Bước tới nội dung

Tseax Cone

Tseax Cone
Toàn cảnh chụp từ trên cao một ngọn núi lửa hình nón, thưa thớt cây cối, với miệng núi lửa ở đỉnh; xung quanh là rừng và một hồ nước ở phía hậu cảnh.
Nón núi lửa Tseax với hồ Melita ở phía hậu cảnh.
Độ cao609 m (1.998 ft)[1]
Phiên dịchWhere the Fire Ran Out (Nơi ngọn lửa lụi tàn)[2]
Vị trí
Dãy núiDãy Nass[3]
Tọa độ55°06′38″B 128°53′56″T / 55,11056°B 128,89889°T / 55.11056; -128.89889[4]
Địa chất
KiểuNón xỉ[5]
Tuổi đá< 800 năm tuổi[6]
Phun trào gần nhất1690 ± 150 năm[7]

Tseax Cone (/ˈsæks/ SEE-aks) là một núi lửa nhỏ nằm trong dãy Nass thuộc dãy núi Hazelton, ở tây bắc tỉnh British Columbia, Canada. Núi lửa này có độ cao 609 mét (1.998 feet) và tọa lạc trong một thung lũng chạy theo hướng đông–tây, nơi một nhánh của sông Tseax chảy qua.

Núi lửa gồm hai cấu trúc lồng vào nhau và là nguồn phát sinh của bốn dòng dung nham chảy xuống các thung lũng lân cận. Ngoài ra, còn có một tâm phun trào thứ cấp nằm ngay phía bắc Tseax Cone, nằm ở bờ đối diện của hồ Melita. Tâm phun trào này có khả năng hình thành cùng thời điểm với Tseax Cone, tuy nhiên thời gian chính xác của hoạt động núi lửa tại hai tâm phun trào vẫn chưa được xác định rõ; cả hai đều được cho là hình thành do hoạt động núi lửa trong vòng 800 năm trở lại đây.

Thời điểm chính xác của hoạt động núi lửa tại Tseax Cone từ lâu vẫn còn gây tranh cãi do không có bất kỳ ghi chép lịch sử trực tiếp nào; việc xác định tuổi bằng carbon phóng xạ[8] đối với các loài thực vật bị dung nham hoặc vật chất phun trào (ejecta) tiêu diệt cho thấy những mốc thời gian rất khác nhau, dao động từ khoảng 625 ± 70 năm cho đến chỉ khoảng 190 ± 15 năm. Ngoài ra, vẫn tồn tại tranh luận về việc núi lửa này được hình thành trong một đợt phun trào duy nhất hay qua nhiều đợt phun trào riêng biệt; giả thuyết một đợt phun trào đã được các nhà nghiên cứu đề xuất từ sớm, vào năm 1923, trong khi giả thuyết nhiều đợt phun trào chỉ được đưa ra vào năm 1978. Phần lớn các nghiên cứu hiện nay cho rằng Tseax Cone được hình thành trong một đợt phun trào duy nhất, và các dữ liệu mới công bố vào năm 2020 đã tiếp tục ủng hộ cho giả thuyết này.

Tseax Cone là chủ đề của nhiều truyền thuyết do các cộng đồng bản địa địa phương truyền lại; theo các câu chuyện này, núi lửa đã gây ra sự tàn phá các ngôi làng nằm dọc theo sông Nass, đồng thời khiến nhiều người thiệt mạng do hít phải khí núi lửa (tiếng Anh: volcanic fumes), mặc dù cũng có khả năng còn tồn tại những nguyên nhân tử vong khác. Có nguồn cho rằng số người chết trong một đợt phun trào của Tseax Cone có thể lên tới khoảng 2.000 người; nếu con số này là chính xác, đây sẽ là thảm họa địa chất gây chết người nhiều nhất trong lịch sử Canada, và là thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng thứ hai của quốc gia này xét theo số người thiệt mạng. Vì lý do đó, Tseax Cone thường được mô tả là ngọn núi lửa nguy hiểm và gây chết người nhiều nhất tại Canada. Trong trường hợp núi lửa này phun trào trở lại, các đợt phun mới có thể gây ra cháy rừng trên diện rộng và làm tắc nghẽn các dòng suối địa phương do dung nham chảy xuống.

Tseax Cone nằm trong một vùng sinh thái đặc trưng bởi địa hình núi non gồ ghề, xen kẽ với nhiều con suối chảy qua; quanh khu vực núi lửa này tồn tại các khu rừng mưa, đồng thời là nơi sinh sống của nhiều loài động vật có vú khác nhau. Trên phần lớn các dòng dung nham từng phun trào từ Tseax Cone, bề mặt hiện nay được bao phủ bởi địa yrêu, mặc dù ở nhiều nơi, các khu rừng mưa rậm rạp và các thủy vực cũng che khuất những dòng dung nham này. Sau ít nhất 20 năm liên tục kêu gọi việc bảo vệ khu vực, núi lửa và các dòng dung nham liên quan đã chính thức được thành lập thành Công viên tỉnh Nisga'a Memorial Lava Bed vào năm 1992. Tseax Cone cùng với các dòng dung nham của nó hiện có thể tiếp cận được thông qua các tuyến đường cao tốc cấp tỉnh cũng như các tuyến đường vùng sâu, vùng xa.

Tên gọi và từ nguyên

Tseax Cone từng được gọi bằng nhiều tên khác nhau, bao gồm Aiyansh Volcano, Aiyansh River Volcano, Tseax River Cone và Tseax Volcano.[9] Tên gọi Aiyansh bắt nguồn từ một từ trong ngôn ngữ Nisga'a, mang nghĩa là “ra lá sớm” hoặc “lá non xuất hiện sớm”, trong khi đó Tseax cũng xuất phát từ một từ Nisga'a, có nghĩa là “nguồn nước mới”.[10] Tên Tseax có thể là một cách gọi ám chỉ sự xáo trộn trong hệ thống dòng chảy của sông Tseax, hiện tượng được cho là do một đợt phun trào núi lửa từ ngọn núi này gây ra.[11] Tên gọi địa phương đã được sử dụng rộng rãi là Tseax Cone chính thức được công nhận vào ngày 13 tháng 12 năm 1991, và sau đó được đưa vào bản đồ của Hệ thống Bản đồ Địa hình Quốc gia với mã số 103P/2.[4][3] Đối với cộng đồng người Nisga'a địa phương, Tseax Cone được gọi là Wil Ksi Bax̱hl Mihl; trong ngôn ngữ của họ, tên gọi này có nghĩa là “nơi ngọn lửa tắt”, ám chỉ vụ phun trào núi lửa đã khiến dung nham phun trào dữ dội từ miệng núi lửa.[12][2]

Địa lý

Vị trí và khí hậu

Tseax Cone nằm cách thành phố Terrace khoảng 60 kilômét (37 dặm) về phía bắc, gần các ngôi làng của người Nisga'a là Gitwinksihlkw và Gitlaxt'aamiks, thuộc khu Cassiar Land District ở vùng tây bắc tỉnh British Columbia, Canada.[12][13][14][15] Núi lửa này nằm trong một thung lũng dốc hai bên, kéo dài khoảng 5 km (3,1 dặm), có hướng đông–tây, và cắt xuyên qua dãy Nass thuộc hệ thống núi Hazelton.[3][16][17] Tseax Cone tọa lạc ngay tại cửa thoát của hồ Melita, một phần mở rộng của suối Crater Creek, con suối này chảy theo hướng tây và đổ vào sông Tseax.[4][18][19] Suối Crater Creek có tên gọi như vậy vì có mối liên hệ trực tiếp với Tseax Cone, vốn nằm ở phía đông của con suối này.[4][18] Về phân vùng sinh thái, khu vực sinh thái Nass Mountains Ecosection là phân khu sinh thái chính bao quanh núi lửa Tseax Cone.[20]

Khu vực này có kiểu khí hậu mang tính chuyển tiếp, nằm giữa khí hậu ven biểnkhí hậu lục địa. So với các khu vực khác trong vùng sinh thái Nass Ranges, nơi đây có lượng mưa cao hơn, nguyên nhân là do các khối không khí ẩm xâm nhập từ bờ biển Thái Bình Dương. Phần lớn không khí từ Thái Bình Dương đi vào khu vực thông qua thung lũng sông Skeena, hoặc tràn qua dãy núi Kitimat, từ đó hình thành mây dày và gây ra những đợt mưa lớn.[20] Ngoài ra, trong một số thời điểm nhất định, các đợt không khí lạnh từ Bắc Cực tràn xuống từ phía bắc cũng có thể gây ra những khoảng thời gian ngắn với nhiệt độ cực thấp và lượng tuyết rơi dày.[21]

Hệ sinh vật

Jagged, moss-covered rocks in a valley bounded by lightly snow-covered mountains
Đá dung nham phủ rêu ở thung lũng Nass.

Địa y và rêu bao phủ một phần lớn các dòng dung nham có nguồn gốc từ Tseax Cone;[22] chúng có màu sắc trải dài từ xanh lục đến vàng, đạt độ dày vài centimét, và tạo cảm giác thị giác như thể bề mặt các dòng dung nham được phủ một lớp lông.[22][23] Ngoài ra, trên các dòng dung nham này còn xuất hiện với số lượng rất nhỏ các loài cỏ và các dạng cây bụi thấp.[23] Tại thung lũng sông Tseax, các dòng dung nham gần như bị bao phủ hoàn toàn bởi rừng mưa nhiệt đới rậm rải; các loài cây độc cần ven biển phương Tây[24] (từ gốc tiếng Anh: Coastal Western Hemlock) và cây độc cần trên núi[24] (tạm dịch từ gốc tiếng Anh: Mountain Hemlock)[a] cận Bắc Cực tạo thành các khu rừng mưa trong khu vực.[25][26] Hệ động vật trong khu vực bao gồm các loài như marmot, dê núi, gấu và nai sừng tấm.[27]

Mặc dù các dòng dung nham đã được bao phủ bởi địa y, rêu và cả rừng mưa, nhưng chúng vẫn có thể dễ dàng nhận diện thông qua ảnh chụp từ trên không, ảnh vệ tinh cũng như các quan sát thực địa.[22] Tuy nhiên, tình trạng này có thể sẽ thay đổi vào cuối thế kỷ XXI, khi các khu rừng thông Pinus contorta và rừng cây Dương tiếp tục phát triển trên bề mặt các dòng dung nham, trong bối cảnh khí hậu ngày càng ẩm ướt và ôn hòa hơn. Sự phát triển của các khu rừng này còn được thúc đẩy bởi việc các con suối địa phương lắng đọng phù sa lên các dòng dung nham, qua đó hình thành lớp đất nền cần thiết cho thảm thực vật sinh trưởng.[28]

Địa chất và địa mạo

Bối cảnh

Tseax Cone là một trong những núi lửa nằm ở cực nam của Tỉnh núi lửa Cordillera phương Bắc.[29] Đây là một khu vực rộng lớn, bao gồm núi lửa hình khiên,[30] đồi dung nham,[31] nón xỉ[32]núi lửa tầng,[33] kéo dài từ tây bắc British Columbia, xuyên qua Yukon, đến vùng cực đông của Alaska.[34] Các loại đá chiếm ưu thế cấu tạo nên những núi lửa này là bazan và hawaiite; ngoài ra, nephelin, basanit cùng các loại phonolite, trachyte và comendite[b] cũng xuất hiện với mật độ đáng kể ở một số khu vực. Các loại đá này được hình thành từ các đợt phun trào núi lửa diễn ra trong khoảng từ 20 triệu năm trước cho đến chỉ vài trăm năm gần đây. Nguyên nhân của hoạt động núi lửa trong Tỉnh núi lửa Cordillera phương Bắc được cho là do quá trình tách giãn của dãy Cordillera Bắc Mỹ, bắt nguồn từ những thay đổi trong chuyển động tương đối giữa mảng Bắc Mỹ và mảng Thái Bình Dương.[36]

Thạch học

A sparsely tree-covered volcanic cone with a bowl-shaped crater on the top
Nón núi lửa Tseax khi nhìn từ phía đông nam

Tseax Cone và các sản phẩm phun trào của nó có thành phần basanit, trachybazan hoặc bazan.[37][38] Các loại đá này giàu oxide sắt–titan, và được hình thành từ mức độ nóng chảy từng phần thấp ở độ sâu khoảng 55–62 km dưới bề mặt, trong phần trên của vỏ Trái Đất.[39] Olivin, plagioclase và các oxide sắt–titan tồn tại dưới dạng tinh thể lớn (phenocryst),[c] trong khi pyroxen xuất hiện dưới dạng khoáng vật nền.[41] Việc thiếu vắng các tinh thể pyroxen dạng phenocryst trong dung nham của Tseax Cone là một hiện tượng phổ biến, cũng được ghi nhận ở nhiều loại dung nham mafic khác[d] trong toàn bộ Tỉnh núi lửa Cordillera phương Bắc.[43] Tseax Cone và các sản phẩm phun trào của nó nằm bất chỉnh hợp trên các đá trầm tích (tiếng Anh: sedimentary rock) thuộc nhóm Bowser Lake — một nhóm địa chất có niên đại kỷ Jurakỷ Phấn Trắng, bao gồm sa thạch màu xám, cùng các tập hợp đá cuội kết, bột kết và đá bùn màu xám đậm đến đen.[16]

Dung nham và đá vụn[44] từ Tseax Cone bao phủ một diện tích 36 km2 (14 dặm vuông Anh) và có tổng thể tích xấp xỉ 0,5 km3 (0,12 mi khối).[45][46] Thể tích của lượng vật liệu núi lửa này tương đương với thể tích vật liệu được tạo ra trong đợt phun trào năm 1984 của Mauna Loa và đợt phun trào khe nứt số 8 của Kīlauea năm 2018. Các dòng dung nham của Tseax Cone được cho là đã lắng đọng với tốc độ cao trong một khoảng thời gian ngắn, điều này có thể một phần là do tốc độ phun trào và địa hình khu vực. Độ nhớt tại điểm nóng chảy (liquidus) của chúng tương đương với các loại bazan của núi Etnaquần đảo Hawaii, cũng như dung nham foidit của núi Nyiragongo và dung nham tephrit của Nyamuragira.[47] Có khả năng dung nham phun trào từ Tseax Cone đã dâng lên theo cùng hệ thống đứt gãy với các suối nước nóng Lakelse, nằm phía nam thành phố Terrace — đây là những suối địa nhiệt nóng nhất tại Canada.[48]

Cấu trúc

Tseax Cone có độ cao 609 m (1.998 ft). Núi lửa này gồm hai cấu trúc lồng vào nhau. Cấu trúc thứ nhất là một nón nhỏ nằm bên trong. Cấu trúc thứ hai là một bờ phun bắn dung nham nằm bên ngoài, có kích thước lớn hơn.[49][1] Nón trong trẻ hơn cao khoảng 65–75 m (213–246 ft), có đường kính khoảng 290 m (950 ft), cấu tạo chủ yếu từ vật liệu phun bắn màu đen, bao gồm scoria, mảnh bắn và lapilli.[5][37][49] Bên trong nón này có một miệng núi lửa sâu khoảng 33 m (108 ft), với đường kính khoảng 80 m (260 ft). Nón trong là nguồn của một lớp đá vụn[44] kéo dài theo dạng thuôn (từ gốc tiếng Anh: elongated tephra), vươn ra khoảng 2,5 km (1,6 mi) về phía đông bắc, cho thấy tại thời điểm phun trào, gió thổi chủ yếu theo hướng tây nam.[49] Cấu trúc bên ngoài, là bờ phun bắn dung nham cổ hơn và đôi khi cũng được mô tả là có hình nón xỉ, cao khoảng 15–25 m (49–82 ft), có đường kính khoảng 460 m (1.510 ft).[37][49] Cấu trúc này được tạo thành từ spatter và scoria, với màu sắc trải từ đỏ sẫm đến nâu, cũng như từ đen đến xám.[37] Mỗi cấu trúc được hình thành bởi một kiểu hoạt động núi lửa khác nhau, bờ phun bắn dung nham (tiếng Anh: lava fountaining), hình thành do hoạt động phun dung nham kiểu Hawaii, còn nón trong được tạo ra bởi các vụ nổ Stromboli cường độ thấp.[45] Toàn bộ cấu trúc của Tseax Cone được mô tả theo nhiều cách khác nhau, bao gồm nón xỉ, nón phun nổ (pyroclastic cone) và nón đá vụn.[44][1][50][5]

Cách Tseax Cone 470 m về phía bắc, gần hồ Melita (150–200 m), có một miệng núi phụ rất nhỏ, không có tên, hình dạng bất đối xứng; nó cao khoảng 20 m, đường kính 50–55 m và bị oxy hóa mạnh; trên đỉnh có một miệng núi sâu khoảng 4 m, đường kính 7 m. Kéo dài về phía tây nam của miệng núi phụ này là một khe phun trào, gồm 3–4 gò đá vụn;[37][51] các gò chỉ cao vài mét và bị phủ hoàn toàn bởi đá vụn màu đen; lớp đá vụn núi lửa đỏ đã bị oxy hóa nằm bên dưới lớp đen được tạo ra do hiện tượng phun trào dung nham (lava fountaining) tại miệng núi phụ lớn hơn.[37]

Dòng dung nham

Tseax Cone là nguồn phát sinh của bốn dòng dung nham riêng biệt; tất cả nhiều khả năng được phun trào trong vài tuần đến vài tháng.[12][52] Dòng thứ nhất là dài nhất và có thể tích lớn nhất; nó chiếm khoảng 84% tổng thể tích dung nham phun ra từ Tseax Cone;[53] dòng này di chuyển 31,6 km (19,6 mi) qua các thung lũng Crater Creek và sông Tseax; sau đó tới sông Nass; tại đây nó tạo thành một đồng bằng dung nham (tiếng Anh: lava plain) rộng khoảng 3 km (1,9 mi), dài 12 km (7,5 mi), có độ cao khoảng 50 m (160 ft);[53][54] lượng dung nham của dòng này có khả năng đủ lớn để chặn sông Nass trong thời gian ngắn.[5]

Dòng thứ hai chiếm khoảng 13% tổng thể tích dung nham; dòng này di chuyển 31,6 km (19,6 mi) qua thung lũng Crater Creek; điểm cuối nằm gần cửa thung lũng sông Tseax.[53] Hai dòng dung nham đầu tiên có dạng pāhoehoe;[e] ít tinh thể lớn (phenocryst); chúng phun ra từ bờ văng bắn dung nham (spatter rampart);[53][56] cả hai thuộc nhóm dòng dung nham dài nhất trong Canadian Cordillera; trong khu vực này, các dòng dung nham dài trên 10 km thường có thành phần bazan.[57]

Dòng thứ ba chiếm ít hơn 2% tổng thể tích dung nham; nó di chuyển 7,2 km (4,5 mi) qua thung lũng Crater Creek; điểm cuối nằm gần hồ Ross trong thung lũng sông Tseax. Dòng thứ tư là ngắn nhất và có thể tích nhỏ nhất trong bốn dòng; nó chiếm khoảng 1% tổng thể tích dung nham; dòng này di chuyển dọc Crater Creek với chiều dài 5,3 km (3,3 mi).[53] Hai dòng sau cùng có dạng ʻaʻā;[f] giàu tinh thể lớn (phenocryst); chúng được phun ra từ nón trong.[53][56]

A circular hole in volcanic rock formed by a burned out tree trunk
Khuôn cây dung nham nằm ngang

Cả bốn dòng dung nham đều chứa các ống dung nham còn nguyên vẹn, các ống dung nham đã sụp đổ, và các khuôn cây dung nham.[27][51] Ít nhất bốn ống dung nham nằm sát và kéo dài bên dưới Tseax Cone. Các ống dung nham này nằm ở độ cao khoảng 590 m (1.940 ft). Chúng từng là đối tượng của một nghiên cứu băng hà học vào năm 1975. Vào thời điểm nghiên cứu, hai trong số bốn ống dung nham được xác định là không có băng trong phần lớn thời gian trong năm. Một trong hai ống này chứa một dòng suối nhỏ dạng phân nhánh. Ống dung nham còn lại thì khô. Ống này không chứa bất kỳ trầm tích suối (tiếng Anh: stream sediments) nào. Việc thiếu trầm tích suối cho thấy ống dung nham này vẫn khô ráo. Nó cũng không chứa các khối băng vĩnh cửu. Hai ống dung nham còn lại, nằm ở vị trí cao hơn một chút, bị chặn bởi các sàn băng.[59] Vào mùa hè, lớp băng này bị phủ bởi lượng nước lên tới khoảng 20 xentimét (7,9 inch). Điều này cho thấy, không giống hai ống dung nham còn lại, các ống này không có lối thoát nước ở phần thấp nhất. Không có bằng chứng nào cho thấy lớp băng đang tan rã, dù nhiệt độ trung bình hằng năm xấp xỉ 5 độ Celsius (41 độ Fahrenheit). Các đặc điểm thạch học của các khối băng được xác định là tương tự với băng trong các hang động núi cao, chẳng hạn như hang Eisriesenwelt ở Áo và hang Coulthard tại dãy Rocky của Canada.[60]

Các dòng dung nham từ vụ phun trào của Tseax Cone đã gây tác động rất mạnh đến cảnh quan, do chúng bất ngờ tràn ngập thung lũng sông Tseax và vùng đồng bằng ngập lũ của sông Nass.[61] Việc các dòng dung nham làm gián đoạn hệ thống thoát nước hiện có đã dẫn đến sự hình thành các dạng kênh chảy mới, đồng thời tạo ra nhiều dạng địa mạo khác nhau, bao gồm các hồ bị chặn bởi dung nham, các quạt bồi tích[62] bị chắn dòng và hiện tượng đảo ngược địa hình bề mặt.[63] Sông Tseax buộc phải từ bỏ lòng sông phù sa cũ để chuyển sang chảy trong các kênh nền đá dọc theo các dòng dung nham, mặc dù tại một số vị trí, một hoặc nhiều nhánh sông vẫn chảy trực tiếp trên bề mặt dung nham.[64] Suối Vetter, một phụ lưu của sông Nass, chảy dọc theo phía tây của các dòng dung nham rồi biến mất dưới vùng đồng bằng sông Nass bị dung nham bao phủ, thông qua một loạt các hố sụt.[65][66] Phần thấp của nhiều quạt bồi tích[67] đã bị các dòng dung nham chôn vùi, trong đó có quạt Vetter, một trong những quạt bồi tích[67] lớn nhất trong khu vực.[68] Việc dung nham chặn suối Crater Creek và sông Tseax đã tạo ra các hồ Melita và hồ Lava bị ứ nước phía sau các dòng dung nham, mặc dù hồ Lava đã tồn tại trước khi dung nham phun trào và chỉ gia tăng độ sâu sau sự kiện này.[53] Hồ Ross nằm phủ lên các dòng dung nham trong thung lũng sông Tseax, ở phía bắc của hồ Lava.[69][70]

Tranh cãi về độ tuổi

Thời điểm chính xác của hoạt động núi lửa tại Tseax Cone từ lâu vẫn gây tranh cãi, do không có bất kỳ ghi chép lịch sử trực tiếp nào.[71] Các báo cáo của các nhà truyền giáo, ghi nhận truyền thống truyền khẩu phong phú của người Nisga'a địa phương ngay từ thập niên 1910, cho thấy Tseax Cone có thể đã phun trào vào khoảng năm 1770.[72] Tuy nhiên, độ tin cậy của các báo cáo này vẫn chưa được kiểm chứng, do khả năng bản dịch từ tiếng Nisga'a sang tiếng Anh không chính xác. Trong một báo cáo năm 1923 của Bộ Mỏ Canada, G. Hanson cho biết đã phát hiện các cây có tuổi khoảng 170 năm mọc trên dung nham từ Tseax Cone; điều này cho thấy một đợt phun trào đã xảy ra trước năm 1753. Năm 1935, Marius Barbeau kết luận trên tạp chí Canadian Geographical Journal rằng lần phun trào gần nhất của Tseax Cone diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII.[51] Năm 1977, G. P. V. Akrigg và H. B. Akrigg suy đoán trong tác phẩm British Columbia Chronicle, 1847–1871: Gold & Colonists rằng vụ phun trào của Tseax Cone đã được sĩ quan hải quân Juan Francisco de la Bodega y Quadra chứng kiến vào ngày 24 tháng 8 năm 1775. Tuy nhiên, giả thuyết này được xem là không có khả năng xảy ra, bởi vào thời điểm đó, chiếc tàu Sonora của Bodega y Quadra đang neo đậu cách Tseax Cone hơn 280 km (170 dặm) về phía tây, và bị ngăn cách bởi địa hình núi non.[73] Trong một bài báo đăng năm 2008 trên tạp chí Journal of Volcanology and Geothermal Research, Michael D. Higgins đề xuất rằng trận động đất Cascadia năm 1700 có thể đã kích hoạt đợt phun trào gần nhất của Tseax Cone, thông qua việc làm mất ổn định hệ thống magma ngầm bên dưới.[74]

A field of moss-covered rocks with a couple trees in the foreground and snow-covered mountains in the background.
Dòng dung nham Tseax Cone ở thung lũng Nass.

Việc xác định tuổi bằng carbon phóng xạ đối với các cây bị dung nham từ Tseax Cone tiêu diệt cũng cho ra các kết quả mập mờ và không chính xác. Một cây Dương bị dung nham bao bọc gần sông Nass được Sutherland Brown (1969) và Jack Souther (1970) báo cáo là cho kết quả định tuổi carbon phóng xạ 220 ± 130 năm. Tuy nhiên, Lowdon và cộng sự cho biết trong một bài đăng năm 1971 trên tạp chí Radiocarbon rằng mốc thời gian này chưa được hiệu chỉnh và trên thực tế phải là 250 ± 130 năm.[51] Năm 2001, M. C. Roberts và S. McCuaig báo cáo trên The Canadian Geographer rằng một mảnh gỗ của cây bị dung nham bao bọc cho kết quả định tuổi carbon phóng xạ 220 ± 130 năm; hai tác giả này đưa ra mốc thời gian đã hiệu chỉnh là 230 ± 50 năm.[75] Hai mốc định tuổi carbon phóng xạ này sau đó được Michael D. Higgins hiệu chỉnh lại vào năm 2008 bằng phần mềm hiệu chuẩn, và được diễn giải lại thành khoảng thời gian phun trào của Tseax Cone nằm trong giai đoạn từ năm 1668 đến năm 1714.[6][76] Gỗ bị cháy nằm dưới lớp đá vụn núi lửa, cách Tseax Cone khoảng 890 m (2.920 ft) về phía tây bắc, được Williams-Jones và cộng sự báo cáo năm 2020 là cho các mốc định tuổi carbon phóng xạ 190 ± 15 năm và 390 ± 15 năm.[77] Các mốc thời gian này cho thấy Tseax Cone đã phun trào trong khoảng từ năm 1675 đến năm 1778, phù hợp với truyền thống truyền khẩu của người Nisga'a, cũng như với các báo cáo cho rằng một đợt phun trào đã diễn ra trong thế kỷ XVIII.[78] Chương trình Núi lửa Toàn cầu của Viện Smithsonian đưa ra mốc niên đại Công nguyên là 1690 ± 150 năm cho lần phun trào được biết đến gần nhất của Tseax Cone.[7] Thời điểm hoạt động núi lửa của Tseax Cone khiến ngọn núi lửa này trở thành một trong những núi lửa trẻ nhất tại Canada, đồng thời là địa điểm của một trong những vụ phun trào núi lửa gần đây nhất tại quốc gia này.[1][79]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đồng thuận rằng các dòng dung nham của Tseax Cone được hình thành trong một đợt phun trào duy nhất.[53][80] Tuy nhiên, việc bản thân ngọn núi lửa này là sản phẩm của một hay nhiều giai đoạn phun trào riêng biệt vẫn là vấn đề còn được suy đoán.[80][81] Năm 1923, G. Hanson cho rằng Tseax Cone được hình thành trong một đợt phun trào duy nhất. Giả thuyết một đợt phun trào cũng được Sutherland Brown đề xuất vào năm 1969, nhưng ông cho rằng ngọn núi lửa đã bị phá hủy bởi các vụ nổ và sau đó được hình thành lại. Năm 1978, Vilho Wuorinen đưa ra bằng chứng cho thấy Tseax Cone được hình thành qua hai giai đoạn phun trào riêng biệt.[82] Các bằng chứng này bao gồm sự khác biệt về mức độ xói mòn bề mặt giữa bờ phun bắn dung nham bên ngoài và nón đá vụn núi lửa bên trong, cũng như sự khác biệt về thảm thực vật bao phủ giữa hai cấu trúc này.[83] Một thân cây bị cháy, được phát hiện vẫn đứng thẳng trong vách đứng của bờ phun bắn dung nham, cũng cho kết quả định tuổi carbon phóng xạ là 625 ± 70 năm.[6] Dựa trên các bằng chứng này, Wuorinen đề xuất rằng bờ phun bắn dung nham được hình thành trong giai đoạn hoạt động ban đầu vào khoảng năm 1325.[6][80] Giai đoạn phun trào này sau đó được nối tiếp bởi khoảng 375 năm núi lửa ngừng hoạt động, trong thời gian đó bờ phun bắn dung nham bị bào mòn và trở nên bằng phẳng hơn.[80] Một đợt phun trào thứ hai, vào khoảng năm 1700, đã tạo ra nón đá vụn núi lửa bên trong, các dòng dung nham, cùng với nhiều nón vệ tinh nhỏ trong khu vực.[84]

Năm 2020, Williams-Jones và cộng sự công bố các dữ liệu cổ từ và địa hóa học mới, ủng hộ giả thuyết rằng nón đá vụn núi lửa bên trong, bờ phun bắn dung nham bên ngoài, các nón vệ tinh, các dòng dung nham và các trầm tích đá vụn[44] đều được hình thành trong cùng một giai đoạn hoạt động duy nhất.[85] Tuy nhiên, thân cây bị cháy do Wuorinen lấy mẫu, vốn cho kết quả định tuổi carbon phóng xạ là 625 ± 70 năm, đã không được tìm thấy trong quá trình khảo sát và lập bản đồ chi tiết khu vực vào các năm 2016 và 2017.[86]

Hiểm họa

Trees and jagged moss-covered rock reflecting on water in the foreground
Dòng dung nham trên thung lũng Nass

Câu hỏi liệu Tseax Cone được hình thành trong một hay nhiều đợt phun trào riêng biệt có ý nghĩa quan trọng đối với việc dự báo hoạt động trong tương lai và các nỗ lực giảm thiểu rủi ro.[50] Nếu Tseax Cone là núi lửa đơn kỳ (monogenetic), khả năng hoạt động trở lại là thấp, vì các núi lửa loại này thường chỉ phun trào một lần và tồn tại trong thời gian ngắn.[87] Ngược lại, nếu Tseax Cone là núi lửa đa kỳ (polygenetic), các hoạt động trong tương lai có thể tạo ra các dòng dung nham và có khả năng chặn các dòng suối địa phương như đã từng xảy ra trước đây.[5]

Việc các dòng dung nham chặn dòng sông Nass có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nghề cá hồi trên con sông này. Khí carbon dioxide phát thải từ Tseax Cone cũng có thể đe dọa cư dân địa phương, do khí này có khả năng thay thế oxy ở những khu vực trũng thấp và trong các công trình thông gió kém. Một mối nguy tiềm tàng khác liên quan đến hoạt động trong tương lai của Tseax Cone là nguy cơ các vụ phun trào gây cháy rừng, vì khu vực này có thảm thực vật.[5]

Lịch sử con người

Cư dân bản địa

Rubbly moss-covered lava rock with trees in the background
Cận cảnh cácòng dung nham ở thung lũng Nass.

Tseax Cone giữ một vị trí nổi bật trong lịch sử và văn hóa của người Nisga'a do gắn liền với một thảm họa tự nhiên.[73] Theo các truyền thuyết của người Nisga'a, vụ phun trào của Tseax Cone đã khiến khoảng 2.000 người thiệt mạng và phá hủy ít nhất ba ngôi làng nằm dọc theo bờ sông Nass.[50][5] Điều này khiến sự kiện này được xem là thảm họa địa chất gây chết người nhiều nhất tại Canada và là thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng thứ hai trong lịch sử Canada tính theo số người thiệt mạng, chỉ đứng sau cơn bão Newfoundland năm 1775 khiến ít nhất 4.100 người tử vong.[50][88] Vì vậy, Tseax Cone thường được mô tả là núi lửa gây chết người nhiều nhất ở Canada.[47] Ba ngôi làng của người Nisga'a bị phá hủy bởi vụ phun trào Tseax Cone được xác định là Lax Ksiluux, Lax Ksiwihlgest và Wii Lax K'abit.[50][13] Các ghi chép của người Nisga'a vào đầu thế kỷ 19 về vụ phun trào đã được nhà nhân học Marius Barbeau thuật lại vào năm 1935 như sau:

…chẳng bao lâu sau, núi lửa bắt đầu phun trào. Ban đầu là khói, giống như khói bốc ra từ một ngôi nhà, một cột khói lớn. Trông như thể có một ngôi nhà đang cháy trên đỉnh núi. Mọi người nhìn thấy một ngọn lửa lớn. Ngọn lửa tràn xuống sườn núi theo hướng về phía họ, nhưng không nhanh như cháy rừng. Nó di chuyển chậm, rất chậm. Cảnh tượng vừa kỳ lạ vừa đáng sợ. Rất nguy hiểm! Hơi khí lan tỏa đi trước, và những ai hít phải đều bị ngạt. Họ chết và cơ thể cứng lại như đá. Hoảng sợ, người của một bộ tộc đã đào các hố trong lòng đất giống như chỗ trú ẩn ngầm và trốn vào đó, vì họ sợ các linh hồn núi. Bộ tộc khác cũng làm như vậy. Tuy nhiên, điều đó không ngăn được việc nhiều người khác chết vì hơi khí, chủ yếu ở những ngôi làng nằm thấp hơn. Khi khói tan đi, một số người bỏ chạy; nhưng rất nhiều người khác vẫn ở lại. Sau đó họ không còn bị ảnh hưởng bởi khói nữa. Ngọn lửa tiếp tục chảy xuống như một dòng sông, lấp đầy hồ, và trong một thời gian, mặt nước trở thành một biển lửa. Đá ở đó đỏ rực và nóng trong nhiều ngày. Dòng chảy đỏ rực kéo dài suốt quãng đường nó đi qua. Nó bắt đầu từ con sông nơi người ta đánh bắt cá hồi, ở tít phía trên kia, rồi chảy xuống đến nơi hiện nay là hẻm núi…[73]

“Khói độc” được nhắc đến trong báo cáo của Barbeau có thể là khí carbon dioxide không mùi.[5] Khi dòng dung nham đầu tiên từ Tseax Cone tràn vào thung lũng Nass, nó đã phá hủy ba ngôi làng của người Nisga'a. Sự tương tác giữa dòng dung nham và sông Nass có thể đã tạo ra những đám mây dày gồm hơi nước bốc lên, trộn lẫn với các khí núi lửa (tiếng Anh: volcanic fumes) như carbon dioxide và hydro sulfide. Khí methane cũng có thể đã được giải phóng từ các vùng đất ngập nước khi dung nham chảy qua đồng bằng ngập lũ của sông Nass.[89]

Mặc dù một số người Nisga'a có thể đã thoát khỏi dòng dung nham bằng xuồng sang bờ đối diện của sông Nass, nhiều người khác lại bị kẹt giữa con sông và dòng dung nham đang tiến tới. Lưu lượng trung bình của sông Nass đủ mạnh để khiến bất kỳ ai cố bơi qua trong các tháng hè như tháng 6, tháng 8 và tháng 9 đều gặp nguy hiểm; Tseax Cone được cho là đã phun trào vào khoảng thời gian này.[90] Một giả thuyết khác cho rằng khi dung nham tràn vào sông Nass, nó đã gây ra các đợt sóng đột ngột và dòng chảy hỗn loạn, cuốn trôi những người Nisga'a đang chèo xuồng qua sông.[91]

Người Nisga'a cũng ghi nhớ sự thay đổi của sông Tseax, kể rằng: “Trước khi núi lửa phun trào, khi người của chúng tôi sinh sống tại Wii Lax K'ap, gần đó có một con suối nơi cá hồi sinh sản. Lòng suối có cát trắng nên rất dễ nhìn thấy cá hồi bơi ngược dòng. Vì vậy, con suối được gọi là Ksi Gimwits'ax. Nhiều năm sau [sau vụ phun trào], khi con suối này xuất hiện trở lại, dù người Nisga'a biết đó vẫn là nhánh sông cũ, nó đã được đổi tên thành Ksi Sii Aks.”[92] Một loài kỳ giông từng sinh sống ở khu vực vịnh Gitwinksihlkw trên sông Nass được cho là đã biến mất hoặc tuyệt chủng sau vụ phun trào.[13]

Công viên cấp tỉnh

Những lời kêu gọi bảo vệ các dòng dung nham của Tseax Cone đã xuất hiện ít nhất từ năm 1972, khi các hoạt động lâm nghiệp để lại gốc cây và mảnh vụn trên bề mặt của chúng.[93] Vào thời điểm đó, các con đường và lối mòn cũng đã được mở trên các dòng dung nham; địa hình của chúng khá phù hợp cho việc xây dựng đường sá do cấu trúc dễ vỡ. Dung nham còn bị khai thác từ các hố vật liệu và vận chuyển đi để sử dụng cho các tuyến đường của ngành lâm nghiệp.[23]

Mãi đến năm 1992, Công viên tỉnh Nisga'a Memorial Lava Bed mới được thành lập nhằm bảo tồn cảnh quan núi lửa và tưởng niệm khoảng 2.000 người Nisga'a đã thiệt mạng trong vụ phun trào của Tseax Cone.[5][27] Khu bảo tồn rộng 17.717 hécta (43.780 mẫu Anh) này đáng chú ý vì là công viên tỉnh đầu tiên ở British Columbia được quản lý chung bởi BC Parks và First Nation, đồng thời cũng là công viên tỉnh đầu tiên tại British Columbia kết hợp giữa văn hóa bản địa và các đặc điểm tự nhiên.[27]

Khả năng tiếp cận

Các dòng dung nham của Tseax Cone dễ tiếp cận nhất bằng cách đi theo đường cao tốc Nisga'a về phía bắc từ thành phố Terrace khoảng 100 km (62 mi), trong đó 30 km (19 mi) cuối là đường chưa được trải nhựa. Một tuyến đường khác để đến khu dung nham là đi theo đường Stewart–Cassiar đã trải nhựa về phía bắc từ Kitwanga khoảng 78 km (48 mi) đến sông Cranberry.[27] Từ đó, con đường lâm nghiệp Nass Forest Service Road (chưa trải nhựa) kéo dài 86 km (53 mi) về phía tây nam đến Gitlaxt'aamiks, nơi nằm ở rìa đông bắc của các dòng dung nham.[9][27]

Việc tiếp cận trực tiếp Tseax Cone chỉ được phép thông qua một tuyến đi bộ có hướng dẫn dài 6 km (3,7 mi), xuất phát từ một con đường tiếp cận nằm cách khu dã ngoại hồ Lava 1,4 km (0,87 mi) về phía bắc trên đường cao tốc Nisga'a.[27]

Xem thêm

  • Danh sách thảm họa tại Canada theo số người thiệt mạng
  • Danh sách các vụ phun trào núi lửa theo số người thiệt mạng
  • Danh sách các núi lửa thuộc vành đai Cordillera Bắc
  • Danh sách các núi lửa tại Canada
  • Hoạt động núi lửa ở miền Tây Canada
  • Danh sách vụ phun trào núi lửa lớn nhất

Ghi chú

  1. Từ gốc tiếng Anh: Coastal Western Hemlock
  2. Peralkaline rocks là các loại đá magma có tỷ lệ natrikali so với nhôm cao hơn bình thường.[35]
  3. Phenocrysts là các tinh thể lớn, dễ nhận thấy trong đá magma có kiến trúc porphyritic texture.[40]
  4. Mafic dùng để chỉ các đá magma tương đối giàu ironmagnesium so với silicon.[42]
  5. Pāhoehoe là dung nham bazan có bề mặt nhẵn, ánh thủy tinh, lượn sóng và có nhiều lỗ rỗng.[55]
  6. ʻAʻā là dạng dung nham có bề mặt gồ ghề, lởm chởm, cấu tạo từ các khối vỡ sắc cạnh gọi là “clinker”.[58]

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 Global Volcanism Program: Tseax River Cone, General Information.
  2. 1 2 Postmedia Network 2019.
  3. 1 2 3 Geographical Names Data Base: Tseax Cone.
  4. 1 2 3 4 BC Geographical Names: Tseax Cone.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Natural Resources Canada: Tseax Cone.
  6. 1 2 3 4 Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1242.
  7. 1 2 Global Volcanism Program: Tseax River Cone, Eruptive History.
  8. Phan Cự Tiến 2006, tr. 99.
  9. 1 2 Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1239.
  10. Akrigg & Akrigg 1997, tr. 3, 273.
  11. Akrigg & Akrigg 1997, tr. 273.
  12. 1 2 3 Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 363.
  13. 1 2 3 BC Geographical Names: Gitwinksihlkw.
  14. BC Geographical Names: Cassiar Land District.
  15. BC Geographical Names: New Aiyansh.
  16. 1 2 Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 364.
  17. Denton 1975, tr. 662.
  18. 1 2 BC Geographical Names: Crater Creek.
  19. BC Geographical Names: Melita Lake.
  20. 1 2 Demarchi 2011, tr. 36.
  21. Demarchi 2011, tr. 36, 37.
  22. 1 2 3 Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 365, 367.
  23. 1 2 3 Gentles 1972, tr. 252.
  24. 1 2 Nguyễn Đình Hòa 2006, tr. 102.
  25. Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 364, 367.
  26. Demarchi 2011, tr. 37.
  27. 1 2 3 4 5 6 7 BC Parks: Anhluut'ukwsim Lax̱mihl Angwinga'asanakwhl Nisga'a [a.k.a. Nisga'a Memorial Lava Bed Park].
  28. Government of British Columbia.
  29. Slaymaker 2017, tr. 52.
  30. Phan Cự Tiến 2006, tr. 587.
  31. Phan Cự Tiến 2006, tr. 364.
  32. Hà Quang Hải & Hoàng Thị Phương Chi 2020, tr. 17.
  33. Phan Cự Tiến 2006, tr. 623.
  34. Edwards & Russell 2000, tr. 1280, 1281, 1283, 1284.
  35. McGraw Hill 2003, tr. 253.
  36. Edwards & Russell 2000, tr. 1280.
  37. 1 2 3 4 5 6 Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 365.
  38. Roberts & McCuaig 2001, tr. 319.
  39. Le Moigne 2020, tr. 81, 82.
  40. McGraw Hill 2003, tr. 257.
  41. Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 7, 8.
  42. Pinti 2011, tr. 938.
  43. Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 17.
  44. 1 2 3 4 Phan Cự Tiến 2006, tr. 655.
  45. 1 2 Le Moigne 2020, tr. 85.
  46. Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 368.
  47. 1 2 Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 15.
  48. Turner và đồng nghiệp 2007, tr. 9–11.
  49. 1 2 3 4 Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 7.
  50. 1 2 3 4 5 Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1238.
  51. 1 2 3 4 Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1241.
  52. Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 1.
  53. 1 2 3 4 5 6 7 8 Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 369.
  54. Symons 1975, tr. 2622.
  55. McGraw Hill 2003, tr. 238.
  56. 1 2 Le Moigne 2020, tr. 88.
  57. Stasiuk, Hickson & Mulder 2003, tr. 563.
  58. United States Geological Survey 2018.
  59. Marshall 1975, tr. 399.
  60. Marshall 1975, tr. 400.
  61. Roberts & McCuaig 2001, tr. 320, 323.
  62. Phan Cự Tiến 2006, tr. 23.
  63. Roberts & McCuaig 2001, tr. 320–323.
  64. Roberts & McCuaig 2001, tr. 322, 323.
  65. Roberts & McCuaig 2001, tr. 323.
  66. BC Geographical Names: Vetter Creek.
  67. 1 2 Phan Cự Tiến 2006, tr. 22.
  68. Roberts & McCuaig 2001, tr. 321.
  69. Le Moigne và đồng nghiệp 2020, tr. 367.
  70. BC Geographical Names: Ross Lake.
  71. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1241, 1250.
  72. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1238, 1241.
  73. 1 2 3 Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1250.
  74. Higgins 2009, tr. 149.
  75. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1241, 1242.
  76. Higgins 2009, tr. 150, 151.
  77. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1239, 1242.
  78. Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 4.
  79. Le Moigne và đồng nghiệp 2022, tr. 2.
  80. 1 2 3 4 Wuorinen 1978, tr. 1037.
  81. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1248.
  82. Wuorinen 1978, tr. 1037, 1038.
  83. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1242, 1243.
  84. Wuorinen 1978, tr. 1038.
  85. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1238, 1247.
  86. Williams-Jones và đồng nghiệp 2020, tr. 1244.
  87. Vargas-Arcila và đồng nghiệp 2023, tr. 1.
  88. United States Geological Survey 2021.
  89. Le Moigne 2020, tr. 105.
  90. Le Moigne 2020, tr. 104.
  91. Hickson và đồng nghiệp 2007.
  92. BC Geographical Names: Ksi Sii Aks.
  93. Gentles 1972, tr. 251, 252.

Tài liệu

Liên kết ngoài