Binh biến Trần Kiều
| Binh biến Trần Kiều | |||||||||
| Phồn thể | 陳橋兵變 | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giản thể | 陈桥兵变 | ||||||||
| |||||||||
Binh biến Trần Kiều là cuộc binh biến và đảo chính diễn ra vào ngày 2 tháng 2 năm 960[a] trong lịch sử Trung Quốc. Sự kiện này không chỉ dẫn đến sự cáo chung của nhà Hậu Chu và sự sáng lập của nhà Tống, mà còn đánh dấu cuộc chuyển giao triều đại cuối cùng của thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc.
Trước tin liên quân Bắc Hán và Liêu xâm phạm bờ cõi, triều đình Hậu Chu quyết định cử Thái úy Triệu Khuông Dận dẫn quân tiến về hướng trạm dịch Trần Kiều. Tại đây, Cấm quân Hậu Chu đã mô phỏng lại cuộc Binh biến Thiền Châu diễn ra vào năm 950 – sự kiện binh sĩ ủng hộ Hậu Chu Thái Tổ Quách Uy đăng cơ – để ủng hộ vị chủ tướng lên ngôi Hoàng đế. Tuy chính sử chép rằng ba quân đã cưỡng ép khoác hoàng bào lên người Triệu Khuông Dận và ông chỉ miễn cưỡng chấp nhận ngôi báu, nhưng phần đông các sử gia ngày nay đều đồng thuận rằng chính ông đã ngầm dự mưu và đạo diễn cuộc binh biến này. Nhiều sự kiện nhuốm màu huyền ảo, chẳng hạn như hiện tượng nhật thực hay việc Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh từng phát hiện ra tấm mộc bài bí ẩn, cũng bao trùm lấy sự kiện Binh biến Trần Kiều, qua đó làm giảm bớt tính chất phi pháp vốn có của hành động soán ngôi.
Trước khi nhà Tống được thành lập, Trung Quốc đã trải qua một thời kỳ chia cắt loạn lạc kéo dài từ sau loạn Hoàng Sào và xuyên suốt thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc. Trong giai đoạn này, chuyện binh quyền lấn át vương quyền, tướng lĩnh dấy binh làm loạn rồi soán nghịch trở nên đặc biệt phổ biến. Binh biến Trần Kiều đặc biệt vì là một trong những cuộc thay đổi triều đại hiếm hoi trong lịch sử Trung Quốc không xảy ra cảnh đổ máu. Qua đó, Triệu Khuông Dận không những thu phục được lòng quân mà còn có cơ hội thực thi chính sách tập quyền trung ương, ngăn chặn mầm mống họa loạn từ kiêu binh hãn tướng về sau. Chính sự ổn định ấy đã tạo đà cho Triệu Khuông Dận cùng người em là Tống Thái Tông hoàn thành sự nghiệp thống nhất phần lớn Trung Quốc vào năm 979, sau khi bình định xong Bắc Hán.
Bối cảnh

Sau khi Loạn An Sử kết thúc vào giữa thế kỷ thứ 8, chính quyền nhà Đường suy yếu, đành phải phó mặc quyền hành ở các địa phương cho các phiên trấn, đứng đầu bởi các tiết độ sứ.[1] Sau cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào vào cuối thế kỷ thứ 9, chính quyền trung ương dính thêm một đòn chí mạng, mất khả năng bổ nhiệm quan lại cai trị các địa phương. Các quân phiệt lấp đầy khoảng trống quyền lực tại các vùng này sau đó đã thành lập nên các triều đại thời Ngũ Đại Thập Quốc.[2] Thời kỳ này bắt đầu từ khi Chu Ôn soán ngôi Đường Ai Đế vào năm 907.[3] 5 triều đại ngắn ngủi ở phương Bắc nối đuôi nhau thay ngôi đổi chủ, phần lớn đều bằng những cuộc binh biến, chiến tranh, hay các biện pháp bạo lực khác nhau.[4]
So với năm triều đại phương Bắc (Ngũ Đại), mười nước phương Nam (Thập Quốc) nhìn chung giàu có hơn. Tuy nhiên, nhà Hậu Chu, thành lập năm 951 và là triều đại cuối cùng của Ngũ Đại, cũng đã gầy dựng được một "nền tảng tài chính giới hạn"[4] dưới thời hai vị hoàng đế có năng lực là Hậu Chu Thái Tổ Quách Uy và Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh. Hai vị vua này đã thực hiện các biện pháp triệt phiên, qua đó làm suy yếu quyền lực của các tiết độ sứ.[5] Họ cũng củng cố bộ máy quan lại, tập trung binh quyền và vạch ra những kế hoạch nghiêm túc nhằm nhất thống Trung Quốc.[6] Đặc biệt, Sài Vinh đã thân chinh giành lại nhiều vùng đất quan trọng từ tay Hậu Thục, Nam Đường và Liêu.[7] Những thành công về quân sự và hành chính này đã giúp Sài Vinh có được sự chính danh vượt xa các vua chúa triều trước, đồng thời cho phép kinh tế vùng Hoa Bắc dần hồi phục. Dẫu vậy, uy thế của nhà Hậu Chu vẫn chưa đủ vững chãi để bảo vệ ngai vàng cho một ấu chúa.[8]
Góp phần vào những chiến tích quân sự của Hậu Chu chính là Triệu Khuông Dận, một vị tướng tài năng, người sau này trở thành nhân vật chính trong cuộc binh biến Trần Kiều. Cha của ông, Triệu Hoằng Ân, cũng là một võ tướng từng phục vụ nhiều triều đại khác nhau. Năm 948, Triệu Khuông Dận đầu quân dưới trướng Xu mật sứ Quách Uy khi mới 21 tuổi và phò tá Uy đảo chính thành công nhà Hậu Hán vào năm 951. Ông thăng tiến rất nhanh và được con nuôi Quách Uy là Sài Vinh tin cẩn nhờ thành tích xuất sắc trong các chiến dịch chống lại Hậu Thục và Nam Đường. Việc ông được cất nhắc lên chức Điện tiền đô điểm kiểm[b] đã cho ông phương tiện để thu phục lòng quân. Do đó, khi Sài Vinh qua đời, Triệu Khuông Dận đã ở vào thế "đắc địa" để đoạt lấy ngai vàng.[9]
Diễn biến dẫn đến binh biến
Năm 959, Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh lâm bệnh qua đời, truyền ngôi cho con trai là Sài Tông Huấn khi ấy mới lên 5 tuổi. Có lẽ muốn thừa cơ đối thủ đang gặp rắc rối trong chuyện thừa tự, liên quân Liêu và Bắc Hán đã xua quân xâm lấn Hậu Chu vào đầu năm 960. Trong triều, nhiều quan lại, trong đó có con trai của quan Phó đô điểm kiểm Hàn Thông, tỏ ý lo ngại trước thế lực ngày càng bành trướng của Triệu Khuông Dận. Bất chấp những lời can gián không nên trao thêm binh quyền cho ông, triều đình sau khi tham khảo ý kiến của hai vị Tể tướng Phạm Chất và Vương Phổ,[10] vẫn quyết định cử Triệu Khuông Dận cầm quân đi chống lại đội quân xâm lược đến từ phương Bắc.[11]
Sau khi xuất binh khỏi Biện Lương và vượt Hoàng Hà vào ngày 1 tháng 2, Triệu Khuông Dận cho quân nghỉ lại tại Trần Kiều, một ngôi làng nằm cách kinh sư 20 dặm về phía Đông Bắc. Ông hạ lệnh cho ba quân hạ trại ở bãi đất bằng phẳng phía trước dịch trạm của làng, còn mình thì buộc ngựa vào một gốc hòe, vào một ngôi nhà gần đó để uống rượu trước khi ngủ thiếp đi. Đêm đó, các tướng lĩnh dưới quyền bàn nhau rằng nếu tôn Triệu Khuông Dận lên làm vua, họ ắt sẽ được ban thưởng xứng đáng. Mọi người bèn đem kế ấy hỏi ý kiến em trai ông là Triệu Khuông Nghĩa và Chưởng thư ký Triệu Phổ. Cả hai đều tán thành chuyện soán nghịch, song Khuông Nghĩa cẩn trọng dặn thêm rằng, muốn thu phục được lòng người thì các tướng phải "quản thúc nghiêm ngặt binh sĩ dưới quyền, tuyệt đối cấm chuyện cướp bóc".[12] Sau đó, Khuông Nghĩa bí mật báo tin về cuộc đảo chính sắp diễn ra cho hai viên tướng tâm phúc của họ Triệu là Thạch Thủ Tín và Vương Thẩm Kỳ đang trấn thủ tại kinh sư để làm nội ứng.[13][12]
Những giai thoại thêu dệt về sau
Để biện hộ cho hành động soán ngôi, các tài liệu tuyên truyền đời sau đã viện dẫn nhiều điềm lạ được cho là đã xuất hiện trước khi binh biến Trần Kiều xảy ra. Sách Ngọc hồ thanh thoại (1078), Tục tư trị thông giám trường biên (1183) và Tống sử (1346) đều chép rằng: quan Tư thiên giám Miêu Huấn[14] đã trông thấy mặt trời bị một mặt trời khác che khuất.[15] Ngọc hồ thanh thoại còn nói thêm rằng mặt trời mới xuất hiện bên trên mặt trời cũ, ngụ ý rằng sắp có một vị thiên tử mới thay thế thiên tử cũ.[16] Sách này cũng có nhắc đến Hàn Hi Tái, sứ thần Nam Đường được phái sang Hậu Chu để chúc mừng Sài Vinh kế vị. Khi trở về, họ Hàn chẳng nhắc gì mấy đến Sài Vinh mà lại hết lời ca tụng Triệu Khuông Dận. Do Hàn Hi Tái nổi tiếng là người có tài tiên đoán, nên lời khen ấy càng khiến chân dung họ Triệu thêm phần phi phàm.[16]
Tống sử lại kể rằng, sau một chiến dịch đánh dẹp phương Bắc, Sài Vinh đang xem xét thư tịch thì bắt gặp một tấm mộc bài có ghi dòng chữ "Điểm kiểm tác thiên tử" (點檢作天子), nghĩa là "quan Điểm kiểm sẽ làm vua". Sài Vinh lấy làm nghi ngại, bởi chức Điện tiền đô điểm kiểm – thống lĩnh toàn bộ cấm quân – khi ấy đang nằm trong tay Trương Vĩnh Đức, con rể của Quách Uy. Sợ họ Trương có thể uy hiếp tới hoàng quyền, ông bèn cách chức người này và đưa Triệu Khuông Dận lên thay thế.[9] Ngoài ra, sách Tốc thủy ký văn (hoàn thành cuối thế kỷ XI) và Đông đô sự lược (1186) đều ghi lại một lời đồn đại lan truyền khắp kinh sư rằng:[17] Quân đội của Triệu Khuông Dận sắp binh biến, bởi họ lo sợ ấu chúa và Phù Thái hậu nhiếp chính sẽ không biết luận công ban thưởng cho tướng sĩ. Tin đồn lan nhanh khiến nhân tâm hoảng loạn, dân chúng đua nhau rời bỏ Biện Lương để tránh họa.[11]
Binh biến

Rạng sáng ngày 2 tháng 2 năm 960, Triệu Khuông Dận được ba quân tôn lên ngôi Hoàng đế. Tống sử thuật lại rằng, các tướng lĩnh mặc giáp phục đã xông thẳng vào nơi ông nghỉ mà hô lớn: "Chư quân vô chủ, nguyện sách Thái úy vi Thiên tử!" (Ba quân nay không có chủ, xin tôn Thái úy lên làm thiên tử!).[c] Họ Triệu kinh ngạc choàng dậy, chưa kịp định thần thì đã bị cưỡng ép khoác hoàng bào lên người. Các tướng vực ông lên ngựa trong khi ông vẫn tỏ vẻ ngần ngại, rồi đại quân quay đầu về nam, tiến thẳng về Biện Lương.[18]
Trên đường đi, Triệu Khuông Dận ra điều kiện rằng ông sẽ từ chối ngôi báu nếu những kẻ làm loạn không thề tận trung tuyệt đối. Ông cũng nghiêm khắc kiềm chế quân kỷ, thề sẽ xử tử bất cứ kẻ nào "dám cướp bóc kinh sư hay xâm phạm sĩ dân".[13] Ngược lại, ai tuân lệnh sẽ được ban thưởng hậu hĩnh.[13] Các tướng và quân sĩ đều phát lời thề. Tuy đây là phiên bản được phần đông sử gia truyền thống chấp nhận, nhưng chi tiết "khoác hoàng bào" nhiều khả năng chỉ là sự thêm thắt của người đời sau. Các nguồn khác như Tục tư trị thông giám trường biên hay Đông đô sự lược còn bổ sung chi tiết rằng lúc ấy họ Triệu đang say bí tỉ và rất miễn cưỡng khi phải hùa theo những kẻ nổi loạn.[19]
Theo Tống sử, sau khi trời trở sáng, Triệu Khuông Dận dẫn đại quân tiến vào Biện Lương. Ông cử Phan Mỹ về trước thông báo cho Phạm Chất và những người khác, đồng thời cử người về nhà an trí gia quyến. Thạch Thủ Tín và Vương Thẩm Kỳ đã mở rộng cổng thành chờ Triệu Khuông Dận. Sau khi nhận được tin từ Phan Mỹ ngay sau buổi chầu sớm, Tể tướng Phạm Chất đau buồn đến mức siết chặt tay Vương Phổ đến chảy máu. Hàn Thông, người duy nhất quyết liệt chống đối Triệu Khuông Dận, đã bị một viên thuộc tướng của họ Triệu giết chết. Phạm Chất cùng Vương Phổ, Ngụy Nhân Phổ bị La Ngạn Khôi ép đến công đường của Triệu Khuông Dận ở ngoại thành. Gặp họ, họ Triệu sụt sùi than khóc nói rằng mình bị chư tướng bức bách phải ngồi lên ngai vàng. Phạm Chất chưa kịp trả lời thì trước trướng, La Ngạn Khôi tuốt kiếm đe dọa. Phạm, Vương mới hiểu rõ màn kịch này và đành vội xuống thềm vái lạy.
Ngày 4 tháng 2, Hậu Chu Cung Đế bị buộc phải làm lễ thoái vị.[20] Triệu Khuông Dận lên điện Sùng Nguyên, chính thức lên ngôi Hoàng đế (tức Tống Thái Tổ), cải quốc hiệu thành Đại Tống, nhận sự triều bái của bá quan.[21] Ông cải phong Sài Tông Huấn làm Trịnh Vương, Phù Thái hậu làm Chu Thái hậu rồi đưa họ đi an trí nơi khác.[20][13] Trước sự lên ngôi của Tống Thái Tổ, mẹ của ông Đỗ Thái hậu lại chẳng hề vui vẻ. Khi con trai hỏi cớ sự, bà đáp: "Đang làm vua mà lỡ mất nước thì muốn trở lại làm thường dân cũng không được đâu". Thái Tổ cúi đầu xin thề sẽ luôn ghi nhớ lời dạy ấy.[22]
Kết quả
Cuộc chuyển giao quyền lực diễn ra trong hòa bình, được sử liệu mô tả là 'thị bất cải tứ' (chợ búa vẫn họp bán bình thường), đánh dấu sự đoạn tuyệt rõ rệt với phương thức thay triều đổi đại đầy bạo lực của thời kỳ Ngũ Đại. Nhờ vậy, uy tín của Tống Thái Tổ được bảo toàn, tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc thống nhất Trung Quốc.[23] Tuy nhiên, để khắc phục sự khiếm khuyết về tính chính danh của hành động soán ngôi,[24] Thái Tổ đã viện dẫn học thuyết "Thiên mệnh", khẳng định sự ủng hộ của Trời thông qua các điềm lành. Biểu hiện cho sự tự tin vào tính chính thống này là việc ông bác bỏ những lời can gián về việc vi hành trong dân gian, với niềm tin rằng bản thân đã được Trời bảo hộ.[15]
Mặc dù vậy, một số thế lực phiên trấn vẫn tỏ thái độ bất phục, tiêu biểu là Quách Sùng, Viên Ngạn, Lý Quân và Lý Trọng Tiến. Trong khi Quách và Viên – những công thần khai quốc Hậu Chu – cuối cùng đều chấp nhận quy thuận, thì Chiêu Nghĩa quân Tiết độ sứ Lý Quân tại Lộ Châu (nay thuộc Sơn Tây) lại tìm cách liên minh với Bắc Hán để dấy binh, song đã bị quân Tống trấn áp chỉ trong chưa đầy hai tháng. Hoài Nam Tiết độ sứ Lý Trọng Tiến tại Dương Châu (nay thuộc Giang Tô) cũng mưu toan hưởng ứng Lý Quân làm phản. Tuy nhiên, do sứ giả của ông ta lại quay sang quy hàng nhà Tống, lực lượng của họ Lý cũng nhanh chóng chuốc lấy thất bại. Những thắng lợi quân sự này,[25] song hành cùng các cải cách cơ cấu quân đội,[26] đã triệt tiêu hoàn toàn mầm mống cát cứ và tư tưởng phản loạn trong hàng ngũ tướng lĩnh.[25]
Theo ghi chép trong Tốc thủy ký văn, tại một buổi thiết yến vào giữa năm 971, Tống Thái Tổ đã bày tỏ lo ngại trước các tướng lĩnh về nguy cơ tái diễn một Binh biến Trần Kiều thứ hai, gây uy hiếp trực tiếp đến sự an nguy của hoàng quyền. Hoàng đế dụ các tướng rằng đời người hữu hạn, chi bằng mưu cầu phú quý, danh vọng và trạch phúc cho hậu thế, coi đó là nền tảng của sự viên mãn. Thông qua đó, ông đã thuyết phục thành công các công thần tự nguyện giao nộp binh phù, từ bỏ quyền chỉ huy cấm vệ để xuất trấn làm Tiết độ sứ tại các địa phương. Để củng cố thỏa hiệp này, triều đình cam kết thực hiện chính sách liên hôn với các gia tộc công thần, bảo đảm địa vị chính trị và bổng lộc lâu dài cho họ. Sự kiện này, sử gọi là "Bôi tửu thích binh quyền" (Mượn chén rượu tước binh quyền), đã đánh dấu bước ngoặt giúp Triệu Khuông Dận thu hồi binh quyền về trung ương và thiết lập cơ chế quân chủ tập quyền tuyệt đối đối với quân đội.[26]
Thông qua chính sách liên hôn, các gia tộc công thần đã hình thành nên một tầng lớp thế gia, tiếp tục cung cấp Hoàng hậu cho các đời vua Tống và đóng vai trò như một lực lượng đối trọng với giới sĩ đại phu được tuyển chọn qua con đường khoa cử.[27] Dưới triều đại của Tống Thái Tổ, nhà Tống đã lần lượt bình định các thế lực cát cứ theo trình tự: Kinh Nam, Mã Sở, Hậu Thục, Nam Hán và Nam Đường.[28] Người kế vị ông là Tống Thái Tông tiếp tục sự nghiệp, thu phục Ngô Việt, Thanh Nguyên quân, và đến năm 979 thì chinh phục Bắc Hán, chính thức chấm dứt thời kỳ loạn lạc Ngũ Đại Thập Quốc. Tuy nhiên, Thái Tông cùng các vị hoàng đế kế nhiệm đã thất bại trong việc thu hồi Yên Vân thập lục châu từ tay nhà Liêu[29] và Tĩnh Hải quân cũ, tạo điều kiện cho Đại Cồ Việt và Đại Việt sau này hoàn toàn độc lập khỏi Trung Quốc. Kế thừa di chí của Thái Tổ, Thái Tông tiếp tục đẩy mạnh các cải cách tập quyền, chuyển đổi nhà Tống thành một quốc gia được cai trị bởi giới sĩ đại phu, thay vì tầng lớp võ tướng như các triều đại trước.[30]
Chú thích
- ↑ Dương lịch.
- ↑ Điện tiền đô điểm kiểm (殿前都點檢): Chỉ huy trưởng của Điện tiền ty, một trong hai lực lượng quân sự chủ chốt của Hậu Chu, bên cạnh Thị vệ ty.
- ↑ Tống sử, Bản kỷ 1, "Thái Tổ nhất": 遲明,逼寢所,太宗入白,太祖起。諸校露刃列於庭,曰:「諸軍無主,願策太尉為天子。」未及對,有以黃衣加太祖身,眾皆羅拜,呼萬歲,即掖太祖乘馬。太祖攬轡謂諸將曰:「我有號令,爾能從乎?」皆下馬曰:「唯命。」太祖曰:「太后、主上,吾皆北面事之,汝輩不得驚犯;大臣皆我比肩,不得侵凌;朝廷府庫、士庶之家,不得侵掠。用令有重賞,違即孥戮汝。」諸將皆載拜,肅隊以入。
Dịch nghĩa: Trời rạng sáng, quân lính áp sát nơi vua ngủ. Thái Tông [Triệu Khuông Nghĩa] vào báo tin, Thái Tổ vội dậy. Các tướng tuốt trần gươm giáo đứng xếp hàng dưới sân, hô lớn: "Ba quân vô chủ, nguyện tôn Thái úy làm Thiên tử". Chưa kịp trả lời, đã có người đem áo vàng khoác lên người Thái Tổ. Mọi người đều sụp lạy, hô vạn tuế, rồi vực Thái Tổ lên ngựa. Thái Tổ nắm dây cương bảo các tướng: "Ta có hiệu lệnh, các ngươi có tuân theo không?" Tất cả đều xuống ngựa đáp: "Xin nghe lệnh". Thái Tổ nói: "Thái hậu và Chúa thượng, ta đều thờ phụng, các ngươi không được mạo phạm; Các đại thần đều là bậc ngang hàng với ta, không được khinh nhờn; Kho tàng của triều đình, nhà cửa của sĩ dân, không được cướp bóc. Tuân lệnh thì có trọng thưởng, trái lệnh thì giết cả họ". Các tướng đều vái lạy, chỉnh đốn hàng ngũ mà vào thành.
Tham khảo
- ↑ Smith 2009, tr. 38.
- ↑ Standen 2009, tr. 40-41.
- ↑ Paludan 1998, tr. 117.
- 1 2 Lau & Huang 2009, tr. 206-207.
- ↑ Smith 2009, tr. 5.
- ↑ Smith & 2009, tr. 11.
- ↑ Lau & Huang 2009, tr. 209.
- ↑ Standen 2009, tr. 130.
- 1 2 Lau & Huang 2009, tr. 210-211.
- ↑ Hung 2014, tr. 61.
- 1 2 Lau & Huang 2009, tr. 211-212.
- 1 2 Hung 2014, tr. 62-63.
- 1 2 3 4 Lau & Huang 2009, tr. 212.
- ↑ Kurz 2001, tr. 110-112.
- 1 2 Lau & Huang 2009, tr. 214.
- 1 2 Kurz 2001, tr. 111.
- ↑ Kurz 2001, tr. 111, 114-115.
- ↑ Hung 2014, tr. 64.
- ↑ Kurz 2001, tr. 109,114-115.
- 1 2 Hung 2014, tr. 65.
- ↑ Hung 2014, tr. 66-68.
- ↑ Hung 2014, tr. 69.
- ↑ Lau & Huang 2009, tr. 213.
- ↑ Hartman 2015, tr. 28.
- 1 2 Lau & Huang 2009, tr. 215.
- 1 2 Lau & Huang 2009, tr. 216-217.
- ↑ Hymes 2015, tr. 653.
- ↑ Lau & Huang 2009, tr. 224-228.
- ↑ Lau & Huang 2009, tr. 248-249.
- ↑ Lau & Huang 2009, tr. 254.
Ấn phẩm
- The Cambridge History of China: Volume 5 Part One: The Sung Dynasty and its Precursors, 907–1279
- Smith, Paul Jakov (2009). "Introduction: The Sung Dynasty and Its Precursors, 907-979". Trong Twitchett, Denis; Smith, Paul Jakov (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 5 Part One: The Sung Dynasty and its Precursors, 907–1279. Quyển 5. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 1–38. ISBN 978-0-521-24330-8.
- Standen, Naomi (2009). "The Five Dynasties". Trong Twitchett, Denis; Smith, Paul Jakov (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 5 Part One: The Sung Dynasty and its Precursors, 907–1279. Quyển 5. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 38–132. ISBN 978-0-521-24330-8.
- Lau, Nap-yin; Huang, K’uan-chung (2009). "Founding and Consolidation of the Sung Dynasty under T'ai-tsu (960–976), T'ai-tsung (976–997), and Chen-tsung (997–1022)". Trong Twitchett, Denis; Smith, Paul Jakov (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 5 Part One: The Sung Dynasty and its Precursors, 907–1279. Quyển 5. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 206–278. ISBN 978-0-521-24330-8.
- The Cambridge History of China: Volume 5 Part Two: Sung China, 960–1279
- Chaffee, John (2015). "Introduction: reflections on the Sung". Trong Chaffee, John; Twitchett, Denis Jakov (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 5 Part Two: Sung China, 960–1279. Quyển 5. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 1–18. doi:10.1017/chol9780521812481.005. ISBN 978-0-521-81248-1.
- Hartman, Charles (2015). "Sung government and politics". Trong Chaffee, John; Twitchett, Denis Jakov (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 5 Part Two: Sung China, 960–1279. Quyển 5. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 19–138. doi:10.1017/chol9780521812481.005. ISBN 978-0-521-81248-1.
- Hymes, Robert (2015). "Sung society and social change". Trong Chaffee, John; Twitchett, Denis Jakov (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 5 Part Two: Sung China, 960–1279. Quyển 5. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 526–664. doi:10.1017/chol9780521812481.005. ISBN 978-0-521-81248-1.
- Paludan, Ann (1998). Chronicle of the Chinese Emperors. London: Thames and Hudson Ltd. ISBN 0-500-05090-2.
- Chaffee, John (1999). Branches of Heaven: A History of the Imperial Clan of Sung China. Harvard University Press. ISBN 0-674-08049-1.
- Ouyang, Xiu (2004). Historical Records of the Five Dynasties. Columbia University Press. ISBN 0-231-12826-6.
- Hung, Hing Ming (2014). Ten States, Five Dynasties, One Great Emperor. Algora Publishing. ISBN 978-1-62894-072-5.
- Bartlett, Thomas (2009). Berkshire Encyclopedia of China: Modern and historic views of the world's newest and oldest global power. Berkshire Publishing Group. ISBN 978-0-9770159-4-8.
Tạp chí
- Kurz, Johannes (2001). "Empereur a la surprise - The making of Song Taizu". Measuring Historical Heat: Event, Performance and Impact in China and the West.