Bước tới nội dung

Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Vietnam Posts and Telecommunications Group
Loại hình
Tập đoàn kinh tế nhà nước
Ngành nghềViễn thông, Công nghệ thông tin
Thành lập26 tháng 3 năm 1995; 31 năm trước (1995-03-26)
Trụ sở chính57 Huỳnh Thúc Kháng, phường Láng, Thành phố Hà Nội
Thành viên chủ chốt
Tô Dũng Thái (Chủ tịch Hội đồng Thành viên)
Huỳnh Quang Liêm (Tổng giám đốc)
Dịch vụDịch vụ thoại
Dịch vụ truyền thông
Dịch vụ truyền dữ liệu
Dịch vụ hệ thống, giải pháp
Dịch vụ vệ tinh
khoảng 13.500 tỷ VNĐ
Số nhân viênkhoảng >23.000 nhân viên
Khẩu hiệuCuộc sống đích thực
WebsiteVNPT

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: Vietnam Posts and Telecommunications Group, viết tắt: VNPT) là một tập đoàn kinh tế nhà nước về lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông tại Việt Nam. Được chuyển đổi từ Tổng cục Bưu điện, quá trình hình thành và phát triển của VNPT gắn liền với sự phát triển của cả ngành bưu điện và viễn thông tại Việt Nam. Doanh nghiệp này cũng từng sở hữu Tổng công ty Bưu điện Việt Nam trước khi chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước về Bộ Thông tin và Truyền thông vào năm 2012. Theo Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất tại Việt Nam do Vietnam Report JSC công bố vào năm 2026, đây là doanh nghiệp lớn thứ 26. Doanh nghiệp này sở hữu VinaPhone, một trong ba nhà mạng di động lớn nhất Việt Nam.

VNPT được thành lập lần đầu tiên vào năm 1990 khi Chính phủ Việt Nam quyết định chuyển Tổng cục Bưu điện thành Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam để công ty hoá ngành Bưu điện và tách phần quản lý Nhà nước về Bộ Giao thông Bưu điện đảm nhận. Tổng công ty đã thuộc dưới quyền quản lý của Bộ Giao thông Bưu điện 2 năm trước khi được tách khỏi Bộ và trở thành một đơn vị kinh doanh thuộc Tổng cục Bưu điện khi đơn vị này được tái thành lập vào năm 1992. Đến năm 1995, trên cơ sở sắp xếp lại các lĩnh vực liên quan trong Tổng cục Bưu điện, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (với tên giao dịch quốc tế viết tắt là VNPT) theo mô hình Tổng công ty 91 trực thuộc Chính phủ chính thức được thành lập.

Đến năm 2006, VNPT một lần nữa được tái cấu trúc và hoạt động theo mô hình mới kể từ ngày 26 tháng 3 năm 2006. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, VNPT chuyển đổi từ mô hình Tổng công ty sang mô hình Tập đoàn. Đến tháng 10 năm 2010, VNPT tiếp tục thay đổi phương thức hoạt động, chuyển đổi sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Kể từ khi bắt đầu hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91, VNPT đã tách khỏi chức năng quản lý nhà nước và trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh, quản lý khai thác và cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông. Ngoài ra, doanh nghiệp này còn được chính phủ Việt Nam cấp quyền vận hành và khai thác hai vệ tinh Việt Nam Vinasat-1Vinasat-2.

Lịch sử hình thành và phát triển Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Thời kỳ sơ khai của ngành bưu điện

Giai đoạn Cách mạng Tháng Tám 1945

Năm 1945, ngay những ngày đầu của Cách mạng Tháng Tám, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra tại chiến khu Tân Trào vào ngày 14–15 tháng 8. Một trong những nội dung của hội nghị liên quan đến công tác giao thông liên lạc là triển khai lập các Ban Giao thông chuyên môn.[1] Về sau, ngày 15 tháng 8 được chọn làm Ngày truyền thống của ngành Bưu điện nói chung.[2][3]

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản và giữ nguyên tổ chức Bưu điện của chính quyền cũ là Nha Tổng giám đốc Bưu điện và Sở Vô tuyến điện.[4] Lúc bấy giờ, bộ máy Bưu điện của chế độ cũ bao gồm cả Đông Dương, được chia làm hai miền là Bắc phần và Nam phần, trong đó Nha Tổng giám đốc phụ trách chung hai miền.[5] Sở Vô tuyến điện của Đông Dương vốn chịu trách nhiệm việc thu phát tin được xem là một ngàng riêng biệt không thuộc ngành Bưu điện. Tương tự như Bưu điện, Sở Vô tuyến điện được chia làm 2 khu Bắc và Nam.[6] Sau khi được chính quyền cách mạng tiếp quản, phần thuộc Việt Nam của Sở Vô tuyến điện Đông Dương được hợp nhất vào ngành Bưu điện trực thuộc Bộ Giao thông Công chính. Đến cuối năm 1945, cơ quan này được chuyển giao về Bộ Quốc phòng thuộc sự quản lý của Phòng Thông tin liên lạc, Bộ Tổng tham mưu.[4]

Trong những năm Chiến tranh Đông Dương (1946–1954)

Không lâu sau đó, chiến tranh tiếp tục nổ ra tại Việt Nam. Để phục vụ công tác liên lạc giữa các địa phương và đặc biệt là giữa hai miền Nam Bắc, Ban Giao thông Kháng chiến các cấp được thành lập.[7] Sau thất bại tại Chiến dịch Việt Bắc, Pháp bắt đầu thay đổi chiến lược quân sự. Để phù hợp với tình hình mới, lực lượng thông tin liên lạc của Việt Nam cũng được cải tổ. Ban Giao thông liên lạc trên cả nước được hệ thống lại bộ máy, bao gồm Ban Giao thông Trung ương, Ban Vô tuyến điện và Phòng liên lạc miền Nam.[8] Ngày 30 tháng 8 năm 1947, Hội nghị thành lập Công đoàn Bưu điện Việt Nam đã diễn ra tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Đây được xem là cột mốc quan trọng của ngành Bưu điện Việt Nam.[9]

Đầu năm 1948, ba Nha Bưu điện là Bắc Bộ, Bắc phần Trung bộ và miền Nam bị hủy bỏ, thay vào đó là các Liên khu Bưu điện mới được thành lập; các Ty bưu điện tại các tỉnh cũng được tổ chức lại.[10] Tháng 5 cùng năm, Bộ Giao thông Bưu điện quyết định hợp nhất Ban Giao thông Kháng chiến với Bưu điện và lấy tên là Nha Bưu điện Việt Nam, do Nguyễn Văn Đạt làm Tổng giám đốc và Trần Quang Bình làm Phó Tổng giám đốc. Mặc dù vậy, vì tình hình chiến sự thực tế mà việc hợp nhất này được thực hiện dần đối với các tỉnh và chỉ hoàn thành vào năm 1950.[11] Đến tháng 6 năm 1951, chính phủ Việt Nam ra quyết định sáp nhập ngành Vô tuyến điện hành chính vào ngành Bưu điện và lấy tên là Nha Bưu điện – Vô tuyến điện Việt Nam. Ông Trần Quang Bình cũng được bổ nhiệm làm Giám đốc thay cho ông Nguyễn Văn Đạt.[12]

Từ sau Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954

Sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc và Hiệp định Genève 1954 được ký kết, chính phủ cách mạng Việt Nam từ chiến khu Việt Bắc một lần nữa trở về tiếp quản Hà Nội, Nha Bưu điện – Vô tuyến điện cũng tiến hành tiếp quản các cơ sở thông tin của quân Pháp trên địa bàn.[13] Tháng 3 năm 1955, chính phủ ra Nghị định số 480-TTg đổi tên Nha Bưu điện – Vô tuyến điện Việt Nam thành Tổng cục Bưu điện thuộc Bộ Giao thông Bưu điện.[14] Ông Trần Quang Bình cũng trở thành Tổng cục trưởng đầu tiên. Ngày 13 tháng 5 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 63-CP tách Tổng cục Bưu điện khỏi Bộ Giao thông Bưu điện, trở thành cơ quan trực thuộc Chính phủ.[15] Cũng trong giai đoạn này, ngành Bưu điện liên tiếp nhận thêm nhiệm vụ phát hành báo chí (1955) và quản lý xây dựng kỹ thuật phát thanh, truyền thanh (1962).[16] Theo đó, vào đầu tháng 2 năm 1962, Tổng cục Bưu điện được đổi tên thành Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh.[17] Tháng 12 năm 1967, phần phát thanh và truyền thanh được tách ra khỏi Tổng cục Bưu điện và đến tháng 1 năm 1968 thì Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh được đổi tên trở lại thành Tổng cục Bưu điện. Tháng 7 năm 1969, Trường Bưu điện được công nhận là trường đại học của ngành, lấy tên là Trường Đại học Kỹ thuật thông tin liên lạc (nay là Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, từng thuộc quản lý của VNPT trước khi chuyển giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông).[18]

Năm 1975, sau khi Việt Nam tái thống nhất, Tổng cục Bưu điện miền Nam được thành lập dựa trên cơ sở tiếp quản Tổng Nha viễn thông và Tổng cục Bưu chính các Bưu điện phụ cận, các tỉnh phía Nam của chế độ cũ và hợp nhất các lực lượng thông tin liên lạc đã được thành lập trước đó, do Nguyễn Văn Đạt giữ vai trò Tổng cục trưởng.[19] Đến tháng 8 năm 1976, các đơn vị trong ngành ở hai miền Bắc–Nam chính thức được hợp nhất về Tổng cục Bưu điện (sau là Bộ Thông tin và Truyền thông).[20] Cũng trong thời gian này, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thông tin thuộc Bộ quốc phòng là Đại tá Phạm Niên được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng thay cho ông Trần Quang Bình nghỉ hưu theo chế độ.[21] Đến năm 1984, Đại tá Phạm Niên về hưu, Giám đốc Trung tâm Viễn thông III là Đặng Văn Thân được bổ nhiệm giữ quyền Tổng cục trưởng và sau đó chính thức nhậm chức vào tháng 9 năm 1985.[22]

Thành lập Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Giai đoạn đầu hình thành (1990–1993)

Tháng 4 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ra nghị định số 115/HĐBT chuyển Tổng cục Bưu điện thành Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam để công ty hoá ngành Bưu điện, tách phần quản lý Nhà nước do Bộ Giao thông Bưu điện đảm nhiệm.[23] Ngay sau đó, Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông đã ra quyết định số 02/TCCB-LĐ chuyển đổi bộ máy chức năng giúp việc Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện thành bộ máy chức năng giúp việc Tổng giám đốc Tổng Công ty; các Vụ, Văn phòng cũng được chuyển đổi thành các Ban, Phòng ban tương ứng.[24] Nguyên Tổng cục trưởng Đặng Văn Thân được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng cục trưởng là Hoàng Bạn, Trương Văn Thoan cũng trở thành Phó tổng Giám đốc.[25] Trong vòng một năm sau đó, có 4 Phó Tổng giám đốc mới lần lượt được bổ nhiệm bao gồm Mai Liêm Trực, Đỗ Trung Tá, Nguyễn Hữu Bản và Đặng Đình Lâm.[26] Cũng trong giai đoạn này, hàng loạt công ty con được thành lập và đi vào hoạt động, bao gồm Công ty Viễn thông Quốc tế (VTI, nay là VNPT-I),[27] Công ty Viễn thông liên tỉnh (VTN, nay là VNPT-Net),[28] Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) Công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế (VPS – Viet Nam Post).[29] Năm 1992, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông liên doanh với hãng Daesung của Hàn Quốc để thành lập Công ty liên doanh cáp Vinadaesung – nhà sản xuất cáp mạng LAN đầu tiên tại Việt Nam. Đến năm 2001, Tập đoàn Nexans (Pháp) đã thu mua hãng Daesung và Vinadaesung cũng trở thành một thành viên của tập đoàn này.[30][31] Không lâu sau đó, công ty liên doanh này đã nhận được chứng chỉ ISO-9002, trở thành công ty đầu tiên của ngành Bưu điện Việt Nam nhận được chứng chỉ này.[32]

Cũng trong năm 1992, Tổng cục Bưu điện được tái thành lập để thực hiện quản lý Nhà nước về Bưu điện, đồng thời Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam cũng được tách khỏi Bộ Giao thông Bưu điện và trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Tổng cục Bưu điện. Ban giám đốc Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông một lần nữa được bổ nhiệm vào ban lãnh đạo Tổng cục bao gồm Tổng giám đốc Đặng Văn Thân là Tổng cục trưởng, Phó Tổng giám đốc Mai Liêm Trực làm Phó Tổng cục trưởng.[33] Đến năm 1993, Phó Tổng giám đốc Đỗ Trung Tá tiếp tục được bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng.[34] Cũng trong thời gian này, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký quyết định bổ nhiệm ban lãnh đạo mới cho Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông bao gồm Giám đốc Bưu điện thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Bá giữ chức Tổng giám đốc, cùng các Phó Tổng giám đốc là Đoàn Ngọc Chung, Nguyễn Hữu Bản, và Đặng Đình Lâm. Tính đến thời điểm này, VNPT chịu trách nhiệm quản lý các công ty trực thuộc bao gồm VDC, VTI, VTN, VPS, VMS (Công ty Thông tin di động, nay là Tổng công ty Viễn thông MobiFone), và các đơn vị kinh doanh tại địa phương bao gồm Bưu điện tại các tỉnh, thành phố.[35] Cũng trong năm 1993, VNPT tiếp tục liên doanh cùng LG Cable của Hàn Quốc thành lập Công ty liên doanh sản xuất cáp sợi quang VINA-GSC (hiện nay là Công ty CP cáp quang Việt Nam, VINA-OFC).[36]

Hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91 (1994–2005)

Đến tháng 5 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 91/TTg chuyển Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông thành tập đoàn kinh doanh của Nhà nước (thường được gọi tắt là Tổng công ty 91).[37] Ngày 19 tháng 4 năm 1995, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (với tên giao dịch quốc tế viết tắt là VNPT) theo mô hình Tổng công ty 91 trực thuộc Chính phủ chính thức được thành lập dựa trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, sản xuất, lưu thông, sự nghiệp về bưu chính–viễn thông thuộc Tổng cục Bưu điện theo quyết định số 249/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, VNPT chính thức tách khỏi chức năng quản lý nhà nước và trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh, quản lý khai thác và cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông.[38][39] Đây là một trong những Tổng công ty 91 đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế tại Việt Nam.[40] Ngày 30 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định về cơ cấu ban lãnh đạo Tổng công ty, trong đó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Trung Tá – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện – giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị, kỹ sư Nguyễn Hữu Bản giữ chức Phó Chủ tịch, Phó tiến sĩ Mai Liêm Trực – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện – giữ chức Tổng Giám đốc công ty kiêm Ủy viên Hội đồng quản trị.[41] Đến tháng 8 cùng năm, vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống của ngành, ngành Viễn thông với đại diện là VNPT đã được chính phủ Việt Nam trao tặng Huân chương Sao Vàng, trở thành ngành kinh tế–kỹ thuật đầu tiên nhận được huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam.[2]

Đầu năm 1997, Tổng giám đốc VNPT là Mai Liêm Trực được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, Phó Tổng giám đốc Đặng Đình Lâm trở thành người kế nhiệm giữ vai trò Tổng giám đốc.[42] Cũng trong năm này, VNPT có thêm 2 doanh nghiệp liên doanh nước ngoài bao gồm VINECO (VNPT – NEC) và VFT (VNPT – Fujitsu) chịu trách nhiệm sản xuất tổng đài và thiết bị truyền dẫn.[43] Đến cuối năm 1997, Việt Nam chính thức khai trương dịch vụ Internet,[44] VNPT không chỉ trở thành nhà cung cấp cổng truy nhập Internet (IAP) duy nhất, mà còn là 1 trong 4 nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đầu tiên của Việt Nam lúc bấy giờ.[45] Cho đến năm 2000, VNPT vẫn là nhà cung cấp IAP chiếm thị phần lớn.[46] Trong những năm cuối thập niên 90, VNPT liên tiếp triển khai nhiều dịch vụ bưu chính viễn thông, trong đó có dịch vụ điện thoại di động trả trước được đưa vào hoạt động từ tháng 10 năm 1999.[47] Tháng 5 năm 2003, VNPT chính thức cung cấp dịch vụ Internet băng rộng ADSL trên quy mô toàn quốc với thương hiệu MegaVNN. Đây được xem là dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao đầu tiên tại Việt Nam. Trong những năm sau đó, khi Việt Nam tiến hành triển khai công nghệ 3G và 4G, VNPT cũng là doanh nghiệp tiên phong thử nghiệm công nghệ mới và triển khai dịch vụ đến người dùng Việt Nam. Tính đến thời điểm triển khai dịch vụ 4G vào năm 2016, VNPT là nhà cung cấp dịch vụ chiếm tới tới gần 50% thị phần thuê bao Internet băng rộng cố định cả nước.[45]

Thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông

Năm 2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.[48] Theo đó, VNPT chính thức chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình Tập đoàn.[49] Điều lệ tổ chức và hoạt động của tập đoàn cũng được ban hành kèm theo Quyết định số 265/2006/QĐ-TTg ngày 17 tháng 11 năm 2006.[50] Năm 2007, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) chính thức ra đời theo quyết định số 16/2007/QĐ-TCCB-BBCVT của Bộ Bưu chính, Viễn thông, trong đó Hội đồng thành viên Tập đoàn VNPT là đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại Tổng công ty và là Hội đồng thành viên của Tổng công ty.[51] Đây được xem là cột mốc đánh dấu sự phát triển mới của ngành Bưu chính tại Việt Nam. Đến năm 2012, Vietnam Post tách khỏi Tập đoàn VNPT và hoạt động với tên gọi Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam dưới quyền quản lý trực tiếp của Bộ Thông tin và Truyền thông.[52]

Tính đến năm 2009, VNPT là doanh nghiệp có cơ sở hạ tầng rộng lớn nhất trong các doanh nghiệp khai thác viễn thông tại Việt Nam. Đây cũng là năm thứ 3 liên tiếp VNPT lọt vào top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do báo điện tử VietnamNet phối hợp với Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện.[53] Ngày 24 tháng 6 năm 2010, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chuyển đổi hoạt động sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo quyết định số 955/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.[54]

Phát triển mạng lưới viễn thông Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Tháng 4 năm 1993, MobiFone chính thức ra mắt, trở thành nhà mạng di động đầu tiên của Việt Nam.[55] Ngày 26 tháng 6 năm 1996, VinaPhone chính thức đi vào hoạt động, trở thành mạng thông tin di động kỹ thuật GSM thứ hai tại Việt Nam sau MobiFone. Đây được xem là lần đầu tiên tại Việt Nam mà một dịch vụ viễn thông được cung cấp bởi hai nhà kinh doanh khác nhau.[56] Hai nhà mạng thuộc VNPT đã nhanh chóng phủ sóng 52 trên tổng số 61 tỉnh thành, và sau đó phủ sóng toàn quốc vào năm 1999.[55] Trong những năm đầu 2000, hai nhà mạng này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mỗi năm lắp đặt thêm từ hàng trăm đến hàng ngàn trạm thu phát sóng di động (BTS). Số lượng trạm BTS từ 1.100 trạm vào năm 2002 đã dần tăng lên 2.530 trạm năm 2005, 12.000 trạm năm 2007 và 13407 trạm vào năm 2008. Đến năm 2009, VNPT đã triển khai được gần 20.000 trạm BTS, tăng 10 lần so với năm 2005 chỉ trong vòng 4 năm.[57]

Sau khi triển khai dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao đầu tiên vào năm 2003, VNPT tiếp tục đưa mạng viễn thông thế hệ mới NGN vào khai thác trên mạng lưới viễn thông tại Việt Nam. Đây được xem là bước chuyển quan trọng và căn bản về công nghệ mạng khi công nghệ chuyển mạch kênh được thay thế bởi chuyển mạch gói.[58] Kể từ đây, VNPT liên tục đầu tiên để nâng cấp tuyến truyền dẫn công nghệ, chuyển đổi từ chuyển mạch kênh, chuyển mạch gói sang chuyển mạch mềm (softswitch), chuyển mạch nhãn (MPLS). Mạng MAN-Ethernet cũng nhanh chóng được triển khai. Đến cuối năm 2005, một công ty con của VNPT là VTI đã hợp tác cùng Công ty Shin Satelite PLC của Thái Lan chính thức khánh thành trạm cổng VSAT-IP/IPSTAR quốc tế đầu tiên tại Việt Nam. Đây là giải pháp băng thông rộng không dây hiện đại, cho phép VNPT mở rộng dịch vụ viễn thông và internet tới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.[59] Vào năm 2000, trên toàn Việt Nam chỉ có 85,8% số xã có điện thoại. Đến năm 2002, con số này tăng lên 92,5%. Năm 2003, VNPT đã tiến hành kế hoạch triển khai điện thoại đến 277 xã đặc biệt khó khăn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên. Năm 2004, VNPT tiếp tục triển khai đưa điện thoại đến toàn bộ các huyện biên giới, 380/401 xã trọng điểm biên giới, 210/250 đồn biên phòng, giúp nâng tỷ lệ số xã có điện thoại lên 97,5%.[60] Sau khi đưa vào sử dụng, hệ thống VSAT này đã giúp VNPT hoàn thành mục tiêu đưa điện thoại đến 100% số xã trên toàn Việt Nam vào năm 2005, đồng thời cho phép khách hàng ở bất kỳ đâu trên lãnh thổ Việt Nam có thể tiếp cận các loại tiện ích viễn thông, internet tốc độ cao.[59]

Từ đầu năm 2009, VNPT đã bắt đầu dự án triển khai phát sóng 3G. Tháng 4, doanh nghiệp này nhận được giấy phép triển khai mạng di động tốc độ cao 3G chia đều cho hai mạng VinaPhone và MobiFone.[61] Thay vì đầu tư một mạng 3G mới hoàn toàn, VNPT tiến hành đầu tư nâng cấp mạng 2G lên 3G. Quyết định này giúp doanh nghiệp giảm đến 60% chi phí.[62] Đến tháng 10, Vinaphone chính thức khai trương mạng VinaPhone 3G và trở thành mạng thông tin di động đầu tiên tại Việt Nam cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thông tin di động trên nền công nghệ 3G.[63] Tiếp sau đó, MobiFone trở thành nhà mạng thứ 2 tại Việt Nam triển khai 3G vào tháng 12 cùng năm.[64] Tính đến thời điểm triển khai dịch vụ, Vinaphone đã hoàn thành việc lắp đặt hơn 5000 trạm BTS 3G, MobiFone cũng đạt được 2400 trạm với mức độ phủ sóng đến 52% dân số Việt Nam. VNPT cũng đã ký kết thỏa thuận roaming mạng 3G với 50 nhà mạng 3G trên thế giới. Vinaphone nhanh chóng phủ sóng đến tất cả trung tâm các huyện trong cả nước. Tính đến năm 2010, cả hai nhà mạng của VNPT đều đã phủ sóng tới 100% huyện, thị trên toàn lãnh thổ Việt Nam.[65]

Ngày 27 tháng 11 năm 2009, tuyến cáp quang biển AAG (Asia-America Gateway) Việt Nam với chiều dài lên đến 20.000 km được khánh thành. Đây là kết quả thuộc dự án xây dựng hệ thống cáp quang biển băng rộng tốc độ cao kết nối trực tiếp từ Đông Nam Á đến Hoa Kỳ. VNPT là một trong 3 thành viên của Việt Nam tham gia dự án, đồng thời là thành viên tham gia sáng lập với vốn góp lớn nhất lên đến 40 triệu USD. Cũng trong tháng này, VNPT tiếp tục tham gia dự án xây dựng hệ thống cáp quang biển quốc tế APG (Asia Pacific Gateway) với tổng chiều dài 8000 km.[66]

Các dự án vệ tinh Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Từ những năm 90 của thế kỷ 20, ý tưởng phóng vệ tinh Vinasat của Việt Nam lên quỹ đạo đã được đặt ra trong bối cảnht các doanh nghiệp và tổ chức tại Việt Nam đang phải chi một khoản ngoại tệ lớn để thuê vệ tinh của nước ngoài như Nga, Úc, Thái Lan để cung cấp một số dịch vụ viễn thông và thông tin chuyên ngành.[67]

Vinasat-1vệ tinh viễn thông địa tĩnh đầu tiên của Việt Nam.[68] Dự án này đã được khởi động từ năm 1998 với tổng mức đầu tư là khoảng hơn 300 triệu USD.[69] Đến tháng 10 năm 2005, Dự án phóng vệ tinh viễn thông Việt Nam (VINASAT) chính thức được giao cho Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) làm chủ đầu tư theo Quyết định số 1104/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.[70] Đến ngày 19 tháng 4 năm 2008, vệ tinh này thành công được phóng vào quỹ đạo, khẳng định chủ quyền không gian vệ tinh của Việt Nam. Theo kết quả đo thử vệ tinh trên quỹ đạo do Ban Chỉ đạo Quốc gia Dự án Vinasat, hầu hết thông số thực của Vinasat-1 đều vượt các chỉ tiêu thiết kế, bao gồm thời gian sống, độ tin cậy và số bộ phát đáp có thể hoạt động.[71]

Thành tựu Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Lãnh đạo qua các thời kỳ Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Lãnh đạo Nha Bưu điện, Tổng cục Bưu điện (1945–1990)

STTLãnh đạoChức vụNhiệm kỳNguồn
Danh hiệuHọ và tênBắt đầuKết thúc
1Nguyễn Văn ĐạtGiám đốc Nha Bưu điện19481951
2Trần Quang BìnhGiám đốc Nha Bưu điện – Vô tuyến điện19511955
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện19551976
Vũ Văn QuýQuyền Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện19701976[74]
3Đại táPhạm NiênTổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện19761984
4Anh hùng Lao độngĐặng Văn ThânQuyền Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện19841985
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện19851990

Tổng giám đốc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (1990–nay)

STTLãnh đạoNhiệm kỳChức vụ sau đóNguồn
Danh hiệuHọ và tênBắt đầuKết thúc
1Anh hùng Lao độngĐặng Văn Thân19901993Tổng Cục trưởng Tổng cục Bưu điện[75]
2Tiến sĩNguyễn Bá19931995[76]
3Tiến sĩMai Liêm Trực19951997Tổng Cục trưởng Tổng cục Bưu điện
4Đặng Đình Lâm19972002Thứ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông[77]
5Phạm Long Trận20022006Chủ tịch HĐQT Tập đoàn VNPT
6Vũ Tuấn Hùng20062013Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Thông tin và Truyền thông[78]
7Trần Mạnh Hùng20132015Chủ tịch HĐTV Tập đoàn VNPT[79]
8Tiến sĩPhạm Đức Long20152021Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông[80]
9Huỳnh Quang Liêm2021nay

Chủ tịch hội đồng quản trị, hội đồng thành viên VNPT (1995–nay)

STTLãnh đạoNhiệm kỳChức vụ sau đóNguồn
Danh hiệuHọ và tênBắt đầuKết thúc
Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (1995–2006)
1Giáo sư, Tiến sĩĐỗ Trung Tá19952002Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông
2Vũ Văn Luân20022005[81]
3Phạm Long Trận20052006Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn[82]
Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2006–2010)
Phạm Long Trận20062010Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn[82]
Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010–nay)
Phạm Long Trận20102015Nghỉ hưu[82]
4Trần Mạnh Hùng20152020Nghỉ hưu[83]
5Tiến sĩPhạm Đức Long20202021Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông[80][84]
6Tô Dũng Thái2021nay[85]

Danh sách công ty con Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Các đơn vị thành viên do VNPT sở hữu 100% vốn điều lệ

  • Tổng công ty dịch vụ viễn thông (VNPT-VinaPhone)
  • Tổng công ty hạ tầng mạng (VNPT-Net)
  • Tổng công ty truyền thông (VNPT-Media)
  • Công ty Công nghệ thông tin VNPT (VNPT-IT)
  • Công ty TNHH MTV Cáp quang (FOCAL)
  • Các Trường Trung học Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin (04 trường)
  • Bệnh viện Bưu điện (tại Hà Nội)
  • Bệnh viện Đa khoa Bưu điện (tại Thành phố Hồ Chí Minh)

Các đơn vị thành viên sở hữu trên 50% vốn điều lệ

  • Công ty cổ phần Công nghệ Công nghiệp Bưu chính Viễn thông (VNPT Technology)
  • Công ty Cổ phần Thiết bị Bưu điện (POSTEF)

Lĩnh vực hoạt động chủ yếu Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

  • Cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông, CNTT, phát thanh, truyền hình và truyền thông đa phương tiện
  • Cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán và trung gian tiền tệ
  • Dịch vụ nội dung số, trò chơi điện tử, trang tin điện tử và ứng dụng

Chú thích Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

  1. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 111.
  2. 1 2 Bình Minh (ngày 16 tháng 8 năm 2018). "Ngày truyền thống ngành Bưu điện: Ôn lại chuyện xưa, hướng tới kỳ vọng mới!". Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  3. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 5.
  4. 1 2 Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 123.
  5. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 119–120.
  6. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 121–122.
  7. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 200.
  8. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 211–214.
  9. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 215.
  10. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 216.
  11. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 217–218.
  12. Tổng cục Bưu điện (2002), tr. 270.
  13. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 28–29.
  14. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 39.
  15. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 91.
  16. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 710–711.
  17. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 94.
  18. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 712.
  19. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 679.
  20. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 38.
  21. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 39.
  22. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 303–304.
  23. Võ Văn Kiệt (ngày 7 tháng 4 năm 1990). "Nghị định số 115/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng: Nghị định về việc chuyển Tổng cục Bưu điện thành Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  24. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 400.
  25. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 401.
  26. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 402.
  27. Thảo Hoàng (ngày 1 tháng 4 năm 2015). "25 năm kết nối Việt Nam và thế giới: Từ VTI đến VNPT-I". Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
  28. Lâm Thảo (ngày 15 tháng 5 năm 2015). "VNPT công bố quyết định thành lập ba tổng công ty". Nhân Dân. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
  29. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 403.
  30. V.P (ngày 7 tháng 4 năm 2007). "Vina Daesung dự kiến cổ phần hóa". VnExpress. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  31. "Bản công bố thông tin về việc chuyển nhượng vốn cổ phần của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam đầu tư tại Công ty cổ phần Vinacap Kim Long" (PDF). VCBS. ngày 27 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  32. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 692.
  33. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 578.
  34. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 579.
  35. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 580–581.
  36. "VINA-OFC cung cấp 40.000 km cáp quang". VietNamNet. ngày 30 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  37. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 585.
  38. "Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)". Nhân Dân. ngày 27 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  39. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 586.
  40. "VNPT hướng tới tập đoàn kinh tế". Báo Điện tử Chính phủ. ngày 3 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  41. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 587.
  42. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 715–716.
  43. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 696.
  44. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 651.
  45. 1 2 An An. "VNPT - 20 năm đồng hành cùng Internet Việt Nam". Công an Nhân dân. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  46. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 652.
  47. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 647.
  48. Nguyễn Tấn Dũng (ngày 9 tháng 1 năm 2006). "Quyết định số 06/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: QĐ thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  49. Nhất Liên (ngày 23 tháng 11 năm 2005). "Đầu năm 2006, tập đoàn VNPT sẽ ra mắt". Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  50. Nguyễn Tấn Dũng (ngày 17 tháng 11 năm 2006). "Quyết định số 265/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  51. Việt Thắng (ngày 17 tháng 4 năm 2012). "Dự kiến VNPost sẽ tách hoàn toàn khỏi tập đoàn VNPT từ ngày 01/01/2013". Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  52. Phạm Trung (ngày 20 tháng 12 năm 2012). "Bưu điện Việt Nam chính thức tách khỏi VNPT". Nhân Dân. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  53. Hoài Thu (ngày 3 tháng 12 năm 2009). "Phát huy truyền thống ngành Bưu điện - VNPT tiếp tục đổi mới, phát triển bền vững". Nhân Dân. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  54. Nguyễn Sinh Hùng (ngày 24 tháng 6 năm 2010). "Quyết định số 955/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  55. 1 2 Ban Thời sự (ngày 8 tháng 3 năm 2023). "Sự phát triển của mạng di động tại Việt Nam". Báo điện tử của Đài Truyền hình Việt Nam. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  56. Bộ Bưu chính Viễn thông (2003), tr. 644–645.
  57. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 71.
  58. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 67.
  59. 1 2 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 68–69.
  60. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 74.
  61. "VNPT sẽ triển khai 3G như thế nào?". VietNamNet. ngày 13 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  62. Thu Hà (ngày 11 tháng 9 năm 2009). "Gấp rút triển khai cung cấp dịch vụ 3G". Nhân Dân. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  63. "VinaPhone chính thức cung cấp dịch vụ 3G đầu tiên tại Việt Nam". Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. ngày 13 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  64. Hồng Anh (ngày 15 tháng 12 năm 2009). "MobiFone gia nhập cuộc chơi 3G". VnExpress. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  65. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 72.
  66. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 65.
  67. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (2010), tr. 83.
  68. Từ Nguyên (ngày 13 tháng 3 năm 2008). "VNPT không độc quyền Vinasat 1". VnEconomy. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  69. Tr.Sơn (ngày 7 tháng 5 năm 2013). "Từ VINASAT-1 đến VNREDSat-1". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  70. N.L (ngày 4 tháng 1 năm 2006). "10 sự kiện nổi bật năm 2005 của VNPT". Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  71. Minh Định (ngày 5 tháng 1 năm 2009). "Vệ tinh Vinasat - 1: Một năm nhìn lại". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  72. Hà Văn (ngày 6 tháng 9 năm 2025). "Thủ tướng: VNPT tiếp tục phát huy truyền thống đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm". Báo Điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  73. "5 năm VNPT: Từ Tổng công ty tới mô hình Tập đoàn". Báo Điện tử Chính phủ. ngày 24 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  74. Tổng cục Bưu điện (1998), tr. 28.
  75. Ban Tổ Chức Lễ Tang (ngày 26 tháng 5 năm 2023). "Đồng chí Đặng Văn Thân từ trần". Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
  76. Hà An (ngày 2 tháng 5 năm 2025). ""Cha đẻ" tổng đài 1080, Trang Vàng danh bạ, kể thời hoàng kim… chưa có Facebook, Zalo". Viettimes. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  77. Minh Nghĩa (ngày 8 tháng 11 năm 2002). "Bổ nhiệm bốn thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông". VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  78. Anh Quân (ngày 6 tháng 8 năm 2013). "VNPT bất ngờ bổ nhiệm Tổng giám đốc mới". VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  79. Trường Sơn (ngày 7 tháng 8 năm 2013). "Thay Tổng giám đốc VNPT". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  80. 1 2 Vũ Phương Nhi (ngày 6 tháng 8 năm 2021). "Ông Phạm Đức Long giữ chức Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông". Báo Điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  81. Phạm Tuyên (ngày 22 tháng 9 năm 2005). "Ông Vũ Văn Luân thôi giữ chức Chủ tịch HĐQT VNPT". Tiền phong. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  82. 1 2 3 Bích Diệp (ngày 4 tháng 3 năm 2015). "Ông Phạm Long Trận nghỉ hưu, TGĐ VNPT tạm giữ ghế Chủ tịch". Dân trí. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  83. Nguyên Phương (ngày 14 tháng 8 năm 2019). "Ai sẽ thay ông Trần Mạnh Hùng ngồi "ghế nóng" VNPT?". Dân Việt. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  84. Phạm Lê (ngày 16 tháng 6 năm 2020). "Tân Chủ tịch Hội đồng thành viên VNPT Phạm Đức Long: Dấu ấn của người truyền lửa!". Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  85. "Ông Tô Dũng Thái được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên VNPT". Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. ngày 8 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.

Nguồn Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

  • Tổng cục Bưu điện (2002). Đặng Văn Thân (chỉ đạo biên soạn); Vũ Tuyến (chủ biên); Nguyễn Đoàn; và đồng nghiệp (biên tập). Lịch sử Bưu điện Việt Nam: Tập 1 - sơ thảo. Chỉ đạo biên soạn tái bản bởi Mai Liêm Trực; Đỗ Trung Tá; Đặng Đình Lâm; Hoàng Duy Cẩn (ấn bản thứ 2). Hà Nội: Nhà xuất bản Bưu điện. OCLC 892872540.
  • Tổng cục Bưu điện (1998). Lưu Trường Thắng; và đồng nghiệp (biên tập). Lịch sử Bưu điện Việt Nam: Tập 2 - sơ thảo. Chỉ đạo biên soạn bởi Đỗ Trung Tá; Mai Liêm Trực; Đặng Đình Lâm; Hoàng Duy Cẩn (ấn bản thứ 1). Hà Nội: Nhà xuất bản Bưu điện. OCLC 892872540.
  • Bộ Bưu chính Viễn thông (2003). Lưu Trường Thắng; và đồng nghiệp (biên tập). Lịch sử Bưu điện Việt Nam: Tập 3 - sơ thảo. Chỉ đạo biên soạn bởi Đỗ Trung Tá; Mai Liêm Trực; Đặng Đình Lâm; Hoàng Duy Cẩn (ấn bản thứ 1). Hà Nội: Nhà xuất bản Bưu điện. OCLC 892872540.
  • Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (tháng 7 năm 2010). Doãn Hùng (chủ biên); Nguyễn Ngọc Hà (đồng chủ biên); và đồng nghiệp (biên tập). Bưu điện Việt Nam: 10 năm 2000-2010 hội nhập và phát triển. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông. OCLC 706458836.

Liên kết ngoài Thành viên:NhacNy2412/nháp/Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Trang chủ tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT

Bưu chínhThể loại:Viễn thông Việt NamThể loại:Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam