Thảo luận:Ỷ Lan
Thêm đề tài| Đây là trang thảo luận để thảo luận cải thiện bài Ỷ Lan. Đây không phải là một diễn đàn để thảo luận về đề tài. |
|
| Tìm nguồn: Google (sách · tin tức · học thuật · ảnh tự do · nguồn WP) · NBTAMP · JSTOR · TWL |
Quan nhiếp chính? Thảo luận:Ỷ Lan
Ỷ Lan có thể xếp vào Thể loại:Quan nhiếp chính Việt Nam không? — thảo luận quên ký tên này là của Docteur Rieux (thảo luận • đóng góp).
- Nếu đã từng nhiếp chính thì tại sao lại không? Nguyễn Thanh Quang 18:18, ngày 29 tháng 5 năm 2006 (UTC)
Nguyên quán Thảo luận:Ỷ Lan
Theo tôi trong bài nêu nguyên quán của Nguyên phi Ỷ Lan như vậy là chưa đúng. Nguyên phi Ỷ Lan là người xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Hiện nay, ở Dương Xá còn có đền thờ bà, đền còn có tên gọi khác là đền Bà Tấm.
Còn về nguồn gốc tên gọi, theo tôi nhớ trong sách giáo khoa tiểu học thì khi xa giá nhà Vua đến đền bà vẫn thản nhiên, không tỏ ra hốt hoảng như bao người khác. Khi nhà vua tới, bà đang đứng tựa vào cây lan nên vua mới đặt tên là Ỷ Lan (có nghĩa là dựa vào cây lan).Jiaqing PHT 06:12, ngày 14 tháng 6 năm 2007 (UTC)
Ai hãm hại ai? Thảo luận:Ỷ Lan
nguyên phi ỷ lan theo toi đọc trong một sử liệu thì chính nguyên phi ỷ lan mới là người bị bà thái hậu họ dương hãm hại.Sau khi vua Lý Thánh Tông qua đời, Hoàng Hậu Thượng Dương đã dựa vào thế lực thái sư Lý Đạo Thành mà gạt ỷ lan ra khỏi triều đình. Mãi 4 tháng sau, nhờ có sự giúp sức của Lý Thường Kiệt bà mới trở lại nhiếp chính. Khi ấy, nguyên phi y lan đã giận dữ và ra lệnh cho bắt giam Hoàng Hậu Thượng Dương và 72 cung nu vao lãnh cung bỏ đói cho đến chết.Người có tôi chính là bà Hoàng Hậu Thượng Dương chứ ko phải nguyên phi ỷ lan. — thảo luận quên ký tên này là của Hp viutinh (thảo luận • đóng góp).
- Cái này thì có khác gì nội dung trình bày trong bài đâu? Công nhân áo hồng (thảo luận) 15:22, ngày 13 tháng 5 năm 2009 (UTC)
sao lại ko khác! trong bài nói nguyên phi ỷ lan là người hãm hại thượng dương hoàng hậu, chứ ko phải là người bị hại
POV Thảo luận:Ỷ Lan
Bài này mang tính ca ngợi nguyên phi Ỷ Lan nhiều quá, đọc cả bài toàn thấy khen, mà nhiều cái không có nguồn. Ví dụ năm 1069 có sách nào ghi chuyện lũ lụt mất mùa đâu mà gán công đấy cho Ỷ Lan, năm 1170 có hạn hán thì vua đã về nước rồi. Chuyện Ỷ Lan xây tới cả trăm ngôi chùa cũng không thể coi là "công" được, có công thì chỉ có công với giới Phật giáo thôi chứ nhọc sức dân, tốn tiền của sao thể gọi là có "công" được. Bài cần được sửa cho trung lập hơn. DRagonBallz (thảo luận) 23:20, ngày 23 tháng 1 năm 2010 (UTC)
- Đoạn này:
| “ | Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) vốn là người tài trí, thấy bà đích mẫu (tức bà Thái hậu họ Dương ở cung Thượng Dương) được tham dự việc triều chính lấy làm buồn lòng và oan ức cho mình nên mới bảo vua rằng: Mẹ già khó nhọc nuôi con để có ngày nay, đến lúc phú quý thì người khác hưởng, ăn ở như thế thì đặt con mẹ già này vào chỗ nào? Nhà vua tuy nhỏ bé nhưng cũng có hiểu biết chút ít rằng, mình không phải là con của Thái hậu Thượng Dương, bèn giam Thái hậu Thượng Dương và 72 người thị nữ ở cung Thượng Dương rồi bức bách bắt đem chôn sống theo vua Thánh Tông | ” |
được viết tài thật! Đứa trẻ 6 tuổi thì có thể hiểu biết rằng ai là mẹ đẻ, nhưng làm sao đủ trí tuệ tới mức tống giam rồi giết chết nhiều người như thế nếu không có Ỷ Lan đứng sau gièm pha. Còn chuyện thái hậu được nhiếp chính (chứ không phải thái phi) là chuyện đương nhiên, hoàng tộc dựa trên thứ bậc mà chọn người đứng đầu chứ đâu có dựa trên tài năng, có gì mà "oan ức", "ghen tức" thì đúng hơn (Toàn thư cũng ghi vậy). DRagonBallz (thảo luận) 16:59, ngày 25 tháng 1 năm 2010 (UTC)
- Trong sách Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn tham khảo cả sách VN và TQ nói về vai trò của Lý Thường kiệt trong việc này. Lý Đạo Thành ngả theo Thượng Dương còn Thường Kiệt ngả theo Ỷ Lan. Ông Hãn chỉ rõ: 1 ông vua nhỏ không thể tự làm việc lật đổ thái hậu nhiếp chính đường thời (Thượng Dương) mà phải có bàn tay 1 viên tướng chỉ huy quân đội khi đó là Lý Thường Kiệt.
- Phép viết sử phong kiến luôn quy cho quyền lực tối thượng của vua. Cũng như việc Thường Kiệt đi đánh Tống sau này vẫn được chép là "sai Thường Kiệt..."--Trungda (thảo luận) 17:12, ngày 25 tháng 1 năm 2010 (UTC)
Quê hương Nguyên Phi Ỷ Lan Thảo luận:Ỷ Lan
Sinh ra tại làng Thổ Lỗi. Phạm vi không gian địa lý tại từ làng Sủi, làng Dương đến làng Ghênh bên bờ hữu nhánh sông Thiên Đức chảy vào sông Đuống thuộc các xã Phú Thị, Dương Xá, Như Quỳnh (nay là xã Như Quỳnh và xã Gia Lâm). Làng Thổ Lỗi xưa sau đổi thành Siêu Loại (phạm vi Siêu Loại lúc đó chỉ là phạm vi vùng ven nhánh nhỏ Thiên Đức không phải huyện Siêu Loại rộng lớn đến thời Trần bao trùm nhiều xã, huyện, tỉnh thành ngày nay.
Quê hương bà ở làng Sủi: Theo như ý kiến lập luận của người dân tại đây thì làng Sủi là làng cổ có từ lâu đời có giếng Bông, gọi gạo gãy là "đớn, bổi", lại nằm bên hữu nhánh Thiên Đức từ sông Đuống chảy từ Lời, Lở, Gióng Mốt xuống Lợ vào Sủi, Lỗi trong Thổ Lỗi và Sủi không có nghĩa Hán Việt nên được coi là từ Sủi là từ Lỗi (có lỗi hay bị Lỗi), nên tên nôm của làng Sủi ngày nay có thể lấy từ đây, cũng có liên quan đến thái giám Nguyễn Bông, làng Sủi cổ cũng là đất sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng trong đó có Cao Bá Quát, không thể coi nơi có đền là quê hương (tại di tích chùa Sủi ngày nay cũng đã để lập ban thờ bà). Nên làng Sủi mới là quê hương bà chứ không phải làng Dương hay làng Ghênh.
Quê hương bà ở làng Dương: đền Ỷ Lan hay đền Bà Tấm là ngôi đền thờ bà từ lâu đã được nhiều người đến viếng thăm, cầu tự, kính cẩn thắp nén nhang, "xin lộc", cách gọi "đớn, bổi" của làng Sủi chưa đủ thuyết phục khi cả làng Dương và nhiều vùng nay cũng gọi vậy. Làng Dương nằm ở trung tâm phía bờ hữu của nhánh Thiên Đức đoạn rộng nhất (chính là đoạn từ cầu Giàng đến làng Khoai). Làng Dương còn biết tới liên quan đến bà chứ làng Sủi gần đây mới nói đưa ra lập luận (tự "nhận" là quê). Vườn dâu thì nơi đây trước kia cũng là vùng rộng lớn lắm ao hồ mà phía Tây cách xa không có thôn làng nào (Trâu Quỳ từ khoảng cuối thế kỷ 20 là vùng ngập nước rậm rạp mới được khai phá và lập ấp mới. Xưa đầu thế kỷ XX làng Dương và làng Ghênh mở hội vẫn rước qua lại. Làng Dương mới có đền bà Tấm (có thể là do đề cao công đức của bà sánh như Phật, trân trọng đáng kính như cô Tấm (bà Tấm). Cũng phù hợp Thiền uyển thập anh về Phật giáo. Nên làng Dương mới là quê chứ không phải làng Sủi và làng Ghênh.
Quê hương bà ở làng Ghênh: làng Ghênh đã có đền thờ bà từ đầu thế kỷ 12 sớm hơn cả chùa Báo Ân Siêu Loại (gắn liền với Trần Nhân Tông và thiền phái Trúc Lâm) bên bờ tả nhánh nhỏ Thiên Đức. Vẫn truyền tụng mở hội vào ngày mất của bà 25/7 âm lịch sau đó nhiều nơi mới theo, ngoài mở hội làng còn mở hội vào ngày 25/7 bà mất, còn cả bia đá, tượng bà khi chùa bị tàn phá do chiến tranh phải gửi trên chùa bà Tấm. Làng Ghênh xưa cũng là Thổ Lỗi sau là Siêu Loại. Nên đây không chỉ là quê mà còn là "ngôi nhà" của bà sinh sống trước khi gặp vua Lý. Họ Lê ở đây có nhiều hơn làng Dương, làng Sủi hầu như có rất ít hoặc không có. Nằm ngay nhánh sông Thiên Đức chảy vào sông Bất Nghĩa (công chúa bị đuối), nguồn gốc tên thật của bà ngày nay cũng xuất phát từ đây, bản diễn ca Lý triều đệ tam Hoàng Thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn có đề cập đến bà và địa danh nay là Ghênh ghi trong cuốn Như Quỳnh Kinh Bắc. Nên là Ghênh mới là quê chứ không phải làng Sủi và làng Dương.
Kết lại: Quê bà chính xác ở thôn nào từ khu vực làng Sủi đến làng Dương và làng Ghênh thì suốt gần 40 năm nay vẫn thể xác định và bỏ ngỏ. Trong thời gian 40 năm lại đây chỉ biết cả ba làng Sủi, làng Dương, làng Ghênh đều thể hiện niềm tự hào, tôn kính là quê hương bà bằng việc làng Sủi đã khắc bia đá quê hương Ỷ Lan tại khu vực cổng chùa Sủi phía chợ tạm khi đề xuất được ngành văn hóa chấp nhận, làng Ghênh cũng dựng biển chỉ dẫn ghi rõ ràng "đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan tại nguyên quán" phù hợp với các lập luận về sử học công nhận. Làng Dương nhân dân cũng phát tâm, công đức đúc tượng bà được 15 năm nay ngay trong khuôn viên đền thể hiện quê hương bà tại quê nhà được chấp nhận. Để thu hẹp phạm vi hơn thì vấn đề vẫn chưa xác định được. (Nhân ngày 25/7 âm lịch hôm nay là ngày giỗ của bà hàng năm đều được cả 3 làng Sủi, Dương, Ghênh mở hội). Tuy lễ hội ngày này của cả 3 làng không lớn bằng lễ hội 2-3/3 âm của làng Sủi, 15/Giêng, 19-21/2 của làng Dương, 12-13/3 của làng Ghênh nhưng cũng thể hiện lòng tôn kính của dân làng tới bà tại chính nguyên quán và văn hóa thờ danh nhân. – ~2025-143052 (thảo luận) 06:25, ngày 16 tháng 9 năm 2025 (UTC)