Bước tới nội dung

Thành viên:Sundance Kid VN/nháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

ndcl

Á
1975MianmaTổng Lãnh sự lên Đại sứ quánNguyễn Quang Huy
1976NhậtĐại sứ quánNguyễn Giáp
1976PhilippineVũ Tiến
1976MalaysiaVũ Bạch Mai
(1977 –)

(2005 –)

PakistanNguyễn Đức Thanh (đại biện)
1978TháiHoàng Bảo Sơn
1978AganisNguyễn Sỹ Hoạt
1979CampuchiaVõ Đông Giang – Ngô Điền
(–1981)

(2003 –)

Bangladesh
1991Singapore(3*290)
1992Hàn Quốc
1995Brunei
2003New Zealand
1993Uzbekistan
2008Kazakhstan
1994)Yemen
5/2008)Iraq2011 đã trở lại làm việc nhưng năm 2012 lại phải tạm ngừn
(1997–Iran
2009Israel
1977LibyNguyễn Văn Sao
Mỹ
1975MexicoĐại sứ quánLê Thám
1976–1981

(1990–

CanadaTrần Tuấn Anh
1980 -Nicaragua - CubaĐS: Nguyễn Hữu Ngô kiêm nhiệm 1986

ĐB lâm thời: Nguyễn Văn Ngạnh (1983)

1983-1987CubaNguyễn Đình Bin
1980–1991Nicaragua
1995Aghentia - USD
2002Brazil
PanamaTổng Lãnh sự quán năm 2001, năm 2002 nâng thành Đại sứ quán,
2002(Venezuela)

1998 mở Tổng Lãnh sự quán tại Sao Paulo,Tổng Lãnh sự quán tại San-Francisco 1997 và tại Houston 2009

Phi
1976–?

2002–

AngolaVũ Hắc Bồng
1976–1981Sri LankaHoàng Thành Trai
1976LibyaNguyễn Văn Sao
1977–?)(2009–MozambiqueTrương Bình
1978–1992EthiopiaNguyễn Duy Kinh
1979–1999MadagascarPhan Thị Minh Hiền
1980Congo Bradavinmở lại sau 1972
1986–1990ZimbabweVõ Anh Tuấn
–1979Somali - Senegal
1980Mauritania
1984–)

(2003

Tanzania
1986–1986Guinea
–1990Syria
2000NamPhi
6-2005Maroc
2007Nigeria

Lãnh sự quán (lập tháng 7-2002) ở Ixtanbun (Istanbul) thành Đại sứ quán tại Thổ Nhĩ Kỳ (tháng 10-2003) và chuyển về thủ đô Ankara, ...Tổng Lãnh sự quán (thành lập năm 1997) tại Đubai (Dubai) được nâng cấp thành Đại sứ quán tại Các tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE) và chuyển về Thủ đô Abu Dabi (Abu Dhabi)

Âu
1976ĐứcNguyễn Mạnh Cầm
1977–1982NauyNguyễn Đình Thành
–1992Albani, Nam Tư, TLS Brasta (Slova)(3.291)
(1991–Áo, Bỉ
(1992-ukr
(1998Hà Lan
(2000Danmark, T.sỹ
(2002TBNha
(2005Belarus, phần lan

Năm 1976, Việt Nam lần lượt tiếp quản ghế thành viên chính thức tại Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),… Đại diện Việt Nam tại các tổ chức này là cán bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tháng 5-1977, Việt Nam gia nhập Ngân hàng Phát triển của SEV và ngày 29-6-1978, tại cuộc họp ở Bucarét (Rumani), Việt Nam chính thức gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV); ngày 23-8-1978, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập Cơ quan đại diện thường trực của nước ta tại SEV, chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ. Đại diện thường trực nước ta trong tổ chức này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Quỳnh, tiếp đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Đức Lương (Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch làm đại diện trong một thời gian rất ngắn). Bộ máy cơ quan đại diện Việt Nam tại Mátxcơva bao gồm cán bộ của Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Kế hoạch nhà nước và một số bộ, ngành hữu quan, không có cán bộ của Bộ Ngoại giao.

1977 - Liên Hiệp Quốc : Đinh Bá Thi (Phái đoàn đại diện thường trú)

Trước 77: Phái đoàn quan sát viên miền Bắc – Nguyễn Văn Lưu, Phái đoàn quan sát viên Cộng hòa miền Nam Việt Nam – Đinh Bá Thi

1978 Mỹ trục xuất Đinh Bá Thi (“lạm dụng các đặc quyền về cư trú”), NVLưu thay thế, Hà Văn Lâu

Giơnevơ, tháng 5-1979, khai trương Phái đoàn đại diện bên cạnh Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế – Võ Anh Tuấn

ESCAP (đặt trụ sở tại Băng Cốc) do Đại sứ tại Thái Lan kiêm nhiệm.

2

Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với một loạt nước Đông Nam Á như Philíppin (tháng 7-1976), Thái Lan (tháng 8-1976); các nước châu Á khác như Thổ Nhĩ Kỳ (tháng 6-1978), Gioócđani (Jordan, tháng 8-1980), Libăng (Lebanon, tháng 2-1981) ở Tây Á; Tây Ban Nha (tháng 5-1977) ở châu Âu; Vanuatu (tháng 3-1982) ở châu Đại Dương; Côlômbia (Colombia, tháng 1-1979), Grênađa (Grenada, tháng 7-1979), Nicaragoa (tháng 9-1979), Êcuađo (Ecuador, tháng 1-1980) ở châu Mỹ; Sao Tômê và Prinxipê (São Tomé and Príncipe, tháng 11-1976), Xiêra Lêôn (Sierra Léon, tháng 6-1978), Cộng hòa Arập Xarauy (Sahrawi, tháng 3-1979),Xâysen (Seychelles, tháng 8-1979), Dimbabuê (tháng 7-1981), Sát (Chad, tháng 10-1981)

khai trương mới các Tổng Lãnh sự quán ở Xavẳnnakhệt (1985), Báttambăng, Xihanúcvin (1989), Pắcxê (Packse, 1990), mở lại Tổng Lãnh sự quán ở Quảng Châu (1992), khai trương Tổng Lãnh sự quán ở Xítni (Sydney, 1992), Văn phòng Kinh tế - Văn hóa ở Đài Bắc và Tổng Lãnh sự quán ở Mumbai (1993),Tổng Lãnh sự quán ở Hồng Công (1994), Khỏn Khèn (Khon khoen, 1996), Ôxaca (Osaka, 1997), Nam Ninh và Côn Minh (2004), Phucuôca (Fukuoka, 2009), Tổng Lãnh sự quán: Nakhodka (1989), Vlađivôxtốc (Vladivostok, 1996), Êkaterinbua (Ekaterinburg, 2007), Ôđétxa (Odessa, 1989, song đã đóng cửa vào năm 1992).

Nguyễn Phương Nga (sau trở thành nữ Thứ trưởng và nữ Trưởng Phái đoàn đầu tiên thường trực bên cạnh Liên hợp quốc),


năm 1990, Bộ đã trình và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Lãnh sự, năm 1993 thông qua Pháp lệnh về các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, năm 1995 thông qua Pháp lệnh về hàm cấp ngoại giao và năm 2009 Quốc hội đã thông qua Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (Luật số 33/2009/QH12) thay cho Pháp lệnh năm 1990 và 1993.

Luật quốc tịch 1988 và 2008; Pháp lệnh lãnh sự 1990; Pháp lệnh về ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế (1998), đến năm 2005 được bổ sung, hoàn thiện, nâng thành Luật; Luật biên giới quốc gia (2003); Luật cư trú (2006); Luật công chứng (2006); Luật tương trợ tư pháp (2007); Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế (2007); Luật lý lịch tư pháp (2009); Luật nuôi con nuôi (2010),...