Bước tới nội dung

Trần Luân Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trần Luân Kim
Chức vụ
Nhiệm kỳ2000  2010
Tiền nhiệmĐặng Nhật Minh
Kế nhiệmĐặng Xuân Hải
Nhiệm kỳ2002  2007
Đại diệnPhú Yên
Ủy banNgoại giao
Chức vụỦy viên
Thông tin cá nhân
Quốc tịch Việt Nam
Sinh16 tháng 7, 1939 (86 tuổi)
Đà Lạt[1]
Nghề nghiệpNhà lý luận phê bình
Dân tộcKinh
Tôn giáoKhông
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Học vấnPhó Giáo sư, Tiến sĩ
Quê quánPhú Yên
Tặng thưởngGiải Cánh diều 2012, 2015

Trần Luân Kim (sinh ngày 16 tháng 7 năm 1939) là một nhà phê bình điện ảnh, nguyên Viện trưởng Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam, Giám đốc Hãng phim Sài Gòn và Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam. Không chỉ là Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11.[2]

Tuổi thơ và giáo dục

Trần Luân Kim sinh ngày 16 tháng 7 năm 1939.[a][3] Mặc dù ông quê gốc ở Phú Yên nhưng lại sinh ra ở Đà Lạt. Cha ông là một cán bộ cách mạng từng tham gia Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Khi còn nhỏ, Trần Luân Kim đã theo cha đi nhiều nơi trong vùng tự do thuộc Liên khu 5. Đến năm 1954, ông tập kết ra Bắc và theo học trường dành cho học sinh miền Nam. Trong khoảng thời gian này, ông đã bắt đầu tập viết văn và làm thơ. Đến năm 1957, ông là một trong số những học sinh xuất sắc được chọn sang Trung Quốc học.[1] Sau một năm học tiếng ở Quế Lâm,[b] ông được chuyển về Thượng Hải học ngành Thiết kế, chế tạo tàu thủy.[5] Sau khi tốt nghiệp về nước, ông đã có thời gian công tác tại Bộ Giao thông Vận tải và tham gia một số chương trình nghiên cứu liên quan đến việc thiết kế và thực hiện các phương tiện bảo đảm giao thông vào Miền Nam trên biển và trên bộ.[6]

Trong thời gian học tập tại Trung Quốc, ông không chỉ tiếp tục làm thơ, viết văn, mà còn bắt đầu phiên dịch những tác phẩm tiểu thuyết của Trung Quốc cũng như phiên dịch một số tác phẩm văn học khác qua tiếng Trung Quốc như bộ tác phẩm Xuân, Thu (của nhà văn Ba Kim), Núi đồi yên lặng (văn học Nhật Bản, dịch sang tiếng Trung). Những năm 60 khi đã về nước, mặc dù công tác trong ngành kỹ thuật, ông vẫn thường xuyên dịch và xuất bản sách văn học, trong đó có thể kể đến là Trong thị trấn yên tĩnh (văn học Nga, dịch sang tiếng Trung, nhà xuất bản Quân đội nhân dân), Chiến đấu trong lòng địch (văn học Trung Quốc), Hòn đảo rực lửa (văn học Cuba, dịch sang tiếng Trung), Thời gian hỡi tiến lên (văn học Nga). Cũng nhờ vào việc dịch thuật mà ông quen biết với nhà văn Ba Kim, từ đó mà ông có cơ hội quen biết với nhiều nghệ sĩ điện ảnh hàng đầu Trung Quốc thời bấy giờ như Vương Đan Phượng, Triệu Đan, Vương Phượng Phong. Nhờ những mối quan hệ này mà ông được mở rộng hiểu biết về nền văn hóa Trung Quốc nói chung và nền văn học, điện ảnh nói riêng. Cũng từ đây mà ông bắt đầu có ý muốn nghiên cứu về nghệ thuật.[6]

Năm 1971, Trần Luân Kim được Ban Thống nhất Trung ương điều động. Ông thuộc diện được tiếp tục đào tạo tại nước ngoài để phục vụ cho công tác ở miền Nam. Trước cơ hội đó, ông đã xin được học điện ảnh ở Liên Xô. Tuy nhiên, yêu cầu này của ông không được Bộ Giáo dục đồng ý vì theo quy định, muốn theo học điện ảnh thì phải thi năng khiếu. Vì vậy, Trần Luân Kim đã chuyển sang làm Thư ký hội đồng duyệt phim của Quốc doanh phát hành phim Trung ương. Một năm sau, ông thành công vượt qua kỳ thi năng khiếu do Bộ Văn hóa tổ chức và được sang Liên Xô học ngành Lý luận – Phê bình điện ảnh tại Trường Đại học Điện ảnh Quốc gia Liên Xô (VGIK).[7] Trong thời gian học ở Liên Xô, ông vẫn tiếp tục sáng tác một số truyện ngắn, đồng thời bắt đầu viết một số bài tiểu luận, phê bình điện ảnh. Ông cũng bắt tay vào dịch một số tác phẩm văn học tiếng Nga như Người đàn bà kỳ lạ (truyện phim), Sân ga dành cho hai người (truyện phim), và đặc biệt là tiểu thuyết dài 2 tập Thuyền trưởng và Đại úy [en; ru] của nhà văn Veniamin Kaverin (en).[8]

Sự nghiệp

Năm 1978, ông về nước và đảm nhiệm Trưởng Phòng Quản lý Phổ Biến phim thuộc Cục Điện ảnh, chịu trách nhiệm quản lý các công việc liên quan đến xuất, nhập khẩu phim, phát hành cũng như chiếu bóng. Không chỉ tham gia hội đồng duyệt phim, ông còn tham gia giảng dạy ở nhiều nơi như Trường Trung cấp Điện ảnh Cổ Loa, Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh. Trong suốt 7 năm công tác, ông đã cho ra đời nhiều bài lý luận, phê bình điện ảnh như Lịch sử Điện ảnh Liên Xô, Lịch sử Điện ảnh Trung Quốc, Lịch sử Điện ảnh Mỹ, Nghiệp vụ phê bình phim. Những tác phẩm của ông đã đóng góp đáng kể vào việc đào tạo sinh viên ở các trường điện ảnh, cung cấp thêm kiến thức căn bản về lịch sử và điện ảnh cho công chúng, đồng thời là tài liệu bổ ích cho các nhà nghiên cứu và sáng tác.[8]

Năm 1985, ông được điều động vào Nam làm Hiệu trưởng Trường Điện ảnh Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân của Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh). Lúc bấy giờ, đây là cơ sở đào tạo nhân sự điện ảnh trình độ sơ cấp và trung cấp cho phía Nam nhưng lại đang gặp nhiều khó khăn. Sau khi tiếp nhận vị trí, Trần Luân Kim đã tăng cường củng cố chất lượng đào tạo các khóa sơ cấp, từng bước mở các lớp đào tạo trung cấp và liên kết với Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội để mở rộng các lớp đào tạo trình độ đại học. Thời gian đầu, trường không được cấp kinh phí để duy trì các lớp trình độ trung cấp và đại học. Trần Luân Kim đã chủ động liên kết với các địa phương có nhu cầu đào tạo để gom kinh phí mở các lớp đào tạo đạo diễn, diễn viên, phê bình, quay phim trình độ đại học đầu tiên. Ngoài công tác quản lý, ông còn trực tiếp soạn thảo giáo trình và thiết kế chương trình đào tạo các lớp đại học tại trường. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như Mỹ học điện ảnh, Phương pháp phân tích tác phẩm điện ảnh, Tóm tắt lịch sử điện ảnh Việt Nam.[9]

Công tác tại Viện phim Việt Nam

Năm 1990, Trần Luân Kim được điều động sang làm Phó Viện trưởng Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam (nay là Viện phim Việt Nam) kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Lưu trữ Điện ảnh tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1994, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng, đồng thời vẫn kiêm nhiệm Giám đốc Trung tâm ở phía Nam. Trong thời gian này, ông tập trung vào khâu nâng cao nghiệp vụ, cơ sở vật chất, kỹ thuật, xây dựng nhà xưởng, kho lưu trữ. Ông cho đưa các trang thiết bị hiện đại của nước ngoài về Việt Nam để phục vụ kỹ thuật tu sửa, phục hồi và lưu trữ phim. Hàng trăm tác phẩm điện ảnh trong nước và nước ngoài ở khắp các địa phương đã dược đưa về lưu trữ tại Viện. Công tác hồ sơ phim mục, nghiên cứu và phổ biến phim tư liệu được đẩy lên một bước.[10] Không chỉ lập hồ sơ hoàn chỉnh cho hàng trăm bộ phim có trong tay, Trần Luân Kim còn cho tiến hành phục hồi phục chế phim cũ, đồng thời cử người tham gia nhiều cuộc họp của ngành lưu trữ và nghiên cứu điện ảnh quốc tế, học hỏi kinh nghiệm và thành tựu mới của thế giới trong việc bảo quản phim và tổ chức nghiên cứu về điện ảnh.[11] Cũng nhờ vậy mà Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn cần thiết mà Liên đoàn các Viện Lưu trữ phim Quốc tế FIAF đề ra cho một viện phim quốc gia. Nhờ đó, năm 1999, Viện phim Việt Nam được kết nạp chính thức vào FIAF, tổ chức liên quốc gia về điện ảnh lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Viện phim Việt Nam cũng là đơn vị tham gia sáng lập Hiệp hội các viện lưu trữ nghe nhìn Đông Nam Á – Thái Bình Dương.[10]

Trong thời gian đảm nhiệm vai trò Viện trưởng, Trần Luân Kim đã làm chủ biên nhiều công trình như Phim hoạt hình Việt Nam, Xã hội hóa điện ảnh, Đạo diễn điện ảnh Thế giới, Đạo diễn điện ảnh Việt Nam, Bản sắc văn hóa dân tộc trong điện ảnh, Nghệ sĩ phim tài liệu Việt Nam; tổ chức biên soạn, dịch và xuất bản các công trình như Ký hiệu học nghệ thuật, Nghệ thuật viết kịch bản điện ảnh (2 tập), Điện ảnh Bắc Âu, Thực hành kịch bản điện ảnh, Làm thế nào để có một kịch bản hay. Ông còn tiến hành xây dựng một số quy định pháp quy như Quy chế về công tác lưu trữ, Quy chế về phổ biến phim tư liệu. Ngoài ra, ông còn tham gia vào công tác sản xuất phim với vai trò chỉ đạo nội dung và chủ trì tổ chức thực hiện một số phim truyện, tài liệu và khoa học. Một số phim truyện tiêu biểu là Áo trắng sân trường,[12] Thử thách tình đời, Chổm làm vua, Sài Gòn trong tim em, Cây Huê xà; phim tài liệu có Bản hùng ca về biển, Khoảnh khắc mùa xuân, Mùa xuân toàn thắng (3 tập), Đường mòn trên biển Đông, Cát cháy. Ông còn tham gia biên tập phim truyện nhiều tập của Hàn Quốc sản xuất tại Việt Nam Tạm biệt sông Ba.[13] Trong khoảng thời gian này, Trần Luân Kim còn từng đảm nhiệm Tổng biên tập tạp chí "Điện ảnh ngày nay", Giám đốc Hãng phim Sài Gòn, Giám đốc Trung tâm giao lưu văn hóa Việt – Nhật.[14]

Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam

Năm 2000, Trần Luân Kim được bầu làm Tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam trong kỳ đại hội lần thứ 5.[15][16] Năm 2002, với vai trò là Tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam, Trần Luân Kim đã phát động một cuộc thi thiết kế và ý tưởng cho giải thưởng thường niên của Hội Điện ảnh Việt Nam. Cuối cùng tên gọi Cánh diều cùng logo do họa sĩ Ngô Phương Ly của Đài Truyền hình Việt Nam thiết kế đã được chọn.[17] Cũng trong năm này, ông trở thành Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11 và là thành viên của Ủy ban Đối ngoại.[18][19] Một năm sau, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương được thành lập,[20] Trần Luân Kim là một trong số các Ủy viên nhiệm kỳ đầu tiên của hội đồng.[5] Năm 2005, Trần Luân Kim tái đắc cử vai trò Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam trong kỳ đại hội thứ 6.[21][22][23] Tháng 11 năm 2008, Hội thảo khoa học toàn quốc về Văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập đã diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh. Trần Luân Kim là người đầu tiên trình bày tại hội thảo với nội dung Thị trường văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay - nhận thức và thực tiễn.[24]

Sau khi về hưu vào năm 2011, ông vẫn tiếp tục công tác trong các cơ quan về lý luận, phê bình với các chức vụ như Ủy viên Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh,[25][26] Trưởng ban Lý luận phê bình Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.[27]

Tác phẩm

Biên soạn

NămTác phẩmVai tròNguồn
Trước 1985Chất lượng phim truyện nhìn từ một số khía cạnh thề hiệnTác giả[28]
1993Điện ảnh và thời cuộcChủ biên
1995Đạo diễn điện ảnh thế giới[29][30]
1997Phim hoạt hình Việt Nam
1998Đạo diễn phim truyện Việt Nam[31]
2000Chủ tịch Hồ Chí Minh với nghệ thuật điện ảnh Việt NamTác giả
2001Một số vấn đề về xã hội hóa hoạt động điện ảnh ở Việt NamChủ biên
Nghệ sĩ phim tài liệu Việt Nam[32]
2010Nhận thức điện ảnhTác giả[33]
2013Phương pháp phê bình điện ảnh
Hiện thực sáng tạo – Bình luận 30 phim truyện Việt Nam qua 60 năm[34]
2015Đời sống nghệ thuật

Phiên dịch

  • Thuyền trưởng và Đại úy [en; ru] (tác phẩm đạt giải thưởng văn học Stalin của nhà văn Veniamin Kaverin (en)).
  • Thời gian hỡi, tiến lên! [en] (tác phẩm của nhà văn Valentin Petrovich Kataev).
  • Trong thị trấn yên tĩnh (văn học Nga)
  • Chiến đấu trong lòng địch (văn học Trung Quốc)
  • Hòn đảo rực lửa (văn học Cuba)
  • Người đàn bà kì lạ (truyện phim).
  • Sân ga dành cho hai người (truyện phim).

Hoạt động

Là một nhà phê bình điện ảnh kỳ cựu, ông không chỉ tham gia công tác quản lý nhà nước mà còn thường xuyên đảm nhiệm vai trò giám khảo trong các cuộc thi, liên hoan phim.

NămCuộc thi/Liên hoan phimHạng mụcVai tròNguồn
2002Giải thưởng Hội Điện ảnh Việt Nam 2001Phim nhựaTrưởng ban giám khảo[35]
2004Cuộc thi phim ngắn toàn quốcTrưởng ban tổ chức[36]
2006Giải Cánh diều 2005Phim truyện nhựaTrưởng ban giám khảo[37]
2009Liên hoan Điện ảnh học đường[c]Ban giám khảo[38]
Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 16Phim truyện nhựaTrưởng ban giám khảo[39]
2011Giải Cánh diều 2010[40]
2012Giải Cánh diều 2011[41]
2013Giải Cánh diều 2012Phim truyện điện ảnh[42]
2014Giải Cánh diều 2013Ban giám khảo[43]
2015Giải Cánh diều 2014Trưởng ban giám khảo[44]
Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 19Phim tài liệu, khoa học[45]
2017Giải Cánh diều 2016Phim truyện điện ảnh[46]
2018Giải Cánh diều 2017[47]
2019Giải Cánh diều 2018[48]
2020Giải Cánh diều 2019[47]
2021Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 21Chủ tịch Hội đồng giám khảo[49]
2023Liên hoan phim quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 1Thành viên ban cố vấn[50]

Giải thưởng

NămLễ trao giảiHạng mụcTác phẩmKết quảNguồn
2013Giải Cánh diều 2012Công trình nghiên cứu, lý luận, phê bìnhPhương pháp phê bình điện ảnhCánh diều bạc[51]
2016Giải Cánh diều 2015Đời sống nghệ thuật (tập tiểu luận)Cánh diều vàng[52]
2019Giải thưởng Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh lần 2Tác phẩm lý luận phê bìnhPhương pháp phê bình điện ảnhGiải Nhì[53][54]
2021Giải thưởng của Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ươngTác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2020Cụm bài viết: "Bản sắc dân tộc - giá trị bền vững của tác phẩm nghệ thuật"; "Từ văn đến phim - đôi điều về ngôn ngữ chuyển thể"; "Sáng tác phim truyện Việt Nam sau đổi mới - thực trạng và vấn đề"Giải C[55]

Chú thích

  1. Một số nguồn chép ông sinh năm 1942, những các nguồn về Đại biểu quốc hội đều chép ông sinh năm 1939.
  2. Trong bối cảnh chiến tranh, vào năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ý kiến về việc đưa học sinh Việt Nam đến một nơi an toàn để có thể hoàn thành tốt việc học. Số học sinh này được kỳ vọng sẽ trở thành chỉ huy của Quân đội nhân dân Việt Nam và chính phủ trong tương lai. Một số học sinh Việt Nam đã được đưa sang Trung Quốc trong bối cảnh đó. Ngày 9 tháng 7 năm 1953, Trường Thiếu nhi Việt Nam chính thức được thành lập, ban đầu đặt ở Lư Sơn, sau đó thì chuyển về Quế Lâm.[4]
  3. Thuộc khuôn khổ dự án "Hỗ trợ văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững giai đoạn 2005–2009" của Chính phủ Thụy Điển.

Tham khảo

  1. 1 2 Thiên Sơn (2003), tr. 134.
  2. Xuân Toàn (ngày 27 tháng 11 năm 2006). "Thủ tướng phê phán "chống tham nhũng ngoài miệng"". Báo Thanh niên. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  3. Ngô Đức Mạnh, Lương Minh Tuân & Lê Hà Vũ (2004), tr. 141.
  4. Lê Văn Chương (ngày 22 tháng 12 năm 2018). "Ký ức thiếu sinh quân ở Lư Sơn – Quế Lâm". Báo Biên phòng. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022.
  5. 1 2 Nguyễn Tiến Nam (ngày 16 tháng 8 năm 2023). "Danh sách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương Nhiệm kỳ I". Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  6. 1 2 Thiên Sơn (2003), tr. 135.
  7. Thiên Sơn (2003), tr. 136.
  8. 1 2 Thiên Sơn (2003), tr. 137.
  9. Thiên Sơn (2003), tr. 138.
  10. 1 2 Thiên Sơn (2003), tr. 139.
  11. Hồng Lực (2000), tr. 205.
  12. Trần Trọng Đăng Đàn (2010b), tr. 503.
  13. Thiên Sơn (2003), tr. 139–140.
  14. Thanh Hiệp (ngày 29 tháng 12 năm 2022). ""Mai Vàng nhân ái" thăm PGS - TS Trần Luân Kim". Báo Người Lao Động Online. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  15. "TS Trần Luân Kim: 'Không có vùng cấm trong nghệ thuật'". VnExpress. ngày 13 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  16. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2005), tr. 786.
  17. Thu Hà (ngày 8 tháng 9 năm 2023). "Giải thưởng Cánh diều: 20 năm – một chặng đường thăng trầm!". Tạp chí Thế giới Điện ảnh. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
  18. Ủy ban Đối ngoại (2006), tr. 347.
  19. Văn phòng Quốc hội Việt Nam (2007), tr. 275.
  20. Hoàng Hoàng (ngày 5 tháng 9 năm 2023). "20 năm Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương". Báo Quân đội nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  21. "Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam Trần Luân Kim: Điện ảnh Việt cần có sự chuyển mình mạnh mẽ". Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. ngày 22 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  22. Kim Ửng (ngày 23 tháng 8 năm 2008). "GS-TS Trần Luân Kim: "Tầm sư học đạo" chấn hưng điện ảnh Việt Nam". Báo Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  23. "Ông Trần Luân Kim được bầu lại làm Chủ tịch Hội Điện ảnh". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 30 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  24. Giao Hưởng (ngày 17 tháng 11 năm 2008). "Văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập". Báo Thanh niên. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  25. Nguyễn Nguyên Anh (ngày 5 tháng 7 năm 2023). "Báo chí, xuất bản phát huy quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, không gian văn hóa". Báo Tuổi Trẻ Thủ Đô. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  26. Bảo Linh (ngày 14 tháng 7 năm 2023). "Báo chí góp phần lan tỏa giá trị các tác phẩm văn học, nghệ thuật". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  27. Bảo Linh (ngày 1 tháng 1 năm 2024). "Tiếp tục khơi dậy niềm đam mê sáng tạo của văn nghệ sĩ". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  28. Bộ Văn hóa (1986). Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật. Quyển 66–68. Bộ Văn hóa. tr. 68. ISSN 0866-8655.
  29. Hà Chi (ngày 21 tháng 4 năm 2012). "Cuốn sách gây sóng gió sau 17 năm ấn hành". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  30. Đàm Mộng Hoài (ngày 20 tháng 4 năm 2012). "Khi kiện cáo đã thành bệnh của ngành điện ảnh". Báo điện tử VTC News. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  31. Trần Luân Kim và đồng nghiệp (1998), tr. 2.
  32. Trần Luân Kim và đồng nghiệp (2001), tr. 2.
  33. "Nhận thức điện ảnh". Viện phim Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  34. "Hiện thực sáng tạo – Bình luận 30 phim truyện Việt Nam qua 60 năm". Viện phim Việt Nam. ngày 18 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  35. "Công bố phim tham gia Giải thưởng Hội Điện ảnh 2001". VnExpress. ngày 19 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2023.
  36. Tr.A (ngày 24 tháng 12 năm 2004). "Ông Trần Luân Kim - Tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam: Phim ngắn là bước đệm đến với phim dài". Báo Thanh niên. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  37. Phong Sơn (ngày 14 tháng 4 năm 2006). "Sau Giải thưởng Cánh diều vàng 2005: Nỗi buồn của ông Kim..." Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  38. Cát Khuê (ngày 24 tháng 8 năm 2009). "Liên hoan Điện ảnh học đường". Báo Thanh niên. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  39. Cát Khuê (ngày 7 tháng 12 năm 2009). "Tối nay, khai mạc LHP Việt Nam lần thứ 16". Báo Thanh niên. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  40. Mỹ Ngọc (ngày 13 tháng 3 năm 2011). "Phim lịch sử đi tiên phong tại giải Cánh diều vàng 2010". Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  41. Hoàng Vy (ngày 19 tháng 2 năm 2011). "Lộ diện 10 phim tranh giải Cánh diều 2011". VietNamNet. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  42. Thiên Hương (ngày 28 tháng 2 năm 2013). "Khán giả được xem miễn phí phim tranh giải "Cánh diều"". Báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  43. V.T (ngày 28 tháng 2 năm 2014). "Khởi động giải thưởng Cánh diều 2013". Tạp chí Thế giới điện ảnh. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  44. Như Hoa; Văn Tuấn (ngày 16 tháng 3 năm 2015). "Giải Cánh diều 2014 tiếp tục vướng sạn". Báo Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  45. N.A (ngày 6 tháng 12 năm 2015). "'Bản hòa tấu Sơn Đoòng' giành Bông sen vàng, PGS.TS Trần Luân Kim khen ngợi". Báo điện tử của Đài Truyền hình Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  46. N.Hoa (ngày 10 tháng 4 năm 2017). "Đạo diễn "Cha cõng con" trả bằng khen Cánh diều: Ban giám khảo lên tiếng". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  47. 1 2 H.Lê (ngày 10 tháng 4 năm 2019). "Thiếu sắc màu dân tộc trong điện ảnh Việt". Báo Tuổi trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  48. Mai Quỳnh Nga (ngày 19 tháng 4 năm 2019). "Trao giải Cánh diều 2018: Rằng vui thì thật là vui..." Báo Công an nhân dân. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  49. Linh Anh (ngày 28 tháng 11 năm 2019). "Lý do nào khiến Trấn Thành giành giải lớn ở Liên hoan phim?". Báo Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  50. Đông Du (ngày 21 tháng 9 năm 2023). "TPHCM lần đầu tổ chức Liên hoan phim quốc tế, dự kiến thu hút nhiều nhà làm phim". Báo Lao Động. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  51. "Trao giải Cánh diều vàng 2012". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 9 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  52. PV (ngày 20 tháng 4 năm 2016). "Phim truyện điện ảnh Trúng số đoạt Giải Cánh diều vàng 2015". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  53. "53 tác phẩm nhận giải thưởng Văn học nghệ thuật TP.HCM lần 2". Báo Thanh niên. ngày 20 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  54. Mạnh Hảo (ngày 19 tháng 4 năm 2019). "53 tác phẩm được trao Giải thưởng Văn học nghệ thuật TP Hồ Chí Minh". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  55. Vương Trần (ngày 22 tháng 11 năm 2021). "Trao thưởng 17 tác phẩm xuất sắc về lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật". Báo Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.

Nguồn

Đọc thêm