Bước tới nội dung

Type XXI (lớp tàu ngầm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
U-2540, được trưng bày tại Bảo tàng Hàng hải Đức ở Bremerhaven, là chiếc Type XXI duy nhất còn lại.
Khái quát lớp tàu
Tên gọiType XXI
Xưởng đóng tàu
  • Blohm+Voss
  • AG Weser
  • Schichau-Werke
Bên khai thác
Lớp trước
Lớp sauType XXVI (chưa hoàn tất)
Kinh phí5.750.000 Reichsmark/chiếc[1]
Thời gian đóng tàu1943–1945[1]
Thời gian hoạt động1944–1982
Chế tạo267[2]
Dự tính1.170[2]
Hoàn thành118
Giữ lại1
Đặc điểm khái quát
Kiểu tàutàu ngầm tuần dương
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 76,70 m (251 ft 8 in) (chung) [1]
  • 62,05 m (203 ft 7 in) (lườn áp lực) [3]
Sườn ngang
  • 8,00 m (26 ft 3 in) (chung) [1]
  • 5,30 m (17 ft 5 in) (lườn áp lực) [3]
Chiều cao11,30 m (37 ft 1 in) [3]
Mớn nước6,2 m (20 ft 4 in) [1]
Công suất lắp đặt
  • 4.000 PS (2.900 kW; 3.900 shp) (diesel)
  • 5.000 PS (3.680 kW; 4.930 shp) (điện)
  • 226 PS (170 kW; 220 shp) (im lặng) [1]
Động cơ đẩy
Tốc độ
  • 15,6 hải lý trên giờ (28,9 km/h; 18,0 mph) (nổi)
  • 17,2 hải lý trên giờ (31,9 km/h; 19,8 mph) (lặn)
  • 6,1 hải lý trên giờ (11,3 km/h; 7,0 mph) (im lặng) [1][4]
Tầm xa
  • 15.500 hải lý (28.700 km; 17.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi)
  • 340 hải lý (630 km; 390 mi) ở tốc độ 5 hải lý trên giờ (9,3 km/h; 5,8 mph) (lặn) [1]
Độ sâu thử nghiệm240 m (790 ft)[1]
Thủy thủ đoàn tối đa5 sĩ quan, 52 thủy thủ [5]
Vũ khí
  • 6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 in) (phía mũi)
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 nòng đôi [5]
Bọc giápCầu tàu: 17 mm

U-boat Type XXI là một lớp tàu ngầm diesel–điện Elektroboot (tiếng Đức: "tàu điện") được Hải quân Đức Quốc xã thiết kế trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. 118 chiếc đã được chế tạo hoàn tất, trong đó bốn chiếc đã sẵn sàng hoạt động, nhưng chỉ có hai chiếc tuần tra tác chiến trong chiến tranh, và không chiếc nào được sử dụng trong chiến đấu.

Chúng là những tàu ngầm đầu tiên được thiết kế chủ yếu để hoạt động ngầm dưới nước, hơn là dành phần lớn thời gian trên mặt nước như một hạm tàu nổi và chỉ lặn xuống một thời gian ngắn như là biện pháp né tránh bị phát hiện. Chúng trang bị nhiều cell ắc-quy hơn để gia tăng thời gian có thể đi ngầm dưới mặt nước, có thể lên đến nhiều ngày, và chỉ cần trồi lên độ sâu kính tiềm vọng để nạp lại điện nhờ sửdụng ống hơi. Thiết kế bao gồm nhiều cải tiến chung: tốc độ đi ngầm dưới nước nhanh hơn nhờ cải tiến thiết kế lườn tàu, gia tăng đáng kể thời gian lặn, hệ thống trợ lực nạp lại ngư lôi, và cải thiện đáng kể điều kiện sinh hoạt của thủy thủ. Tuy nhiên thiết kế vẫn còn nhiều khiếm khuyết, chất lượng cơ khí được chế tạo kém tin cậy,[6] và, căn cứ theo nhỡng phân tích sau chiến tranh, mong manh trước những hư hại trong chiến đấu. Tàu ngầm Type XXI được vội vã đưa vào chế tạo trong khi công việc thiết kế vẫn chưa thực sự hoàn tất, và các cơ sở đóng tàu ít kinh nghiệm không thể đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng cần thiết.

Sau chiến tranh, hải quân nhiều nước đã sở hữu những chiếc Type XXI, và sử dụng chúng trong nhiều vai trò khác nhau, trong khi các cường quốc hải quân đưa ra các thiết kế tàu ngầm mới dựa trên nó. Chúng bao gồm lớp Whiskey của Liên Xô, lớp Tang của Hoa Kỳ, lớp Porpoise của Anh, và Hajen III của Thụy Điển, tất cả đều dựa trên thiết kế của Type XXI trong một chừng mực nào đó.[7]

Mô tả

Những đặc tính chính của Type XXI là hình dạng của thân tàu và tháp chỉ huy có dáng suôn thẳng thủy động học, và một số lượng lớn ắc-quy gấp ba lần so với một tàu ngầm Type VII. Điều này cho phép các con tàu có tầm hoạt động dưới nước lớn hơn và giảm đáng kể thời gian cần ở trên hay gần mặt nước. Chúng có thể di chuyển ngầm ở tốc độ 5 kn (9,3 km/h) cho đến 75 giờ trước khi cần phải nạp lại ắc-quy, vốn cũng chỉ mất không đầy năm giờ sử dụng ống hơi nhờ động cơ diesel tăng áp kiểu mới.[8]

Được thiết kế chủ yếu để đi ngầm dưới nước, tốc độ tối đa của tàu ngầm Type XXI trên mặt nước chỉ đạt 15,6 kn (28,9 km/h), chậm hơn so với 18,2 kn (33,7 km/h) của Type IX. Tuy nhiên tốc độ đi ngầm tối đa lại cao hơn gấp đôi, 17,2 kn (31,9 km/h) so với 7,7 kn (14,3 km/h), vì chúng được trang bị động cơ điện công suất lớn hơn và ít lực cản hơn.[9][10]

Tàu ngầm Type XXI cũng im lặng hơn đáng kể so với Type VII, khiến chúng khó bị phát hiện hơn khi lặn, và thiết kế cũng loại bỏ các thành phần nhô ra tạo ra lực cản trên những kiểu mẫu trước. Thiết kế lườn tàu suôn thẳng mới cho phép tốc độ đi ngầm lên đến 17,2 kn (31,9 km/h) so với 7,6 kn (14,1 km/h) của Type VIIC.[11]

Khả năng đi ngầm nhanh hơn nhiều hạm tàu nổi, kết hợp với thời gian lặn được cải thiện, khiến cho Type XXI khó bị truy đuổi và tiêu diệt hơn.[8] Tính năng này cũng trợ giúp vào khả năng cơ động nhanh vào vị trí thuận tiện cho một đợt tấn công. Các tàu U-boat trước đây phải đi nổi nhanh để cơ động vào vị trí, nên thường bị đối phương phát hiện hơn, đặc biệt là khi máy bay được huy động để hộ tống các đoàn tàu vận tải. Type XXI cũng được trang bị một cặp động cơ điện tốc độ chậm để di chuyển ngầm ở chế độ im lặng.[8]

Tàu ngầm Type XXI được trang bị sáu ống phóng ngư lôi (trong khi hầu hết các kiểu U-boat khác chỉ có bốn ống), và mang theo 23 quả ngư lôi.[12] Chúng có hệ thống trợ lực nạp lại ngư lôi bằng điện, cho phép nạp lại cả sáu quả ngư lôi nhanh hơn thời gian một chiếc Type VIIC có thể nạp lại một quả.[13] Type XXI có thể phóng toàn bộ 18 quả ngư lôi trong vòng 20 phút. Nó cũng có hệ thống sonar thụ động khá nhạy vào thời đó. U-boat Type XXI cũng có tiện nghi về chỗ ở rộng rãi hơn cho thủy thủ đoàn, và một tủ đông để giữ cho thực phẩm không bị hư hỏng.[14] Type XXI có đủ chỗ cho một thủy thủ đoàn đầy đủ 57 người.[15][16]

Một đánh giá về Type XXI được Hải quân Hoa Kỳ thực hiện sau chiến tranh kết luận rằng: trong khi thiết kế có nhiều ưu điểm đáng ngưỡng mộ, nó cũng có những thiếu sót nghiêm trọng.[17] Công suất động cơ diesel kém làm giới hạn tốc độ di chuyển trên mặt nước và kéo dài thời gian nạp lại điện cho ắc-quy. Hệ thống thủy lực phức tạp một cách không cần thiết, và những bộ phận thiết yếu đặt bên ngoài lườn áp lực làm cho chúng dễ bị ăn mòn và hư hại. Ống hơi cũng được thiết kế kém và khó sử dụng trong thực tế. [18]

Chế tạo

Sơ đồ chế tạo bao gồm chín mô-đun được tiền chế và lắp ráp

Type XXI là những tàu U-boat đầu tiên được đóng theo mô-đun, cho phép mỗi phần được chế tạo tại các nhà máy khác nhau trước khi được lắp ráp tại xưởng tàu.[8] Trong giai đoạn từ năm 1943 đến năm 1945, 118 chiếc đã được lắp ráp tại các xưởng tàu Blohm & Voss ở Hamburg, AG Weser ở Bremen, và Schichau-Werke ở Danzig. Mỗi lườn tàu bao gồm chín mô-đun được tiền chế trước khi được lắp ráp sau cùng tại xưởng tàu. Phương thức đóng tàu mới trên lý thuyết cho phép hoàn tất mỗi chiếc trong vòng không đầy sáu tháng, nhưng trong thực tế những tàu U-boat được lắp ráp gặp những sự cố về chất lượng nghiêm trọng, nên mất thời gian và công sức đáng kể để chỉnh sửa.[8]

Một trong những nguyên nhân của những khiếm khuyết này là do các mô-đun được sản xuất bởi những công ty ít có kinh nghiệm về đóng tàu, sau một quyết định của Albert Speer. Kết quả là, trong số 118 chiếc Type XXI được đóng, chỉ có bốn chiếc đủ điều kiện để tác chiến trước khi Thế Chiến II kết thúc tại Châu Âu. Trong đó chỉ có hai chiếc tham gia tuần tra chiến đấu, và không đánh chìm được tàu bè Đồng Minh nào.[19] Khảo sát của Hải quân Hoàng gia AnhHải quân Hoa Kỳ sau chiến tranh cho thấy những chiếc đã hoàn tất có chất lượng cấu trúc lườn tàu kém do những vấn đề về sản xuất. Điều này đã làm cho thân tàu trở nên mong manh trước những hư hại bởi mìn sâu, và không thể lặn sâu so với những tàu ngầm U-boat được đóng trước đây.[17]

Phía Đức dự định sẽ tiến hành lắp ráp những tàu ngầm Type XXI tại hầm tàu ngầm Valentin, một boong ke được gia cố chống bom lớn tại cảng Farge gần Bremen.[20] Hầm này được chế tạo từ năm 1943 đến năm 1945, sử dụng khoảng 10.000 lao động cưỡng bức từ các trại tập trung và tù binh chiến tranh.[21] Cho đến tháng 3, 1945, cơ sở này đã hoàn tất được 90%, khi nó bị hư hại nặng bởi một cuộc ném bom của Đồng Minh có sử dụng bom Grand Slam, nên đã bị bỏ không trước khi bị quân đội Anh chiếm vài tuần sau đó.[22]

Do những vấn để cả về thiết kế lẫn chế tạo, nhiều sử gia chiến tranh đã đánh giá rằng "Type XXI không thể tạo ra sự đột biến lớn nào cho Trận Đại Tây Dương.[17]

Cảm biến

Sơ đồ một tàu U-boat Type XXI của Hải quân Hoa Kỳ. Lưu ý vòm lớn dạng giọt nước chứa dãy đầu dò âm thanh phía dưới mũi tàu. Vòm sonar làm chậm con tàu, nhưng kích thước và nơi bố trí giúp tăng độ nhạy và bao quát gần 360° chung quanh tàu.

Cảm biến radar

Cảm biến radar FuMB Ant 3 Bali cùng ăn-ten được bố trí trên đầu ống hơi.

Bộ phát radar

Tàu ngầm Type XXI được trang bị radar FuMO 65 Hohentwiel U1 với bộ phát radar Type F432 D2

Phục vụ thời chiến và sau chiến tranh

Đức

Ba tàu U-boat Type XXI U-boat và một chiếc Type VII đang neo đậu tại Bergen, Na Uy vào tháng 5, 1945. Chiếc Type XXI ở giữa là U-2511

U-2511U-3008 là những tàu ngầm Type XXI duy nhất từng tham gia tuần tra trong chiến tranh. Hạm trưởng của U-2511, Thiếu tá Adalbert Schnee, từng tự nhận rằng vào ngày 4 tháng 5, 1945, ông đã đưa tàu tuần dương hạng nặng HMS Norfolk của Hải quân Hoàng gia Anh vào trong tầm ngắm, khi nhận được mệnh lệnh ngừng bắn từ Đô đốc Karl Dönitz. Ông tiến hành một cuộc tấn công giả lập trước khi bỏ đi mà không bị đối phương phát hiện.[23]

Vào năm 1957, tàu ngầm U-2540, vốn đã bị đánh đắm vào cuối chiến tranh, đã được trục vớt, sửa chữa và tái trang bị tại xưởng tàu của hãng Howaldtswerke Werft ở Kiel. Nó đã tiếp tục hoạt động như là tàu ngầm nghiên cứu Wilhelm Bauer của Hải quân Đức, được vận hành bởi cả thủy thủ đoàn quân sự và dân sự cho mục đích nghiên cứu, cho đến năm 1982. Từ năm 1984, nó được trưng bày như một tàu bảo tàng tại Bảo tàng Hàng hải Đức tại Bremerhaven, và là chiếc Type XXI duy nhất còn lại cho đến nay.

Pháp

U-2518 đã phục vụ cùng Hải quân Pháp như là chiếc Roland Morillot (S613), và đã từng được sử dụng trong vụ Khủng hoảng Kênh đào Suez vào năm 1956. Con tàu bị tháo dỡ vào năm 1969.

Liên Xô

Bốn chiếc Type XXI đã được chuyển giao cho Liên Xô theo quyết định của Ủy ban Hải quân Tam cường sau Hội nghị Potsdam: U-2529, U-3035,U-3041U-3515, và nhập biên chế cùng Hải quân Liên Xô dưới các tên gọi B-27, B-28,B-29B-30 (sau đổi thành B-100) tương ứng. Tuy nhiên tình báo phương Tây tin rằng Liên Xô đã sở hữu thêm nhiều chiếc Type XXI khác. Tình báo Hoa Kỷ đã ước lượng vào tháng 1, 1948 rằng Hải quân Liên Xô có 15 chiếc Type XXI đang hoạt động, có thể hoàn tất thêm sáu chiếc nữa trong vòng hai tháng, và có thể đóng thêm 39 chiếc khác trong vòng một năm rưỡi từ những mô đun chế tạo sẵn, vì nhiều nhà máy chế tạo các bộ phận của Type XXI cũng như xưởng lắp ráp tại Danzig đều nằm trong khu vực do họ kiểm soát từ sau Thế Chiến II.[24]

Những chiếc từ U-3538 đến U-3557 (TS-5 đến TS-19TS-32 đến TS-38, tương ứng) đã không được hoàn tất tại Danzig, và đã bị đánh chìm hay tháo dỡ vào năm 1947. Bốn chiếc được chuyển giao được sử dụng trong thử nghiệm cho đến năm 1955, và sau đó bị đánh chìm hay dùng để thử nghiệm vũ khí từ năm 1958 đến năm 1973. Thiết kế của Type XXI là cơ sở cho nhiều thiết kế tàu ngầm diesel-điện của Liên Xô, như các Đề án 611, 613, 614, 633, và 644. Chúng trở thành các lớp tàu ngầm mà phía NATO biết đến dưới các tên mã Zulu, Whiskey và Romeo.[24]

Anh Quốc

Tàu ngầm U-3008 tại Xưởng hải quân Portsmouth, Kittery, Maine, Hoa Kỳ

Chiếc U-3017 đã nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS N41. Nó được sử dụng để thử nghiệm cho đến khi bị tháo dỡ vào tháng 11, 1949.

Hoa Kỳ

Hải quân Hoa Kỳ đã sở hữu hai chiếc: U-2513U-3008, và cùng hoạt động tại khu vực Đại Tây Dương. Vào tháng 11, 1946, Tổng thống Harry S. Truman đã viếng thăm U-2513; chiếc tàu ngầm đã đưa Truman lặn đến độ sâu 440 ft (130 m).[25]

U-2513 bị đánh chìm như mục tiêu thực hành vào ngày 7 tháng 10, 1951; U-3008 bị bán để tháo dỡ vào ngày 15 tháng 9, 1955.

Những chiếc còn sống sót

Wilhelm Bauer (U-2540), được bảo tồn như một tàu bảo tàng nổi tại Bảo tàng Hàng hải Đức ở Bremerhaven.

Chiếc tàu ngầm U-boat Type XXI duy nhất còn sống sót nguyên vẹn là chiếc Wilhelm Bauer (nguyên là U-2540), hiện là tàu bảo tàng nổi tại Bảo tàng Hàng hải Đức ở Bremerhaven.[26] Dữ liệu cho biết con tàu đã bị thủy thủ đoàn của nó đánh đắm vào năm 1945, được trục vớt năm 1957 và sửa chữa để phục vụ thử nghiệm cùng Hải quân Tây Đức dưới tên gọi Wilhelm Bauer cho đến năm 1982. Sau đó con tàu được phục chế trở lại theo cấu hình thời chiến tranh cho mục đích trưng bày.[27]

Những xác tàu đắm nổi bật

Xác tàu đắm của nhiều chiếc Type XXI đã được biết đến. Vao năm 1985, người ta khám phá thấy những gì còn lại của các chiếc U-2505, U-3004U-3516 vẫn còn lại bên trong boong-ke U-boat "Elbe II" bị phá hủy một phần tại Hamburg. Hầm ngầm này đã bị chôn lấp, nhưng không ngăn được nhiều người săn tìm cổ vật xâm nhập qua những cửa nắp và đào xới để lấy cổ vật.[26] Các xác tàu này hiện đang nằm bên dưới một bãi đậu xe, và không thể xâm nhập được.[28]

Xác tàu đắm của U-2513 nằm ở độ sâu 213 ft (65 m), cách Key West, Florida khoảng 70 nmi (130 km) về phía Tây. Con tàu đã được các thợ lặn thăm viếng, nhưng độ sâu này chỉ phù hợp cho những thợ lặn chuyên nghiệp hay nghiệp dư cấp cao. Bốn chiếc khác đang nằm ngoài khơi bờ biển Bắc Ireland, nơi chúng bị đánh chìm vào năm 1946 trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight. Các chiếc U-2511U-2506 được nhà khảo cổ đại dương Innes McCartney tìm thấy trong các đợt thám hiểm từ năm 2001 đến năm 2003.[29][30] Cả hai đều ở trong tình trạng tốt. Đến tháng 4, 2018, xác tàu đắm của U-3523 được tìm thấy ở phía Bắc Skagen, Đan Mạch.[31]

Tầm ảnh hưởng

Thiết kế của Type XXI có ảnh hưởng trực tiếp đến thiết kế của những tàu ngầm tiên tiến sau Thế Chiến II, như các đề án tàu ngầm Whiskey, Zulu Romeo của Liên Xô.[32] Chúng cũng như đưa đến những nâng cấp trong Chương trình Công suất đẩy dưới nước lớn hơn (GUPPY: Greater Underwater Propulsion Power Program) dành cho các lớp tàu ngầm Gato, Balao Tench của Hoa Kỳ.[33] Lớp tàu ngầm Ming do Trung Quốc chế tạo cũng dựa trên bản vẽ do Liên Xô cung cấp.

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 84–85.
  2. 1 2 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 84–89.
  3. 1 2 3 4 Helgason, Guðmundur. "Type XXI". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  4. "U-boat Archive - Design Studies - Type XXI". Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  5. 1 2 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 85.
  6. Jones, Marcus O. (2014). "Innovation for Its Own Sake: The Type XXI U-boat". Naval War College Review. Quyển 67 số 2. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2025. tr. 10: Những lườn tàu Type XXI bị ảnh hưởng bởi khiếm khuyết của bộ siêu tăng áp động cơ diesel, hệ thống thủy lực nạp lại ngư lôi, hệ thống lái...{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết)
  7. Sutton, H. I. (ngày 7 tháng 3 năm 2021). "World-Submarine-Family-Tree". Covert Shores. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  8. 1 2 3 4 5 Williamson (2005), tr. 57.
  9. "German Type IX U-Boat - history, specification and photos". Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  10. Williamson (2005), tr. 58.
  11. "History, U-Boot Wilhelm-Bauer". Museum Harbour of Bremerhaven. ngày 2 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
  12. Williamson (2005), tr. 59.
  13. Breyer (1999), tr. 18–19.
  14. Gerken (1989), tr. 57.
  15. Gardiner (1990), tr. 183.
  16. Williamson (2005), tr. 60.
  17. 1 2 3 Blair 2000, tr. x.
  18. Blair 2000, tr. xi.
  19. Tooze (2006), tr. 616–618.
  20. Flower (2004), tr. 350.
  21. Buggeln, Marc. "Neuengamme / Bremen-Farge". Holocaust Encyclopedia. United States Holocaust Memorial Museum. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011.
  22. Flower (2004), tr. 351.
  23. Van der Vat (1994), tr. 353.
  24. 1 2 Polmar & Moore (2004), tr. 23-24.
  25. "Truman Dives 440 Feet In German Sub". The Pittsburgh Press. UP. ngày 21 tháng 11 năm 1946. tr. 9. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  26. 1 2 Showell (2002).
  27. Williamson (2012), tr. 61.
  28. "3 Type XXI boats in the Elbe II in Hamburg". uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  29. "Uboat.net Operation Deadlight dives 2001". Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  30. "Uboat.net Operation Deadlight dives 2002". Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  31. Ritzau (ngày 13 tháng 4 năm 2018). "Rare wreckage of groundbreaking nazi submarines found in the Skagerrak". tv2.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018.
  32. Fitzsimons (1978), tr. 2594, 2620.
  33. Friedman (1994), tr. 23–28, 35, 40–43.

Thư mục

Liên kết ngoài