Bước tới nội dung

Thành Nà Lữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thành Nà Lữ nay nằm trên địa phận tổ dân phố Nà Lữ, phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng.[1]

Sơ đồ Thành Bản Phủ và Thành Nà Lữ

Lịch sử Thành Nà Lữ

Thành Nà Lữ do Cao Biền đắp bằng đất vào năm 864 đời Đường, niên hiệu Hàm Phong thứ 7, thuộc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba. Năm 1039 thời hậu Lý - Lý Thái Tông - niên hiệu Thông Thụy thứ 6, thành là thủ phủ của quốc gia “tự trị” Trường Sinh với người đứng đầu là Nùng Tồn Phúc. Năm 1527 Mạc Đăng Dung phế truất triều Lê, lập nên vương triều Mạc. Xung đột Nam triều-Bắc triều (Lê-Mạc) từ đó diễn ra suốt nửa thế kỷ. Năm 1592 nhà Mạc thua trận ở Thăng Long chạy lên Cao Bằng đóng đô ở thành Nà Lữ, trải được ba đời: Mạc Kính Cung (1594-1625); Mạc Kính Khoan (1625-1638); và Mạc Kính Vũ (1638-1677). Ngoài việc cho đóng gạch xây thành, đắp lũy còn tổ chức các kỳ thi, các nghi lễ cung đình, lập các đội quản nhạc...

Tháng 8 năm 1677 Mạc Kính Vũ bị nhà Lê (Lê Huy Tông) đánh bại phải rút chạy khỏi thành Nà Lữ. Năm 1682 quan trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Hải đã tâu xin vua Lê tu sửa thành và đổi cung điện thành đền thờ vua Lê Thái Tổ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thành Nà Lữ là địa điểm hoạt động bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam.[2]

Cấu trúc Thành Nà Lữ

Thành trước đây được làm bằng đất, đến thời Mạc chạy lên thì được sửa chữa, tu bổ thêm bằng đá. Thành được xây theo hình tứ trụ, tổng diện tích 21.060m2. Vật liệu là gạch vồ, chân thành được kê bởi các tảng đá to và phẳng, cổng thành làm bằng loại gỗ nghiến to, dày, rất kiên cố.

Thành có bốn cửa: cửa Đông thông ra sông Bằng, cửa Tây thông ra cánh đồng Nà Thính, cửa Nam thông ra cánh đồng Nà Lữ, phía bắc giáp với Khau Phước thông ra hệ thống chiến lũy núi Khắc Thiệu.

Sau khi quân Lê - Trịnh đuổi quân Mạc chạy sang Trung Quốc, Cao Bằng trở thành một trấn của nhà Lê, trấn thủ thành Nà Lữ là Lê văn Hải đã sửa chữa thành và xây đền vua Lê Thái Tổ tại đây.

Bên trong thành đắp 4 gò đất nổi lên được đặt tên là: Gò Long, Gò Ly, Gò Quy, Gò Phượng. Gò Long được đặt làm gò chính, dân địa phương gọi là Gò Rồng, cung điện xây đặt ở gò này. Còn các gò khác là nơi các đại thần, quân cơ đóng.

Ở giữa thành có ao sen, các thửa ruộng hình bàn cờ. Nhìn quang cảnh vùng Nà Lữ từ ngọn núi Bế Khắc Thiệu xuống trông như một họa đồ rất đẹp có thế của hình chữ vương vững chãi. Xưa Trạng Trình đã đến xem xét thế đất này.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử nên cơ bản thành đã bị phá huỷ không còn xác định được mặt cắt của thành cũ, bốn cổng đã bị lấp đất toàn bộ chỉ còn lại một đoạn thành đất ở phía Đông. Và trên nền thành cổ còn sót lại cái góc cuối cùng của ngôi đền thờ vua Lê cùng vết tích nền thành, lò vôi, vườn đạn đá, gạch vồ, nền cung điện xưa.[3]

Văn học Thành Nà Lữ

Theo cuốn sử “Cao Bằng thực lục”, tác giả Bế Hữu Cung, dân tộc Tày, quê làng Bắc Khê, châu Thạch Lâm, làm quan triều Lê giữ chức Ngự sử Đốc trấn Cao Bằng. Sách viết năm 1810, trang 32 có viết:

Xem thêm Thành Nà Lữ

Thành Bản Phủ

Nhà Mạc

Tham khảo Thành Nà Lữ

  1. "Xung quanh thành Nà Lữ".
  2. "Thành Nà Lữ".
  3. "Thành Nà Lữ - đền vua Lê".