The Man in the High Castle
| The Man in the High Castle | |
|---|---|
Bìa ấn bản đầu tiên (bìa cứng) | |
| Thông tin sách | |
| Tác giả | Philip K. Dick |
| Quốc gia | Hoa Kỳ |
| Ngôn ngữ | Tiếng Anh |
| Thể loại | Lịch sử thay thế, Khoa học viễn tưởng, Tiểu thuyết triết học |
| Nhà xuất bản | Putnam |
| Ngày phát hành | Tháng 10 năm 1962 |
| Kiểu sách | Sách in (bìa cứng & bìa mềm) |
| Số trang | 240 |
| OCLC | 145507009 |
The Man in the High Castle là một tiểu thuyết lịch sử giả tưởng của Philip K. Dick, xuất bản lần đầu năm 1962. Tác phẩm tưởng tượng một thế giới nơi phe Trục đã giành chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bối cảnh tác phẩm đặt vào năm 1962, 15 năm sau khi chiến tranh kết thúc năm 1947, xoay quanh cuộc sống của nhiều nhân vật dưới ách cai trị của Đế quốc Nhật Bản hoặc Đức Quốc Xã trong một nước Mỹ bị chia cắt. Nhân vật cùng tên của tiểu thuyết là tác giả bí ẩn của The Grasshopper Lies Heavy, một tiểu thuyết bên trong tiểu thuyết, mô tả một lịch sử thay thế trong đó phe Đồng Minh mới là bên giành chiến thắng trong chiến tranh.
Những nguồn cảm hứng sáng tác của Dick bao gồm tiểu thuyết lịch sử giả tưởng về Nội chiến Hoa Kỳ Bring the Jubilee (1953) của Ward Moore, cùng với Kinh Dịch, một sách bói toán cổ của Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong mạch truyện và hành động của các nhân vật. The Man in the High Castle đã đoạt Giải Hugo cho tiểu thuyết hay nhất năm 1963 và được chuyển thể thành loạt phim truyền hình cùng tên phát sóng trên Amazon Prime Video vào năm 2015.
Tóm tắt
Bối cảnh

Trong dòng lịch sử thay thế mà The Man in the High Castle mô tả, năm 1933, Giuseppe Zangara ám sát thành công tổng thống đắc cử Franklin D. Roosevelt, dẫn đến việc Hoa Kỳ tiếp tục chìm trong Đại khủng hoảng, không còn đủ tiềm lực kinh tế để hỗ trợ phe Đồng Minh trong các cuộc chiến sau này, Hoa Kỳ cũng quyết định duy trì chính sách không can thiệp kể cả khi Chiến tranh thế giới thứ hai đã bùng nổ năm 1939. Việc Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc tạo điều kiện cho Đức Quốc Xã thôn tính châu Âu lục địa cùng Liên Xô, mở rộng Đệ Tam Đế chế. Sau đó, Đức Quốc Xã tiến hành các cuộc tàn sát nhắm vào người Do Thái, người Romani, nhân Chứng Giê-hô-va, người Slav và những nhóm dân tộc khác mà họ coi là hạ đẳng. Phe Trục hợp lực chinh phục toàn bộ châu Phi và cạnh tranh với nhau để giành quyền kiểm soát Nam Mỹ vào năm 1962. Đế quốc Nhật giành thắng lợi trong Chiến tranh Thái Bình Dương và xâm chiếm Bờ Tây Hoa Kỳ, trong khi Đức Quốc Xã tiến công từ Bờ Đông. Năm 1947, phe Đồng Minh đầu hàng, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Đến năm 1962, Đế quốc Nhật Bản và Đức Quốc Xã trở thành hai siêu cường thế giới, đối đầu nhau trong một chiến tranh Lạnh toàn cầu, đặc biệt là tại lãnh thổ Hoa Kỳ cũ và Nam Mỹ. Nhật Bản mở rộng Liên minh Thái Bình Dương bằng cách thành lập Các bang Thái Bình Dương của Mỹ, với các bang dãy núi Rocky đóng vai trò vùng đệm trung lập ngăn cách với lãnh thổ Đức Quốc Xã ở phía đông. Tại Bắc Mỹ, phần thuộc kiểm soát của Đức được chia thành 2 chính thể bù nhìn: Miền Nam và phần đông bắc của lãnh thổ Hoa Kỳ lục địa cũ, trong tác phẩm nơi này vẫn được gọi là "Hoa Kỳ". Canada vẫn giữ được độc lập.
Adolf Hitler lúc này tuổi già, mắc bệnh giang mai giai đoạn cuối, Martin Bormann là Thủ tướng lâm thời. Nhiều lãnh đạo cấp cao của Đức Quốc Xã như Joseph Goebbels, Reinhard Heydrich, Hermann Göring và Arthur Seyss-Inquart vẫn còn sống và đang cạnh tranh nhau để kế nhiệm Hitler làm Quốc trưởng của Đại Đức Quốc Xã. Về mặt công nghệ, Đệ Tam Đế chế đã đạt đến mức phát triển vượt xa phần còn lại của thế giới, họ cho tháo cạn biển Địa Trung Hải để mở rộng Lebensraum và đất canh tác, sở hữu bom nhiệt hạch, chế tạo tên lửa có thể di chuyển khắp thế giới và ra ngoài vũ trụ, thậm chí tiến hành các sứ mệnh thuộc địa hóa Mặt Trăng, Sao Kim và Sao Hỏa.
Kịch bản
Năm 1962, 15 năm sau khi Đế quốc Nhật Bản và Đức Quốc Xã giành chiến thắng trong Thế chiến II. Tại San Francisco, thuộc Các bang Thái Bình Dương của Mỹ, chính quyền Nhật Bản thi hành chính sách phân biệt chủng tộc có hệ thống, biến người da đen thành nô lệ và hạ thấp người Hoa xuống địa vị công dân hạng hai.
Doanh nhân Robert Childan sở hữu một cửa hàng đồ cổ chuyên kinh doanh các vật phẩm văn hóa Hoa Kỳ cho giới khách hàng Nhật, những người say mê sưu tầm hiện vật của văn hóa Hoa Kỳ cũ. Một ngày nọ, Childan nhận được yêu cầu từ Nobusuke Tagomi, một quan chức thương mại cấp cao, muốn tìm một món quà để gây ấn tượng với Baynes, một nhà công nghiệp người Thụy Điển. Childan không thể đáp ứng yêu cầu ban đầu của Tagomi (một tấm áp phích tuyển quân thời Nội chiến Mỹ), nhưng ông vẫn có thể cung cấp các lựa chọn thay thế nhờ kho hàng phong phú của mình, bao gồm nhiều món đồ giả cổ, được sản xuất bởi Tập đoàn Wyndam-Matson.
Frank Frink (tên thật: Fink), một cựu binh và người Do Thái bí mật, vừa bị sa thải khỏi nhà máy Wyndam–Matson. Sau đó, anh đồng ý hợp tác với một đồng nghiệp cũ để khởi nghiệp sản xuất và buôn bán trang sức thủ công. Tại các bang Dãy núi Rocky, vợ cũ của Frank, Juliana Frink, làm huấn luyện viên judo tại Cañon City, Colorado. Trong đời sống riêng tư, cô bắt đầu mối quan hệ tình cảm với Joe Cinnadella, một tài xế xe tải và cựu binh người Ý.
Frink tống tiền Tập đoàn Wyndam-Matson để lấy tiền mở xưởng trang sức, đe dọa sẽ tiết lộ việc họ cung cấp đồ cổ giả cho Childan. Trong khi đó, Tagomi và Baynes gặp nhau, nhưng Baynes liên tục trì hoãn việc bàn công chuyện thật sự vì đang chờ một bên thứ ba từ Nhật Bản. Cùng lúc, truyền thông Đức Quốc Xã đưa tin Thủ tướng Martin Bormann đã qua đời sau một cơn bạo bệnh. Childan mang một số món trang sức kim loại chính hiệu do Frink chế tác đi ký gửi nhằm lấy lòng một khách hàng người Nhật, và ngạc nhiên khi người này cho rằng chúng có nhiều "Wu", tức là có linh khí.
Juliana và Joe đi bộ đến Denver, Colorado, nhưng giữa đường Joe bất ngờ quyết định rẽ sang Cheyenne, Wyoming để gặp Hawthorne Abendsen, tác giả cuốn tiểu thuyết The Grasshopper Lies Heavy, một tác phẩm giả tưởng mô tả một lịch sử thay thế của Thế chiến II, trong đó phe Đồng Minh giành chiến thắng trước phe Trục. Cuốn sách này bị Đức cấm lưu hành tại Hoa Kỳ, nhưng được chính quyền Nhật Bản cho phép xuất bản và bán tại Các bang Thái Bình Dương. Theo lời đồn, Abendsen sống trong một dinh thự được canh phòng cẩn mật mang tên "Lâu đài cao". Truyền thông Đức Quốc Xã sau đó thông báo với công chúng rằng Joseph Goebbels đã trở thành Thủ tướng mới của Đức Quốc Xã.
Sau nhiều trì hoãn, Baynes và Tagomi cuối cùng cũng gặp được liên lạc viên người Nhật của họ, trong khi lực lượng Sicherheitsdienst, cơ quan tình báo của SS, đang tiến rất gần đến việc bắt giữ Baynes, người thực chất là một kẻ đào tẩu Đức Quốc Xã có tên thật là Rudolf Wegener. Baynes cảnh báo vị tướng Nhật về sự tồn tại của Chiến dịch Bồ Công Anh, một kế hoạch tấn công bất ngờ của Goebbels nhằm vào quần đảo Nhật Bản với mục tiêu tiêu diệt Đế quốc Nhật Bản. Trong khi đó, Frink bị phát hiện là người Do Thái ẩn danh và bị cảnh sát San Francisco bắt giữ. Ở nơi khác, hai đặc vụ SD đối đầu với Baynes và Tagomi; Tagomi đã dùng khẩu súng lục cổ của Mỹ để bắn chết cả hai. Tại Colorado, Joe thay đổi diện mạo và cách cư xử trước khi đi vòng sang Wyoming để đến gặp "Người đàn ông trong lâu đài cao" (The Man in the High Castle); Juliana nhận ra rằng Joe có ý định ám sát Abendsen. Khi Joe xác nhận điều đó và tiết lộ mình là một đặc vụ Đức Quốc Xã người Thụy Sĩ, Juliana đã giết Joe rồi lên đường đi cảnh báo Abendsen.
Wegener trở về Đức và phát hiện Reinhard Heydrich, một thành viên thuộc phe chống lại Chiến dịch Bồ công anh, đã tiến hành đảo chính chống lại Goebbels nhằm tự phong mình làm Thủ tướng Đức Quốc Xã. Trong khi đó, Tagomi bị sốc nặng sau khi bắn chết hai đặc vụ SD và đến cửa hàng đồ cổ để bán lại khẩu súng cho Childan. Tuy nhiên, khi cảm nhận được luồng năng lượng tâm linh mạnh mẽ phát ra từ một món trang sức do Frink chế tác, Tagomi đã đổi ý và mua món trang sức đó. Sau đó, Tagomi trải qua một trải nghiệm tâm linh mãnh liệt, trong đó ông thoáng nhìn thấy một phiên bản khác của San Francisco, thể hiện qua hình ảnh đường cao tốc Embarcadero (mà trong thế giới của ông không tồn tại) và việc người da trắng không còn cúi mình trước người Nhật.
Không lâu sau, Tagomi gặp lãnh sự Đức tại San Francisco và buộc phía Đức phải thả Frink, người mà ông chưa từng gặp, bằng cách từ chối ký lệnh dẫn độ Frink sang Đức Quốc Xã. Tại Cheyenne, Juliana cũng có một trải nghiệm tâm linh khi đến nhà Abendsen. Cô phát hiện ra rằng Abendsen cùng gia đình đang sống trong một ngôi nhà bình thường, vì ông đã từ bỏ "Lâu đài cao" sau khi thay đổi cách nhìn về cuộc sống; do đó, ông không còn lo sợ việc bị ám sát. Khi Juliana hỏi về nguồn cảm hứng sáng tác, Abendsen né tránh, chỉ nói rằng ông đã sử dụng Kinh Dịch, một sách bói toán cổ của Trung Hoa để định hướng quá trình viết tiểu thuyết. Trước khi rời đi, Juliana nhận ra rằng "sự thật" chính là người đã viết cuốn tiểu thuyết, nhằm bộc lộ chân lý bên trong rằng phe Trục thật ra đã thua trong Chiến tranh Thế giới thứ hai vào năm 1945.
Nguồn cảm hứng
Dick cho biết ông nảy ra ý tưởng cho The Man in the High Castle (1962) sau khi đọc tiểu thuyết Bring the Jubilee (1953) của Ward Moore, một tác phẩm lịch sử giả tưởng lấy bối cảnh cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, trong đó phe Liên minh miền Nam mới là bên giành chiến thắng.
Trong trang lời cảm ơn của The Man in the High Castle, Dick cũng thừa nhận tác phẩm chịu ảnh hưởng về mặt chủ đề từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, bao gồm cuốn sử The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany (1960) của William L. Shirer; tiểu sử Hitler: A Study in Tyranny (1952) của Alan Bullock; The Goebbels Diaries (1948); Foxes of the Desert (1960) của Paul Carrell; và bản dịch Kinh Dịch năm 1950 của Richard Wilhelm.[1][2]
Là một tiểu thuyết gia, Dick sử dụng Kinh Dịch để xây dựng chủ đề, cốt truyện và diễn biến cho The Man in the High Castle, đồng thời các nhân vật trong truyện cũng dùng Kinh Dịch để định hướng và quyết định hành động của họ.[1]
Dick cho biết The Man in the High Castle còn chịu ảnh hưởng thi pháp từ thơ ca Nhật Bản và Tây Tạng. Bài haiku ở trang 48 của tiểu thuyết được trích từ tập đầu của Anthology of Japanese Literature (1955) do Donald Keene biên tập, bài thơ waka ở trang 135 lấy từ Zen and Japanese Culture (1955) của D. T. Suzuki và Bardo Thodol (1960), hay Tử thư Tây Tạng, do Walter Evans-Wentz biên tập.
Ông cũng nhắc đến ảnh hưởng xã hội học từ Miss Lonelyhearts (1933) của Nathanael West, một truyện vừa mang phong cách biểu hiện. Miss Lonelyhearts kể về một phóng viên bất hạnh phụ trách mục tư vấn tình cảm dưới bút danh "Miss Lonelyhearts" trong thời kỳ Đại khủng hoảng. Mặc dù viết những lời khuyên cho những độc giả đang rơi vào tuyệt vọng, bản thân anh lại tìm kiếm sự an ủi thông qua tôn giáo, các cuộc tình chóng vánh, những kỳ nghỉ ở nông thôn và công việc triền miên. Thế nhưng, chẳng điều gì đem lại cho anh cảm giác chân thực hay một sự hòa hợp dù về trí tuệ hay cảm xúc với thế giới quanh mình.[2]:118
Đón nhận
Avram Davidson ca ngợi cuốn tiểu thuyết là một "tác phẩm hư cấu xuất sắc", cho rằng việc Dick sử dụng Kinh Dịch là "lôi cuốn". Davidson kết luận: "Tất cả đều có ở đây—suy đoán, hồi hộp, hành động, nghệ thuật, triết lý, cốt truyện, và nhân vật".[3][4][5] Trong một bài điểm sách về bản in bìa mềm của tiểu thuyết, Robert Silverberg viết trên tạp chí Amazing Stories: "Văn xuôi của Dick tràn đầy hứng khởi, các nhân vật của ông sống động một cách chân thực, và cốt truyện thì thật đáng kinh ngạc".[6]
Trong The Religion of Science Fiction, Frederick A. Kreuziger phân tích học thuyết về lịch sử được gợi ra qua việc Philip K. Dick sáng tạo nên hai thực tại thay thế trong tác phẩm:
Tuy nhiên, cả hai thế giới ấy, dù là phiên bản thay đổi của kết cục Chiến tranh thế giới thứ hai hay câu chuyện hư cấu về thế giới hiện tại của chúng ta đều không hoàn toàn giống với thế giới mà ta quen thuộc. Nhưng chúng có thể giống! Và đó chính là điều mà cuốn sách muốn nói đến. Tác phẩm lập luận rằng thế giới này, được mô tả hai lần với hai cách khác nhau, thực chất chính là thế giới mà chúng ta đang sống và quen thuộc: thế giới của ngẫu nhiên, may rủi và định mệnh.[7]
Trong lời giới thiệu ấn bản Folio Society của cuốn tiểu thuyết, Ursula K. Le Guin nhận xét rằng The Man in the High Castle "có lẽ là đóng góp đầu tiên, lớn lao và bền vững mà thể loại khoa học viễn tưởng mang lại cho văn học Hoa Kỳ".[8]
Chuyển thể
Sách nói
Một phiên bản sách nói đầy đủ của The Man in the High Castle do George Guidall đọc, có thời lượng khoảng 9,5 giờ trên 7 băng cassette, được phát hành vào năm 1997.[9]
Một phiên bản sách nói khác được phát hành vào năm 2008 bởi Blackstone Audio, do Tom Wyner (được ghi tên là Tom Weiner) đọc, với thời lượng khoảng 8,5 giờ trên 7 đĩa CD.[10][11]
Đến năm 2014, phiên bản sách nói thứ ba được Brilliance Audio phát hành, do Jeff Cummings đọc, với tổng thời lượng 9 giờ 58 phút.[12]
Phim truyền hình
Sau nhiều lần nỗ lực chuyển thể tiểu thuyết lên màn ảnh, vào tháng 10 năm 2014, đơn vị sản xuất phim của Amazon bắt đầu quay tập phim thử nghiệm của The Man in the High Castle tại Roslyn, Washington, nhằm phát hành qua dịch vụ xem video trực tuyến Amazon Prime Video.[13][14]
Tập phim thử nghiệm được Amazon Studios phát hành vào ngày 15 tháng 1 năm 2015.[15][16] Theo Roy Price, phó chủ tịch Amazon Studios, đây là "tập phim thử nghiệm được xem nhiều nhất từ trước đến nay".[17] Vào ngày 18 tháng 2 năm 2015, Amazon chính thức bật đèn xanh cho dự án sản xuất loạt phim này.[18] Bộ phim bắt đầu được phát trực tuyến vào ngày 20 tháng 11 năm 2015.[19]
Phần tiếp theo chưa hoàn thành
Trong một cuộc phỏng vấn năm 1976, Dick cho biết ông dự định viết phần tiểu thuyết tiếp theo cho The Man in the High Castle: "Vì thế nên tác phẩm thực ra không có một cái kết thực sự. Tôi thích xem nó như một kết thúc mở. Câu chuyện sẽ dẫn sang một phần tiếp theo vào một thời điểm nào đó."[20] Dick cũng cho biết ông đã "nhiều lần bắt đầu viết phần tiếp theo", nhưng hầu như không tiến xa được, vì những tư liệu ông nghiên cứu cho The Man in the High Castle khiến ông quá ám ảnh và bị xáo trộn tinh thần, đến mức không thể chịu nổi việc "phải quay lại đọc về Đức Quốc Xã một lần nữa". Ông gợi ý rằng nếu có phần tiếp theo thì nó sẽ được thực hiện dưới hình thức hợp tác cùng một nhà văn khác.
"Sẽ phải có ai đó cùng với tôi viết phần tiếp theo. Một người đủ can đảm và đủ sức bền tinh thần để suy nghĩ theo hướng đó, để chui vào trong đầu họ; bởi vì nếu bạn bắt đầu viết về Reinhard Heydrich chẳng hạn, thì bạn buộc phải nhập vai ông ta, phải đối diện trực diện với con người đó. Bạn có tưởng tượng nổi việc phải nhìn thẳng vào gương mặt của Reinhard Heydrich không?"
Hai chương của phần tiếp theo dự định đó đã được xuất bản trong The Shifting Realities of Philip K. Dick, một tuyển tập gồm các bài tiểu luận và những tác phẩm khác của ông.[21] Cuối cùng, Dick thừa nhận rằng dự án viết phần tiếp theo này đã chuyển hóa thành một tiểu thuyết không liên quan, đó là The Ganymede Takeover, do ông và Ray Nelson (người nổi tiếng với truyện ngắn Eight O'Clock in the Morning, sau này được dựng thành phim They Live) đồng sáng tác.
Tham khảo
- 1 2 Cover, Arthur Byron (tháng 2 năm 1974). "Interview with Philip K. Dick". Vertex. 1 (6). Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.
- 1 2 Dick, Philip K. (2011). The Man in the High Castle (ấn bản thứ 1). Boston: Mariner Books. ISBN 978-0-547-60120-5. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "Philip K. Dick, Won Awards For Science-Fiction Works". The New York Times. ngày 3 tháng 3 năm 1982. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010.
- ↑ "1963 Award Winners & Nominees". Worlds Without End. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2009.
- ↑ Wyatt, Fred (ngày 7 tháng 11 năm 1963). "A Brisk Bathrobe Canter At Cry Of 'Fire!' Stirs Blood". I-J Reporter's Notebook. Daily Independent Journal. San Rafael, California. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015 – qua Newspapers.com.
Belatedly I learned that Philip K. Dick of Point Reyes Station won the Hugo, the 21st World Science Fiction Convention Annual Achievement Award for the best novel of 1962.
- ↑ Silverberg, Robert (tháng 6 năm 1964). "The Spectroscope". Amazing Stories. 38 (6): 124. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Kreuziger, Frederick A. (1986). In The Religion of Science Fiction. Popular Press. tr. 82. ISBN 9780879723675. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2016.
man in the high castle cynical.
- ↑ Dick, Philip K. (2015). The Man in the High Castle. London: Folio Society.
- ↑ Willis, Jesse (ngày 29 tháng 5 năm 2003). "Review of The Man In The High Castle by Philip K. Dick". SFFaudio. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "The Man in the High Castle". BlackstoneAudio.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
- ↑ L.B. "Audiobook review: The Man in the High Castle by Philip K. Dick, read by Tom Weiner". audiofilemagazine.com. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
- ↑ The Man in the High Castle. Audible, Inc. ISBN 978-1-4558-4037-3. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Muir, Pat (ngày 5 tháng 10 năm 2014). "Roslyn hopes new TV show brings 15 more minutes of fame". Yakima Herald. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Andreeva, Nellie (ngày 24 tháng 7 năm 2014). "Amazon Studios Adds Drama 'The Man In The High Castle', Comedy 'Just Add Magic' To Pilot Slate". Deadline. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
- ↑ "The Man in the High Castle: Season 1, Episode 1". Amazon. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015.
- ↑ "The Man in the High Castle". Internet Movie Database. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015.
- ↑ Lewis, Hilary (ngày 18 tháng 2 năm 2015). "Amazon Orders 5 New Series Including 'Man in the High Castle'". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015.
- ↑ Robertson, Adi (ngày 18 tháng 2 năm 2015). "Amazon green-lights The Man in the High Castle TV series". The Verge. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015.
- ↑ Moylan, Brian (ngày 18 tháng 11 năm 2015). "Does The Man in the High Castle prove that the best TV is now streamed?". The Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "Hour 25: A Talk With Philip K. Dick « Philip K. Dick Fan Site". Philipkdickfans.com. ngày 26 tháng 6 năm 1976. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015.
- ↑ Dick, Philip K. (1995). "Part 3. Works Related to 'The Man in the High Castle' and its Proposed Sequel". Trong Sutin, Lawrence (biên tập). The Shifting Realities of Philip K. Dick: Selected Literary and Philosophical Writings. New York: Vintage. ISBN 0-679-74787-7.