Tên lửa đất đối không
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. |
Tên lửa đất đối không hay tên lửa phòng không (tiếng Anh: surface-to-air missile hay SAM) là một loại tên lửa được thiết kế để phóng từ mặt đất hoặc trên biển nhằm tiêu diệt máy bay hoặc các loại tên lửa khác. Đây là một dạng của hệ thống phòng không; trong các lực lượng vũ trang hiện đại, tên lửa đã thay thế hầu hết các loại vũ khí phòng không chuyên dụng khác, và các khẩu pháo phòng không chỉ còn được sử dụng trong một số vai trò chuyên biệt.[1]
Chiến tranh Thế giới thứ hai đánh dấu giai đoạn khởi đầu của việc phát triển tên lửa đất đối không (SAM), tuy nhiên chưa có hệ thống nào được đưa vào thực chiến. Trong thập niên 1940 và 1950, quá trình phát triển tiếp tục diễn ra, và đến nửa sau của thập niên 1950, các cường quốc quân sự lớn đã bắt đầu triển khai những hệ thống tên lửa phòng không hoạt động thực sự. Các hệ thống nhỏ hơn, thích hợp cho phòng thủ tầm gần, được phát triển trong suốt thập niên 1960 và 1970, cho đến khi trở thành những hệ thống hiện đại có thể mang vác với sức người. Các hệ thống lắp đặt trên tàu chiến cũng phát triển song song với các mẫu trên mặt đất — khởi đầu là những vũ khí tầm xa, rồi dần dần tiến tới thiết kế nhỏ gọn hơn để hình thành lớp phòng thủ nhiều tầng (layered defence). Sự phát triển này khiến các hệ thống pháo phòng không ngày càng bị đẩy lùi, chỉ còn đảm nhiệm vai trò phòng thủ tầm cực ngắn.

Lịch sử
Ý tưởng đầu tiên biết đến về một loại tên lửa điều khiển đất-đối-không xuất hiện vào năm 1925, khi một hệ thống “đi theo chùm sáng” (beam-riding) được đề xuất — trong đó một quả rocket sẽ bám theo chùm tia từ đèn chiếu để tới mục tiêu. Một tế bào selenium được gắn ở đầu mỗi trong bốn cánh đuôi của rocket, các tế bào này hướng về phía sau.[2] Khi một tế bào selenium không còn nhận được chùm sáng, rocket sẽ điều khiển về phía ngược lại để đưa tế bào đó trở lại trong chùm sáng. Lần đề cập lịch sử đầu tiên có bản vẽ mô tả ý tưởng và thiết kế một tên lửa đất-đối-không là của nhà phát minh Gustav Rasmus vào năm 1931, người đã đề xuất một thiết kế sẽ dò theo âm thanh động cơ của máy bay để dẫn hướng cho tên lửa.[3]
Thế chiến II
Trong Thế chiến II, người ta bắt đầu nghĩ nghiêm túc đến chuyện phải làm tên lửa đất đối không, vì pháo cao xạ dần tỏ ra không theo kịp máy bay ném bom đang ngày càng bay cao và nhanh. Đạn cao xạ có vùng sát thương khá nhỏ, nên mỗi phát bắn chỉ có một tỉ lệ trúng hiệu quả cố định. Cách duy nhất để tăng khả năng bắn rơi máy bay là bắn thật nhiều khi máy bay còn trong tầm. Ví dụ, với B-17 của Mỹ, loại bay đúng vào tầm của những khẩu pháo 88 mm của Đức – người ta phải bắn trung bình tới 2.805 phát mới hạ được 1 chiếc.[4]
Vấn đề càng rõ khi máy bay bay cao hơn: muốn bắn tới thì phải dùng pháo to hơn, đạn nặng hơn dẫn đến hệ thống đắt hơn, tốc độ bắn lại chậm hơn. Máy bay mà bay nhanh nữa thì ở trong tầm bắn không lâu, chưa kịp bắn nhiều đã bay mất. Với các máy bay cuối chiến tranh như B-29 Superfortress hay máy bay phản lực như Arado Ar 234, pháo phòng không gần như vô dụng.[5]
Điều này thực ra đã được thấy trước. Năm 1942, Walther von Axthelm cảnh báo rằng phòng không bằng pháo sẽ sớm phải đối mặt với máy bay bay 1.000 km/h ở độ cao 10.000–15.000 m, và khi đó pháo sẽ rất khó làm gì được. Đến tháng 11/1943, Giám đốc bộ phận pháo binh của Hải quân Hoàng gia Anh cũng nói thẳng: “bất cứ loại đạn nào mà ta không còn điều khiển được sau khi bắn ra thì đều vô dụng.”
Các nỗ lực của Đức Quốc xã

Những nghiên cứu đầu tiên về tên lửa đất đối không trong quân đội Đức được ghi nhận vào năm 1941. Tháng 2 năm đó, tướng Franz Halder đề xuất khái niệm “tên lửa phòng không” (Flakrakete). Trên cơ sở này, Walter Dornberger giao cho Wernher von Braun soạn thảo một nghiên cứu về loại tên lửa có điều khiển có khả năng vươn tới độ cao từ 15.000 đến 18.000 m (49.000–59.000 ft). Tuy nhiên, von Braun cho rằng phương án máy bay đánh chặn bằng tên lửa có người lái là triển vọng hơn và tháng 7 đã trình bày quan điểm này với giám đốc T-Amt, Roluf Lucht. Bộ phận pháo phòng không của Không quân Đức Quốc xã (Luftwaffe) không ủng hộ giải pháp có người lái, và sự bất đồng giữa nhóm tên lửa và lực lượng phòng không đã khiến việc triển khai nghiêm túc một chương trình SAM bị chậm lại khoảng hai năm.[6]
Từ năm 1942, sau khi Walther von Axthelm công bố những lo ngại về khả năng phòng không trước các loại máy bay bay cao và nhanh, vấn đề tên lửa phòng không mới được xem xét có hệ thống hơn. Các chương trình thử nghiệm tên lửa dùng nhiên liệu lỏng và nhiên liệu rắn được đưa vào Chương trình phát triển pháo phòng không năm 1942. Đến thời điểm này, nhóm Peenemünde đã xây dựng những nghiên cứu sơ bộ cho một số mẫu, trong đó có Feuerlilie (khoảng năm 1940) và, năm 1941, Wasserfall cùng Henschel Hs 117 “Schmetterling”. Tuy nhiên, các dự án này hầu như không đạt được tiến triển thực chất cho tới năm 1943, khi các cuộc oanh tạc quy mô lớn của không quân Đồng minh vào Đức làm xuất hiện nhu cầu tác chiến cấp bách. Trong bối cảnh đó, một số thiết kế mới được bổ sung, đáng chú ý có Enzian và Rheintochter, cùng với loại Taifun không điều khiển, được dự kiến phóng theo loạt.[7]
Các thiết kế tên lửa phòng không của Đức thời đó về cơ bản có thể chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các mẫu được phóng lên trước, tới độ cao phía trước đội hình máy bay ném bom, rồi bay ngược đầu vào mục tiêu với tốc độ tương đương máy bay có người lái; tiêu biểu cho nhóm này là Feuerlilie, Hs 117 Schmetterling và Enzian. Nhóm thứ hai là các tên lửa tốc độ cao, nhiều mẫu được thiết kế đạt tới vận tốc siêu thanh, bay thẳng từ dưới lên mục tiêu; trong nhóm này có Wasserfall và Rheintochter. Cả hai nhóm đều dùng điều khiển vô tuyến, hoặc điều khiển bằng mắt, hoặc điều khiển qua radar bằng cách so sánh tín hiệu của mục tiêu và của tên lửa trên cùng một màn hình. Tất cả các hệ thống này được phát triển song song, nhưng chiến tranh kết thúc trước khi bất kỳ mẫu nào sẵn sàng tác chiến; thêm vào đó, sự cạnh tranh và bất đồng giữa các cơ quan trong quân đội cũng làm chậm tiến độ. Một số thiết kế tiêm kích đặc biệt như Me 163 Komet và Ba 349 Natter cũng phần nào trùng với vai trò mà các tên lửa phòng không này hướng tới.
Bộ trưởng Khí tài và Vũ trang Albert Speer đặc biệt ủng hộ hướng phát triển tên lửa và cho rằng, nếu những chương trình này được triển khai liên tục ngay từ đầu, các đợt oanh tạc quy mô lớn của phe Đồng minh năm 1944 đã khó có thể thực hiện.[8]
Các nỗ lực của phe Đồng Minh
Người Anh đã phát triển các loại tên lửa phòng không không có điều khiển (với tên gọi Z Battery) từ đầu Thế chiến II, nhưng do phe Đồng minh thường nắm ưu thế trên không nên nhu cầu về những vũ khí tương tự không quá cần thiết.
Tình hình thay đổi khi một số tàu chiến của Đồng minh bị đánh chìm vào năm 1943 bởi các loại bom lượn Henschel Hs 293 và Fritz X. Những vũ khí này được thả từ khoảng cách ngoài tầm bắn, khiến máy bay ném bom vẫn ở ngoài tầm bắn của pháo phòng không trên tàu, còn bản thân tên lửa hoặc bom thì quá nhỏ và quá nhanh nên gần như không thể đánh chặn hiệu quả.[9]
Để đối phó mối đe dọa này, Hải quân Hoa Kỳ đã khởi động Chiến dịch Bumblebee nhằm phát triển một loại tên lửa dùng động cơ ramjet để tiêu diệt máy bay ở cự ly xa.[9] Mục tiêu tính năng ban đầu là đánh chặn ở cự ly ngang khoảng 10 dặm (16 km) và độ cao 30,000 foot (9,144 m), mang đầu đạn 300 đến 600 pound (140 đến 270 kg) để đạt xác suất tiêu diệt 30–60%.[10] Vũ khí này phải mất 16 năm mới ra đời và đi vào trang bị với tên gọi RIM-8 Talos.
Tổn thất nặng nề của tàu chiến trước các đòn tấn công cảm tử kamikaze trong Chiến dịch Philippines (1944–1945) và trận Okinawa lại càng thúc đẩy việc phát triển tên lửa dẫn đường.[9][11] Từ đó xuất hiện các chương trình Fairey Stooge và Brakemine của Anh, và tên lửa SAM-N-2 Lark của Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, Lark gặp khá nhiều trục trặc kỹ thuật và không bao giờ được đưa vào sử dụng thực tế. Sau khi chiến tranh kết thúc, các nỗ lực của Anh chỉ còn được dùng như các chương trình nghiên cứu và phát triển mà thôi.[11]
Ra đa dẫn đường

- Akash - Ấn Độ
- Arrow - Israel
- Aster - Anh/Pháp/Italy
- Bloodhound - Anh
- Crotale - Pháp
- Hongqi-9 - Trung Quốc
- MEADS - Mỹ/Đức/Ý
- MIM-3 Nike Ajax - Mỹ
- MIM-14 Nike Hercules - Mỹ
- MIM-23 Hawk - Mỹ
- MIM-72 Chaparral FAADS
- MIM-104 Patriot - Mỹ
- MIM-146 ADATS - Canada
- Nike Zeus - Mỹ
- BAe Blindfire Rapier - Anh
- RIM-2 Terrier - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-7 Sparrow - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-24 Tartar - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-66 Standard Missile-1 - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-67 Standard Missile-2 - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-156 Standard Missile-2ER - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-161 Standard Missile-3 - Hải quân Hoa Kỳ
- RIM-162 Evolved SeaSparrow Missile - Hải quân Hoa Kỳ
- Roland - Pháp/Đức
- SA-1 'Guild' - Liên Xô
- SAM-2 - Liên Xô
- SA-3 'Goa' - Liên Xô
- SA-4 'Ganef' - Liên Xô
- SA-5 'Gammon' - Liên Xô
- SA-6 'Gainful' - Liên Xô
- SA-8 'Gecko - Liên Xô
- SA-10 'Grumble' - Liên Xô
- SA-11 'Gadfly' - Liên Xô
- SA-12A 'Gladiator'/SA-12B 'Giant' - Liên Xô
- SA-15 'Gauntlet' - Liên Xô
- SA-17 'Grizzly' - Liên Xô
- SA-19 'Grisom' - Liên Xô
- SA-20 'Triumf' - Nga
- Sea Cat - Anh
- Sea Dart - Anh
- Sea Slug - Anh
- Sea Wolf - Anh
- Thunderbird - Anh
- Tên lửa Trishul - Ấn Độ
Những kiểu khác:
- Patriot, SA-10, SA-12 và SA-20 sử dụng radar dẫn đường track-via-missile.
- SA-1, SA-2, SA-3, SA-6 và SA-15 sử dụng radar dẫn đường điều khiển.
- SA-5 sử dụng radar dẫn đường điều khiển với radar điều khiển chủ động giai đoạn cuối.
- SA-4, SA-11 và SA-17 sử dụng radar điều khiển với radar điều khiển bán chủ động giai đoạn cuối.
- SA-8 sử dụng dẫn đường line-of-sight điều khiển bán chủ động (SACLOS).
IR-chỉ dẫn của SAM
- Anza MK-I - Pakistan
- Anza MK-II - Pakistan
- Anza MK-III - Pakistan
- CA 94 - România
- CA 95 - Romania
- Chaparral - Hoa Kỳ (đây là một phiên bản phóng từ mặt đất của AIM-9 Sidewinder AAM)
- Enzian - Đức (thời Chiến tranh thế giới thứ hai)
- FIM-43 Redeye - Hoa Kỳ
- FIM-92 Stinger - Hoa Kỳ
- Hongqi-7 - Trung Quốc
- Igla - Nga
- Mistral - Pháp
- RIM-116 Rolling Airframe Missile - Mỹ/Đức, cũng có radar thụ động dẫn đường giai đoạn đầu (ESM)
- SA-7 'Grail' - Liên Xô
- SA-9 'Gaskin - Liên Xô
- SA-13 'Gopher' - Liên Xô
- SA-14 'Gremlin' - Liên Xô
- SA-16 'Gimlet' - Liên Xô
- SA-18 'Grouse' - Liên Xô
- Type 91 - Nhật Bản
- Umkhonto-IR - Nam Phi
Xem thêm
- Rest-of-World Missile Systems Lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2005 tại Wayback Machine from the Federation of American Scientists website
Tham khảo
- ↑ Wragg, David W. (1973). A Dictionary of Aviation . Osprey. tr. 254. ISBN 9780850451634.
- ↑ "Evolution of the Guided Missile". Flight International (bằng tiếng Anh). Reed Business Information. ngày 4 tháng 5 năm 1951. tr. 535. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Corporation, Bonnier (ngày 1 tháng 7 năm 1931). "Popular Science". Bonnier Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015 – qua Google Books.
- ↑ Westerman 2001, tr. 197.
- ↑ Westerman 2001, tr. 111.
- ↑ Westerman 2001, tr. 78.
- ↑ "Scheufeln Taifun". RAF Museum. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2006.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ↑ Speer, Albert (1970). Inside the Third Reich (bằng tiếng Anh). Macmillan. tr. 492.
- 1 2 3 "A Brief History of White Sands Proving Ground 1941–1965" (PDF). New Mexico State University. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Talos Missile History". Hays, Philip R. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010.
- 1 2 Taylor 1975, p.45
- Thư mục
- Davies, Peter. F-105 Wild Weasel vs SA-2 "guideline" SAM, Vietnam 1965–73. Osprey 2011. ISBN 978-1-84908-471-0.
- Hobson, Chris. Vietnam Air Losses, United States Air Force, Navy, and Marine Corps Fixed-Wing Aircraft Losses in Southeast Asia 1961–1973. Midland Publishing 2001. ISBN 1-85780-115-6.
- Michel III, Marshal L. Clashes, Air Combat Over North Vietnam 1965–1972. 1997, Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-519-6
- Westerman, Edward (2001). Flak: German Anti-Aircraft Defenses, 1914–1945. University Press of Kansas. ISBN 0700614206.
- ArtOfWar. Шеломытов Геннадий Яковлевич. Все считали, что такого не могло быть никогда