Bước tới nội dung

Thập giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Các sa-di ở Myanmar, Thập giới là nhóm mười điều học (sikkhāpada) dành cho người xuất gia bậc Sa-di và Sa-di-ni.
Bản chuyển ngữ của
Thập giới
Tiếng Phạntiếng Phạn: daśa-śīla[1]
Tiếng Palitiếng Pali: dasa-sīla; tiếng Pali: dasasikkhāpada[2]
Tiếng Trung Quốc十戒
(Bính âm Hán ngữ: shíjiè)
Tiếng Nhật十戒
(rōmaji: jikkai)
Tiếng ViệtThập giới
Thuật ngữ Phật Giáo

Thập giới (Sanskrit: tiếng Phạn: daśa-śīla; Pali: tiếng Pali: dasa-sīla, tiếng Hán: 十戒) là nhóm mười điều học (sikkhāpada) dành cho người xuất gia bậc Sa-di và Sa-di-ni trong nhiều truyền thống Phật giáo, làm nền tảng đạo đức trước khi thọ giới Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni.[1] Về nội dung, mười giới bao gồm năm giới căn bản cùng các điều về ăn phi thời, tránh hình thức giải trí và trang sức, không dùng giường ghế cao rộng, và không cất giữ hay sử dụng vàng bạc, tiền của.[3] Trong bối cảnh Đông Á, cần phân biệt thập giới của Sa-di với thập trọng giới thuộc hệ Bồ tát giới trong Kinh Phạm võng, vốn là một hệ chuẩn tắc khác.[4]

Tóm tắt

Thập giới bao gồm:

  • (1) không sát sinh;
  • (2) không trộm cắp;
  • (3) không hành dâm;
  • (4) không vọng ngữ;
  • (5) không dùng chất say;
  • (6) không ăn phi thời (sau giờ ngọ);
  • (7) không ca vũ, nghe nhạc, xem diễn;
  • (8) không trang sức, hương hoa, mỹ phẩm;
  • (9) không nằm ngồi giường ghế cao rộng;
  • (10) không cầm giữ vàng bạc, tiền của.[3][5]

Thập giới căn bản gồm 5 điều trong ngũ giới (lưu ý không hẳn giống, ví dụ giới 3 ở Ngũ giới chỉ là không tà dâm nhưng thập giới là tiết chế không hành dâm) và 5 giới nữa, tạo thành 10 giới căn bản đầu tiên trong giới luật.[2]

Vai trò & đặc trưng

Trong Luật Tạng, thập giới là các điều học dùng để rèn luyện người mới xuất gia, đóng vai trò cầu nối giữa Ngũ giới của cư sĩ và giới bổn đầy đủ của Tỳ-kheo/Tỳ-kheo-ni.[1] Ở truyền thống Pali, Khuddakapāṭha thường được xem như thủ bản cho người mới xuất gia; mục Dasasikkhāpada (Kp 2) trình bày rõ mười điều học.[2][6] Trong hệ Pháp Tạng bộ (Dharmaguptaka) sử dụng ở Hán truyền, Tứ phần luật (T22 n.1428) nêu thập giới cho Sa-di/Sa-di-ni, và theo tổng thuật học thuật các bộ Tỳ-nại-da (Vinaya) khác cũng trình bày rất tương đồng về nội dung.[5] Đối với cư sĩ, tập quán phổ biến là trì Bát quan trai theo ngày, khác với thập giới vốn dành cho bậc tập sự xuất gia.[5] Tại Đông Á, ngoài Tỳ-nại-da cho Thanh văn tăng, các tự viện còn trao thêm Bồ-tát giới (thập trọng giới và 48 khinh giới) theo Kinh Phạm võng; đây là hệ chuẩn tắc khác mục đích và định hướng, không đồng nhất với thập giới của Sa-di.[4]

Dị bản theo truyền thống

So sánh giữa các bộ luật

Theravāda (Pali)

Khuddakapāṭha Kp 2 liệt kê mười điều học với các mục 7–9 về tránh giải trí, trang sức hương hoa, giường ghế cao rộng, và mục 10 không cầm giữ vàng bạc/tiền. Văn bản này được dùng rộng rãi như thủ bản huấn luyện cho Sa-di/Sa-di-ni.[2][6]

Dharmaguptaka (Hán truyền)

Tứ phần luật (T22 n.1428) liệt kê thập giới cho Sa-di/Sa-di-ni với nội dung tương ứng, dùng cụm bất持金銀 cho giới 10, cho thấy cùng quy chuẩn không cầm giữ vàng bạc/tiền. Cấu trúc và nhấn mạnh nhìn chung tương đồng với các bộ luật khác trong tổng thuật học thuật hiện đại.[5][7][8]

Mūlasarvāstivāda (Tạng truyền)

Truyền thống Tạng dùng Tỳ-nại-da Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ; Sa-di (dge tshul) giữ mười giới, và trong thực hành có bản triển khai thành 36 điều để học thuộc và quán niệm.[9][10]

Thập giới & Bát quan trai

Dù đối tượng khác nhau, thập giới của Sa-diBát quan trai của cư sĩ chia sẻ năm giới căn bản, nhưng Bát quan trai không bao gồm điều không cầm giữ vàng bạc/tiền. Bản mười giới được xem là mở rộng từ tám giới bằng cách tách điều giải trí - trang sức thành hai, và thêm giới về tiền của.[2][11]

So sánh tóm tắt
Hệ chuẩn tắcĐối tượngNội dung chínhKhác biệt chính
Ngũ giớiCư sĩ5 điều nền tảng đạo đức, giới 3 là không tà dâm.Duy trì đời sống gia đình, không có phi thời thực.[12][13][14][15]
Bát quan traiCư sĩ theo ngày Uposatha8 điều; gồm không hành dâm, không ăn phi thời, không giải trí - trang sức, không giường cao rộng.Không có giới về vàng bạc/tiền.[11]
Thập giới (Sa-di)Tập sự xuất gia10 điều; thêm không trang sức tách riêng và không cầm giữ vàng bạc/tiền.Chuẩn bị thọ Cụ túc giới.[2]

Nghi lễ & thực hành

Nghi thức thọ pabbajjā (tiếng Pali: pabbajjā; tiếng Phạn: pravrajyā) biến ứng viên thành Sa-di/Sa-di-ni: cạo tóc, khoác y và tuyên thệ quy y Tam bảo, rồi thọ mười điều học theo truyền thống địa phương.[2][9] Khuddakapāṭha Kp 2 thường làm mẫu cho phần tụng đọc mười điều học.[6]

Sau pabbajjā, giới tử được đặt dưới sự hướng dẫn của thầy tế độ upajjhāya và thầy giáo thọ ācariya; địa vị sa-di là giai đoạn tu học trước thọ Cụ túc khi đủ 20 tuổi theo 'Tỳ-nại-da.[9] Sa-di không tham gia các saṅghakamma đòi hỏi túc số Tỳ-kheo/Tỳ-kheo-ni, nhưng dự thính và thọ học quy củ sinh hoạt, phép học sekhiya.[10][16][17]

Thực hành hằng ngày nhấn mạnh việc giữ đủ mười điều học, trong đó có không ăn phi thời (chỉ thọ thực trước giờ ngọ) và tránh giải trí, trang sức, giường cao rộng.[2][11] Về tài vật, nguyên tắc là không cầm giữ vàng bạc, tiền; nhiều tự viện đương đại áp dụng qua người hộ trì để mua sắm vật dụng hợp lệ.[5][11]

Trong Hán truyền theo Pháp Tạng bộ, nghi lễ sa-di dựa Tứ phần luật và thường được tổ chức cùng các khoá Bát quan trai dành cho cư sĩ vào ngày trai.[7][8] Trong Tạng truyền theo Tỳ-nại-da Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ, sa-di/sa-di-ni (dge tshul/dge tshul ma) học thuộc các bản liệt kê rút gọn để quán niệm mười điều học và quy củ sinh hoạt.[10][18]

Lịch sử & ảnh hưởng

Hình thành & truyền bá

Khái niệm mười điều học cho bậc tập sự xuất gia xuất hiện nhất quán trong các bộ Tỳ-nại-da thời kỳ bộ phái và được bảo tồn trong ba dòng truyền thừa còn hoạt động (Theravāda, Dharmaguptaka, Mūlasarvāstivāda).[9][16]

Trong văn hóa

Thập giới hiện diện nổi bật trong nghi lễ giới đàn, sổ tay giới tử và văn bản giáo khoa tại các tự viện Đông Á và Tây Tạng, qua đó định hình kỷ luật tu học thanh niên Phật giáo khu vực này.[5][8]

Nhầm lẫn thường gặp

Phân biệt với thập trọng giới của Bồ tát giới

Thập giới ở đây thuộc Tỳ-nại-da cho Sa-di/Sa-di-ni; thập trọng giới thuộc Bồ tát giới theo kinh Phạm võng, khác biệt như sau[4][5]

Đối chiếu rất ngắn
Hệ chuẩn tắcĐối tượngMục tiêu chính
Thập giới (Sa-di)Tập sự xuất giaRèn giới đức chuẩn bị thọ Cụ túc; bao gồm không cầm giữ vàng bạc/tiền.[2]
Thập trọng giới (Bồ-tát)Hệ Bồ tát giới (Đông Á)Chuẩn tắc hạnh Bồ-tát theo kinh Phạm võng; không thay thế thập giới Sa-di.[4]

Ở góc nhìn so sánh, thập giới là Tỳ-nại-da cho Sa-di và Sa-di-ni theo Khuddakapāṭha (Kp 2), nhằm rèn luyện bậc xuất gia sơ học (trong đó có điều không cầm giữ vàng bạc/tiền); còn thập trọng giới trình bày 10 giới trọng và 48 giới khinh, được hành trì rộng ở Đông Á (cho cả cư sĩ và xuất gia) và thường được diễn giải theo tam tụ tịnh giới (chỉ ác, tu thiện, lợi ích hữu tình).[2][19][20][21]

Trong kinh văn

  • Pali: Khuddakapāṭha Kp 2 Dasasikkhāpada – "Mười điều học của bậc tập sự" – thuộc Khuddaka Nikāya, thường được sử dụng trong bối cảnh huấn luyện người mới xuất gia.[2][6]
  • Hán: Tứ phần luật (Dharmaguptaka Vinaya, T22 n.1428) liệt kê thập giới, với nội dung đồng dạng các bộ luật khác.[5]
  • Đại thừa: Phạm Võng kinh trình bày thập trọng giới và 48 khinh giới của Bồ-tát giới, khác mục tiêu với thập giới của Sa-di, chủ yếu định hướng hạnh Bồ-tát trong bối cảnh Đông Á.[4]

Xem thêm

Chú thích

  1. 1 2 3 "Daśa-śīla". Oxford Reference (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 "Kp 2: Dasasikkhāpada (The Ten Precepts)". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 "Sīla". Encyclopaedia Britannica (bằng tiếng Anh). Britannica. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 5 "The Brahmā's Net Sutra". Buddha-Nature (bằng tiếng Anh). Tsadra Foundation. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 Chiu, Tzu-Lung (2019). "Bodhisattva Precepts and Their Compatibility with Vinaya in Contemporary Chinese Buddhism: A Cross-Straits Comparative Study" (PDF). Journal of Chinese Buddhist Studies (bằng tiếng Anh). Số 17. tr. 193–224.
  6. 1 2 3 4 "The Minor Readings and The Illustrator of Ultimate Meaning". Pali Text Society (bằng tiếng Anh). PTS. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  7. 1 2 "T22 n.1428 四分律". CBETA Online (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  8. 1 2 3 Heirman, Ann (2011). "Buddhist Nuns: Between Past and Present" (PDF). Journal of the Oxford Centre for Buddhist Studies (bằng tiếng Anh). tr. 1–32.
  9. 1 2 3 4 "Vinaya Rules for Monks and Nuns". Oxford Research Encyclopedia of Religion (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. ngày 30 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  10. 1 2 3 "Monks". Mandala Collections (bằng tiếng Anh). University of Virginia Library. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  11. 1 2 3 4 Harvey, Peter (2000). An Introduction to Buddhist Ethics: Foundations, Values and Issues (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 67, 87, 94–95. ISBN 978-0521556408.
  12. Keown, Damien (2003). A Dictionary of Buddhism (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. ISBN 978-0-19-860560-7.
  13. "Five precepts". Encyclopedia of Buddhism (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  14. "Precepts". Encyclopedia.com (bằng tiếng Anh). Gale. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  15. "The Five Precepts: pañca-sīla". Access to Insight (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  16. 1 2 Prebish, Charles S. (1994). A Survey of Vinaya Literature (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-0203036754.
  17. Blackburn, Anne M. (1999). "Magic in the Monastery: Textual Practice and Monastic Identity in Sri Lanka". History of Religions (bằng tiếng Anh). Quyển 38 số 4. tr. 354–372. doi:10.1086/463556.
  18. "Discipline Treatises". 84000 Reading Room (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  19. "The Brahmā's Net Sutra (Taishō 1484)". BDK America (bằng tiếng Anh). Bukkyo Dendo Kyokai. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  20. "The Brahmā's Net Sutra". Buddha-Nature (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  21. Harvey, Peter (2000). An Introduction to Buddhist Ethics: Foundations, Values and Issues (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 84–90. ISBN 978-0521556408.

Đọc thêm