Thân Cảnh Vân
| Thân Cảnh Vân 申景云 | |
|---|---|
| Thị lang | |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | |
Ngày sinh | 1463 |
Nơi sinh | Làng Yên Ninh (tên nôm là làng Nếnh, tổng Dật Ninh, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc (nay là phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh) |
| Mất | 1531 (67–68 tuổi) |
| Gia quyến | |
Thân phụ | Thân Nhân Tín |
| Chức quan | Thị lang |
Thân Cảnh Vân (chữ Hán: 申景云, 1463 – 1531) là một vị quan, danh sĩ thời Hậu Lê.
Thân thế
Ông sinh năm 1463 tại làng Yên Ninh (tên nôm là làng Nếnh, tổng Dật Ninh, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc (nay là phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh). Làng quê ông từng nổi tiếng có truyền thống thi thư và họ Thân là một gia tộc nổi danh về truyền thống khoa bảng tiêu biểu ở làng Yên Ninh với cụ khải tổ mở đường cử nghiệp là Thân Nhân Trung đỗ tiến sĩ năm 1469. Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống thi thư, khoa cử nên từ nhỏ ông rèn luyện theo khuôn mẫu của Nho giáo. Nhà Lê khi đó đặt ra lệ “Bảo kết thi hương” bắt các xã phải chịu trách nhiệm về tư cách đạo đức của người đi thi, và lệ “cung khai tam đại” bắt người đi thi phải khai rõ lý lịch ba đời, hễ con nhà xướng ca hay có tội với triều đình nhất thiết không được dự thi.[1]
Năm 25 tuổi, ông dự khoa thi Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh, dự hàng Thám hoa. Sau khi đỗ, ông được triều đình khắc tên bia đá ở Quốc Tử Giám.
Sau khi được dự lễ ban yến ở triều đình dành cho những người đỗ đạt cao, ông tiến hành nghi thức lạy tạ vinh quy. Ông vinh quy bái tổ về quê làng Yên Ninh, bà con trong họ ngoài làng tổ chức nghi lễ hết sức long trọng để đón rước ông của làng quê khoa bảng. Sau đó ít ngày, ông tạm biệt gia đình và quê hương để hồi triều thi hành công vụ.
Ông làm quan ở chức Thị lang trong triều, cùng làm việc với ông nội là Thân Nhân Trung, với chú ruột là Thân Nhân Vũ, sau nữa là với cha Thân Nhân Tín và các quan đồng hương là Nguyễn Kính, Ngô Văn Cảnh, Đỗ Văn Quýnh.
Thời gian ông còn đảm trách công vụ cho triều đình nhà Hậu Lê, những mâu thuẫn nội tại của chế độ này đã dẫn đến sự bùng nổ phong trào khởi nghĩa nông dân và những cuộc xung đột triền miên giữa các phe phái phong kiến. Quốc gia phong kiến bước vào giai đoạn suy yếu kéo dài. Những dấu hiệu suy tàn của nhà Hậu Lê xuất hiện rõ rệt từ những năm đầu thế kỷ XVI. Theo vết các vương triều phong kiến trước đây, nhà Hậu Lê sau một thời gian nắm quyền chính đã trở nên thoái hóa. Tầng lớp thống trị nhà Hậu Lê sống rất xa hoa, trụy lạc. Triều đình và bộ máy quan lại ngày càng hủ bại, mục ruỗng. Các cuộc tranh giành, thoán đoạt và xung đột giữa các phe phái phong kiến diễn ra gay gắt, kết cục thì chỉ làm tăng thêm nỗi thống khổ cho nhân dân và bộc lộ tính chất mục nát của chế độ quân chủ chuyên chế.
Năm 1527, tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung cầm đầu thắng thế, phế truất nhà Hậu Lê, lập ra nhà Mạc. Nhưng nhà Mạc cũng chỉ là một tập đoàn phong kiến quân phiệt vì lợi ích của dòng họ mà cướp quyền, đoạt ngôi nên không thể đưa đến sự thống nhất quốc gia được, mà trái lại chỉ làm gay gắt thêm các mối xung đột và dẫn đến tình trạng cát cứ, nội chiến kéo dài như: Cuộc xung đột Nam - Bắc triều, cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn.
Trước thực trạng triều chính như vậy, các quan chức, những người trung thần nghĩa khí mấy đời ăn lộc nhà Lê, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp nhà Lê như cha con, ông cháu quan Thân Cảnh Vân không khỏi chán chường suy ngẫm cám cảnh cho thời cuộc biến loạn.
Năm Tân Mão (1531), sau hơn 40 năm tận tâm tận lực phục vụ triều chính nhà Lê, ông qua đời thọ 68 tuổi. Ông mất đi để lại bao nhiêu tình thương nhớ cho bà con trong họ ngoài làng. Cũng từ đó đến hết thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn sau này, họ Thân không có ai theo con đường khoa bảng để phục vụ triều đình phong kiến nữa.
Chú thích
- ↑ "Thám hoa Thân Cảnh Vân - nối dõi truyền thống khoa bảng của gia tộc". Báo Bắc Ninh. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2025.