Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý Đại trưởng công chúa (chữ Hán: 秦國魯國賢穆明懿大長公主, 7 tháng 7, 1049 - 2 tháng 12, 1142) là một công chúa nhà Tống, con gái Tống Nhân Tông Triệu Trinh.
Tiểu sử Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý đại trưởng công chúa
Công chúa sinh vào ngày Mậu Ngọ, tháng 5 năm Gia Hữu thứ 4 (1059)[1], là con gái thứ 10 của Tống Nhân Tông Triệu Trinh nhưng ngoài Phúc Khang công chúa thì toàn bộ đều chết yểu nên có thể xếp bà vào vị trí thứ hai. Sinh mẫu của bà là Chiêu Thục quý phi Chu thị, một sủng phi của Nhân Tông xuất thân thị nữ của Ôn Thành hoàng hậu, sau khi sinh bà được phong làm Uyển dung (婉容). Bà có một em gái cùng mẹ, là Yên quốc Thư quốc Thái trưởng công chúa (燕國舒国大长公主), hai người là những đứa con sống thọ nhất của Nhân Tông.
Tranh vẽ Tiền Cảnh Trăn
Năm Gia Hữu thứ 5 (1060), phong Khánh Thọ công chúa (慶壽公主). Năm Gia Hữu thứ 8 (1063), Nhân Tông băng hà, Anh Tông kế vị, Khánh Thọ công chúa tiến phong Huệ Quốc Trưởng công chúa (惠國長公主). Sau khi cháu bà là Tống Thần Tông đăng cơ, năm Trị Bình thứ 4 (1067), phong Hứa Quốc Đại Trưởng công chúa (許國大長公主). Không rõ lý do vì sao mà đến năm Hy Ninh thứ 9 (1076) thì công chúa mới thành hôn, có khả năng là bà từng kết hôn từ trước đó nên mới tái giá. Phò mã là Tiền Cảnh Trăn (錢景臻, 1043 - 1126), là chắt của Ngô Việt quốc vương Tiền Thục, con trai Bảo Văn các Học sĩ Tiền Huyên (钱暄). Về sau, công chúa lần lượt cải phong Hàn Quốc Đại Trưởng công chúa (韓國大長公主), Châu Quốc Đại Trưởng công chúa (周國大長公主) rồi Yến Quốc Đại Trưởng công chúa (燕國大長公主).
Sau khi Tống Huy Tông lên ngôi năm 1100, với tư cách là hoàng cô của Tân đế, công chúa lại tiến phong Tần Ngụy Quốc Đại Trưởng công chúa (秦魏國大長公主). Đến năm Chính Hòa thứ 3 (1113), Huy Tông đổi danh hiệu Công chúa thành Đế Cơ, do đó bà được đổi phong thành Lệnh Đức Cảnh Hạnh Đại Trưởng Đế Cơ (令德景行大長帝姬).
Trong sự biến Tĩnh Khang, hầu hết nữ quyến hậu cung cũng như các hoàng nữ đều bị quân Kim giải lên phương bắc. Vì Đại Trưởng Đế cơ khi này tuổi đã cao, lại là công chúa của nhiều triều trước nên quân Kim không hề biết đến sự tồn tại của bà. Nhờ đó, bà may mắn cùng gia quyến sống sót ngay tại Biện Kinh, trở thành một trong số rất ít hoàng tộc không bị bắt đi trong nạn Tĩnh Khang. Sau khi Bắc Tống sụp đổ, hoàng tử của Tống Huy Tông là Khang vương Triệu Cấu lên ngôi lập ra nhà Nam Tống, tức Tống Cao Tông. Đại Trưởng Đế cơ cùng gia quyến hoàng thất chạy xuống phía nam, năm Kiến Viêm thứ nhất (1127) được Cao Tông khôi phục vị hiệu, lại tiến phong Tần Lỗ Quốc Đại Trưởng Công chúa (秦魯國大長公主).
Sau khi hoàng thất di dời về phía nam, công chúa đã nhiều lần thay đổi nơi ở, cuối cùng vào năm Thiệu Hưng thứ 3 (1133), bà định cư tại Thai Châu (nay là thành phố Thai Châu, tỉnh Chiết Giang). Lúc đó, toàn bộ hoàng nữ tính đến thời Tống Cao Tông chỉ còn lại mình bà và con gái Triết Tông là Tần Quốc Khang Ý Trưởng Công chúa (秦国康懿长公主) còn sống, Cao Tông coi bà là bậc trưởng bối tôn kính của triều trước nên đối đãi vô cùng lễ độ, mỗi khi gặp mặt Công chúa đều phải thi lễ trước. Bà từng ngỏ lại đề đạt với Cao Tông về việc khôi phục chức quan của con trai là Tiền Châm (錢忱), Cao Tông tuy hứa hẹn nhưng về sau cũng không làm vậy nữa. Sau này, công chúa lại yêu cầu Cao Tông gia phong cho Tiền Châm nhưng Cao Tông không đồng ý. Cao Tông cảm thán rằng công chúa tuy có ba con trai nhưng chỉ sủng ái con đẻ là Tiền Châm, nên đã khuyên bà rằng: "Đại Trưởng Công chúa có thể trường thọ như vậy thực sự là nhờ phúc đức tích lại của Nhân Tông, mong Đại Trưởng Công chúa hãy học theo Nhân Tông, đối đãi với các con không nên thiên vị."[2] Công chúa đã đồng thuận.
Tần Lỗ Quốc Đại Trưởng Công chúa tạ thế vào ngày Nhâm Dần, tháng 11 năm Thiệu Hưng thứ 12 (1142), hưởng thọ 84 tuổi, là người con cuối cùng qua đời của Tống Nhân Tông[3]. Cao Tông đã đích thân đến tư dinh của Công chúa để tế lễ, đồng thời hạ chiếu thăng một cấp quan cho con cháu bà, định thụy hiệu là Hiền Mục (賢穆), sau gia thêm thụy là Minh Ý (明懿). Tước hiệu đầy đủ của bà là Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý Đại Trưởng công chúa (秦國魯國賢穆明懿大長公主).
Thông tin cá nhân Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý đại trưởng công chúa
Em gái cùng mẹ: Yên quốc Thư quốc Thái trưởng công chúa (燕國舒国大长公主,? - 1112), mẹ là Chiêu Thục quý phi Chu thị. Hạ giá lấy Quách Hiến Khanh (郭獻卿), về sau truy phong thành Ý Mục đại trưởng đế cơ (懿穆大長帝姬).
Chồng: Tiền Cảnh Trăn (錢景臻, 1043 - 1126), nhậm Phò mã Đô úy, Hữu Lãnh quân vệ Đại tướng quân, Thiếu sư, tước Khang quốc công (康國公), sau thăng Đức Dương quận vương (德陽郡王).
Con cái:
Con trai:
Chân dung Tiền Châm, con trai công chúaTiền Châm (錢忱, 1083 - 1161), nhậm Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Thiếu bảo, Lộ Xuyên quân Tiết độ sứ, sung Trung Thái Nhất cung sứ, tước Vinh quốc công (榮國公), là đại thần bốn vị Hoàng đế nhà Tống. Vợ là Doanh Quốc Phu nhân Đường thị (瀛國夫人唐氏), có chị gái là mẹ của Lục Du[4].
Tiền Đoan Lễ (錢端禮, 1109 - 1177), nhậm Thai Châu Thông phán, Tri Lâm An phủ, Hộ bộ Thị lang, Xu mật Đô thừa chỉ, Tri Ninh quốc phủ.
Tiền thị, gả cho trưởng tử của Tống Hiếu Tông là Trang Văn Thái tử Triệu Thực (赵愭). Sơ phong Quảng Quốc phu nhân (廣國夫人), sau thăng Thái tử phi.
Tiền Ngạc (錢愕), bị phản tặc sát hại trên đường di chuyển xuống phía nam.
Con gái:
Trưởng nữ, phong Nghi Xuân Quận chúa (宜春郡主), gả cho Thị cấm Lư Sung (盧珫)[5].
Nhị nữ, phong Tín Đô Quận chúa (信都郡主), lấy Lý Thừa Huy (李承徽). Huy là con trai duy nhất của Phúc Khang công chúa với phò mã Lý Vĩ (李瑋).
Tam nữ, phong Đồng An Quận chúa (同安郡主).
Tứ nữ, phong Tề An Quận chúa (齊安郡主).
Ngũ nữ, phong Kiến An Quận chúa (建安郡主).
Lục nữ, phong Vân An Quận chúa (建安郡主).
Chú thích Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý đại trưởng công chúa