giao chiến (rules of engagement) rất quan trọng để tránh việc phòng không bắn nhầm máy bay phe ta hoặc máy bay trung lập. Việc áp dụng các quy tắc này được hỗ trợ nhưng không hoàn toàn do các thiết bị điện tử nhận dạng địch–ta (IFF) quyết định; IFF ban đầu được đưa vào sử dụng từ Thế chiến II. Dù các quy tắc xuất phát từ cấp có thẩm quyền cao nhất, những quy tắc khác nhau vẫn có thể áp dụng cho các loại lực lượng phòng không khác nhau đang cùng bảo vệ một khu vực tại cùng một thời điểm. AAAD thường hoạt động theo các quy tắc chặt chẽ nhất.

NATO gọi các quy tắc này là "trạng thái kiểm soát vũ khí" (weapons control status – WCS), gồm:

  • Tự do khai hỏa: vũ khí có thể khai hỏa vào bất kỳ mục tiêu nào không được xác nhận chắc chắn là phe ta.
  • 'Khai hỏa hạn chế: vũ khí chỉ được khai hỏa vào các mục tiêu được xác định là đối phương.
  • Giữ hỏa lực: vũ khí chỉ được khai hỏa để tự vệ hoặc khi có lệnh chính thức.[2]

Cho đến thập niên 1950, pháo phòng không là vũ khí phòng không tiêu chuẩn; sau đó, tên lửa dẫn đường trở nên chủ đạo, ngoại trừ ở các cự ly cực gần. Tuy vậy, loại đầu đạn với cơ chế ngòi nổ và với tên lửa thì là cơ chế dẫn đường rất đa dạng. Mục tiêu không phải lúc nào cũng dễ bị tiêu diệt; nhưng máy bay bị hư hại có thể buộc phải hủy nhiệm vụ, và ngay cả khi kịp quay về và hạ cánh ở lãnh thổ "thân thiện", nó có thể bị loại khỏi hoạt động vài ngày hoặc vĩnh viễn. Bỏ qua vũ khí bộ binh và súng máy cỡ nhỏ, pháo phòng không mặt đất có cỡ nòng rất đa dạng, từ 20 mm đến ít nhất 152 mm.[11]

Phòng không mặt đất được triển khai theo nhiều cách:

  • Tự vệ: lực lượng mặt đất tự dùng vũ khí hữu cơ của mình (AAAD).
  • Phòng thủ đi kèm: các đơn vị phòng không chuyên trách đi cùng các đơn vị thiết giáp hoặc bộ binh.
  • Phòng thủ điểm: bảo vệ quanh một mục tiêu then chốt, như cây cầu, tòa nhà chính phủ quan trọng hoặc tàu.
  • Phòng không khu vực: thường là các "dải" phòng không tạo thành rào chắn, đôi khi là một "vòm" che phủ một khu vực. Quy mô khu vực có thể rất khác nhau: có thể trải dọc biên giới quốc gia (ví dụ các "dải" MIM-23 Hawk và Nike thời Chiến tranh Lạnh chạy theo trục bắc–nam qua Đức), phủ lên khu vực cơ động của một đội hình quân sự, hoặc bao trùm một thành phố hay cảng. Trong tác chiến mặt đất, các khu vực phòng không đôi khi cũng có thể được dùng theo hướng "tấn công" bằng cách tái triển khai nhanh để chặn các tuyến bay đang được máy bay sử dụng.

Phòng không cũng từng bao gồm những yếu tố khác, dù sau Thế chiến II thì phần lớn không còn được dùng nhiều:

  • Khinh khí cầu chắn có dây neo để răn đe máy bay bay thấp dưới độ cao của bóng bay, nơi chúng dễ bị va chạm gây hư hại với các dây thép neo.
  • Cáp giăng ngang thung lũng, đôi khi tạo thành một "bức màn" với các dây cáp dọc thả xuống.[12]
  • Đèn pha để chiếu sáng máy bay ban đêm cho cả kíp ngắm pháo và người vận hành thiết bị quang học; trong Thế chiến II, đèn pha dần được điều khiển theo radar.
  • Màn khói lớn tạo bởi các thiết bị tạo khói trên mặt đất nhằm che mục tiêu và ngăn máy bay ngắm bắn chính xác.

Phòng không thụ động được NATO định nghĩa là "Các biện pháp thụ động nhằm phòng thủ vật lý và bảo vệ nhân lực, các cơ sở thiết yếu và trang bị để giảm thiểu hiệu quả của các cuộc tấn công bằng máy bay hoặc tên lửa".[2] Đây vẫn là hoạt động quan trọng của lực lượng mặt đất và bao gồm ngụy trang, che giấu để tránh bị máy bay trinh sát và máy bay tấn công phát hiện. Các biện pháp như ngụy trang các tòa nhà quan trọng là phổ biến trong Thế chiến II. Trong Chiến tranh Lạnh, đường băng và đường lăn của một số sân bay thậm chí còn được sơn màu xanh lá để khó bị nhận ra.

Tổ chức

Trong khi hải quân thường tự chịu trách nhiệm về phòng không của mình, ít nhất là đối với các tàu chiến khi ở trên biển thì cách thức tổ chức phòng không trên bộ khác nhau giữa các quốc gia và thay đổi theo thời gian.

Trường hợp "cực đoan" nhất là Liên Xô, và mô hình này đến nay vẫn còn được một số nước áp dụng: đây là một quân chủng tách biệt, ngang hàng với lục quân, hải quân, không quân. Ở Liên Xô, lực lượng này gọi là Voyska PVO, bao gồm cả máy bay tiêm kích (tách khỏi không quân) và các hệ thống phòng không mặt đất. Lực lượng này được chia thành hai nhánh, PVO Strany, Lực lượng Phòng không Chiến lược phụ trách phòng không lãnh thổ, thành lập năm 1941 và trở thành quân chủng độc lập năm 1954, và PVO SV, Phòng không của Lục quân. Về sau, hai nhánh này lần lượt được sáp nhập vào không quân và lục quân tương ứng.[13][14]

Ở đầu kia của phổ tổ chức, Lục quân Hoa Kỳ có Binh chủng Pháo binh Phòng không (Air Defense Artillery Branch)đảm nhiệm phòng không mặt đất cho cả lãnh thổ và quân đội ngoài thực địa; tuy nhiên, về tác chiến, lực lượng này đặt dưới quyền Chỉ huy Thành phần Không quân Liên quân (Joint Force Air Component Commander). Nhiều quốc gia khác cũng triển khai binh chủng phòng không trong lục quân. Một số nước, như Nhật Bản hoặc Israel, lựa chọn tích hợp các hệ thống phòng không mặt đất vào không quân của họ.

Ở Anh và một số quân đội khác, một binh chủng pháo binh duy nhất chịu trách nhiệm cả phòng không mặt đất trong nước lẫn ở nước ngoài, mặc dù trong Thế chiến I có chia sẻ trách nhiệm với Hải quân Hoàng gia về phòng không quần đảo Anh. Sang Thế chiến II, Không quân Hoàng gia được thành lập để bảo vệ sân bay ở mọi nơi, bao gồm cả phòng không hạng nhẹ. Các thập niên cuối của Chiến tranh Lạnh, đơn vị này còn có nhiệm vụ bảo vệ cả các căn cứ của Không quân Hoa Kỳ tại Anh. Năm 2004, toàn bộ phòng không mặt đất được rút khỏi thẩm quyền của Không quân Hoàng gia. Bộ Tư lệnh Phòng không Lục quân Anh bị giải tán vào tháng 3/1955,[15] nhưng trong những năm 1960–1970, Bộ Tư lệnh Tiêm kích của RAF vẫn vận hành tên lửa phòng không tầm xa để bảo vệ các khu vực trọng yếu ở Anh. Trong Thế chiến II, Thủy quân Lục chiến Hoàng gia cũng tổ chức các đơn vị phòng không; về hình thức họ thuộc tổ chức phòng thủ căn cứ hải quân cơ động, nhưng tác chiến như bộ phận hữu cơ của phòng không mặt đất do lục quân chỉ huy.

Đơn vị cơ bản của phòng không thường là khẩu đội (battery) với 2–12 khẩu pháo hoặc bệ phóng tên lửa kèm phần tử điều khiển hỏa lực. Các khẩu đội pháo thường triển khai gom cụm trên khu vực nhỏ, dù có thể chia tách; với một số hệ thống tên lửa, chia tách là phương án chuẩn. Đại đội tên lửa tầm ngắn thường trải rộng trên khắp khu vực, các bệ phóng đơn lẻ có thể cách nhau vài kilômét. Khi các hệ thống tên lửa vác vai do lực lượng chuyên trách vận hành, một đại đội có thể có vài chục tổ, triển khai tách rời theo tiểu tổ; pháo phòng không tự hành có thể đi theo cặp.

Cấp trên của khẩu đội thường là tiểu đoàn (hoặc tương đương). Trong lục quân, tiểu đoàn pháo nhẹ hoặc tiểu đoàn phòng không tầm ngắn thường biên chế cho sư đoàn cơ động. Pháo hạng nặng và tên lửa tầm xa có thể trang bị thuộc lữ đoàn phòng không, đặt dưới quân đoàn hoặc cấp cao hơn. Phòng không lãnh thổ có thể tổ chức theo cấu trúc quân sự đầy đủ. Ví dụ, Bộ Tư lệnh Phòng không Lục quân Anh do một thượng tướng lục quân chỉ huy là bộ phận của ADGB; ở đỉnh cao 1941–1942, lực lượng này gồm 3 quân đoàn phòng không với 12 sư đoàn phòng không trực thuộc.[16]

Tham khảo

  1. Wragg, David W. (1973). A Dictionary of Aviation. Osprey. tr. 37.
  2. 1 2 3 4 5 AAP-6
  3. "ack-ack, adj. and n." OED Online. Oxford University Press. tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2013.
  4. "Air Vice-Marshal A E Borton". Air of Authority – A History of RAF Organisation. Rafweb.org. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2009.
  5. "flak". Merriam-Webster Online Dictionary. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 5 2008. Truy cập 30 tháng 6 2008.
  6. Bellamy 1986, tr. 219.
  7. le petit Larousse 2013 p20–p306
  8. Hogg WW2 pg 99–100
  9. Hearst Magazines (tháng 12 năm 1930). "Huge Ear Locates Planes and Tells Their Speed". Popular Mechanics. Hearst Magazines. tr. 895.
  10. Checkland and Holwell pg. 127
  11. Routledge 1994, tr. 456.
  12. Dahl, Per F. (1999). Heavy water and the wartime race for nuclear energy. Bristol [England]: Institute of Physics. ISBN 0-585-25449-4. OCLC 45728821.
  13. Bellamy 1986, tr. 82.
  14. Bellamy 1986, tr. 213.
  15. Beckett 2008, 178.
  16. Routledge 1994, tr. 396–397.

Thư mục

  • AAP-6 NATO Glossary of Terms. 2009.
  • Bellamy, Chris (1986). The Red God of War – Soviet Artillery and Rocket Forces. London: Brassey's.
  • Bethel, Colonel HA. 1911. "Modern Artillery in the Field". London: Macmillan and Co Ltd
  • Checkland, Peter and Holwell, Sue. 1998. "Information, Systems and Information Systems – making sense of the field". Chichester: Wiley
  • Friedman, Norman (2014). Naval Anti-Aircraft Guns & Gunnery. Seaforth. ISBN 9781473852846.
  • Gander, T 2014. "The Bofors gun", 3rd edn. Barnsley, South Yorkshire: Pen & Sword Military.
  • Hogg, Ian V. 1998. "Allied Artillery of World War Two". Malborough: The Crowood Press ISBN 1-86126-165-9
  • Hogg, Ian V. 1998. "Allied Artillery of World War One" Malborough: The Crowood Press ISBN 1-86126-104-7
  • Hogg, Ian V. (1997). German Artillery of World War Two. London: Greenhill Books. ISBN 1-85367-261-0.
  • Routledge, Brigadier NW. (1994). History of the Royal regiment of Artillery – Anti-Aircraft Artillery 1914–55. London: Brassey's. ISBN 1-85753-099-3.
  • Handbook for the Ordnance, Q.F. 3.7-inch Mark II on Mounting, 3.7-inch A.A. Mark II – Land Service. 1940. London: War Office 26|Manuals|2494
  • History of the Ministry of Munitions. 1922. Volume X The Supply of Munitions, Part VI Anti-Aircraft Supplies. Reprinted by Naval & Military Press Ltd and Imperial War Museum.
  • Flavia Foradini: I bunker di Vienna, Abitare 2/2006, Milano
  • Flavia Foradini, Edoardo Conte: I templi incompiuti di Hitler, catalogo della mostra omonima, Milano, Spazio Guicciardini, 17.2–13 March 2009

Liên kết ngoài