Bước tới nội dung

Tôn Ái Liêng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tôn Ái Liêng
Chủ tịch Ủy ban Nội viện Nội quy Thượng nghị viện Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
1972–1973
Thượng nghị sĩ Thượng nghị viện Việt Nam Cộng hòa pháp nhiệm II
Nhiệm kỳ
30 tháng 8 năm 1970  30 tháng 4 năm 1975
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmChức vụ bãi bỏ
Thông tin cá nhân
Sinh(1928-03-17)17 tháng 3, 1928
Châu Đốc, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương
Quốc tịch Việt Nam Cộng hòa
Phối ngẫuQuách Thị Hoa
Con cáiTôn Marijidah
Tôn Karijidah
Tôn Thị Ánh Nga
Tôn Thị Hồng Sa
Tôn Amil
Tôn Việt Sô
Tôn Quy Định
Tôn Huy Liêm
Tôn Nagar Champa
MẹLa Thị Amyna
ChaTôn Aly
Nghề nghiệpChính khách, nhà hoạt động công đoàn
Tôn giáoHồi giáo

Tôn Ái Liêng (23 tháng 7 năm 1921 – ?), bút hiệu Pô Biala-Yousos, là nhà hoạt động công đoàn và chính khách Việt Nam Cộng hòa gốc Chàm,[a] đồng thời là cựu Nghị sĩ Thượng nghị viện vào giai đoạn cuối thời Đệ Nhị Cộng hòa. Ông nổi bật với vai trò lãnh đạo phong trào chính trị cộng đồng người Chàm địa phương và thuộc phe đối lập với chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tiểu sử

Thân thế và học vấn

Tôn Ái Liêng sinh ngày 23 tháng 7 năm 1921 tại sóc Lama, tỉnh Châu Đốc,[b] Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương.[1] Thân mẫu là ông Tôn Aly, chủ bất động sản và thân phụ là bà La Thị Amyna.[2]:138 Ông tốt nghiệp Trường Trung học Bassac tại Cần Thơ vào năm 1937.[2]:138

Sự nghiệp chính trị

Từ năm 1959, Tôn Ái Liêng là Đại biểu đại diện cho công nhân gốc Chàm thuộc Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam.[1] Ông từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Công nhân Sắc tộc Chàm và là Đại diện Trung ương Sắc tộc Chàm,[2]:138 được xem là cầu nối quan trọng giữa cộng đồng người Chàm với chính quyền trung ương tại Sài Gòn. Bên cạnh đó, ông còn gia nhập Liên minh Dân tộc Cách mạng Xã hội.[1]

Trong giai đoạn từ năm 1963 đến năm 1968, ông đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức (FULRO).[1] Ông từng có thời gian tự lưu vong tại Campuchia từ năm 1964 trước khi quyết định trở về Sài Gòn gia nhập hàng ngũ quốc gia vào tháng 4 năm 1968.[1] Đầu năm 1969, Tôn Ái Liêng dẫn đầu phái đoàn người Việt gốc Chàm yết kiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập để trình bày các nguyện vọng của cộng đồng, bao gồm việc xin xây dựng một thánh đường Hồi giáo tại Sài Gòn và chính thức thành lập Giáo hội Hồi giáo tại Việt Nam. Đồng thời khẳng định lập trường ủng hộ chính phủ Việt Nam Cộng hòa và quyết tâm cùng cộng đồng người Chàm chống lại chủ nghĩa cộng sản.[3] Năm 1970, ông sang Malaysia giao lưu về vấn đề tôn giáo như dùng tiếng Chàm để thảo luận với người Mã Lai trong cuộc thi đọc kinh Hồi giáo tại Stadium Negara.[4]

Ngày 3 tháng 9 năm 1967, ông tham gia tranh cử chức Nghị sĩ Thượng nghị viện pháp nhiệm I (1967–1973) trong kỳ bầu cử đầu tiên nhưng đã thất cử với số phiếu thấp. Sau đó, ông đắc cử chức Nghị sĩ pháp nhiệm II (1970–1976)[c] trong cuộc bầu cử bán phần năm 1970[d] khi đứng chung trong Liên danh Hoa Sen của Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu.[5][2]:18 Sự có mặt của ông trong liên danh này không chỉ thu hút lá phiếu của cử tri sắc tộc mà còn đại diện cho khối cử tri lao động tạo nên một sức mạnh tổng lực cho nhóm của Vũ Văn Mẫu.

Ngoài ra, ông còn nhận lời tham gia liên danh đối lập[e] mang tên Dân tộc Hòa bình do tướng Trần Văn Đôn lãnh đạo nhưng khi liên danh sắp sửa đăng ký ứng cử thì phát hiện Dân biểu Lý Quí Chung có vấn đề về điều kiện tuổi[f] nên liên danh dự kiến không thành.[6] Tại Thượng nghị viện, ông là Ủy viên Ủy ban Nội viện Nội quy[g] hai nhiệm kỳ IV (1970–1971)[2]:37và V (1971–1972),[2]:43 dưới sự chủ tọa của Nghị sĩ Lê Văn Thông và Nguyễn Thôn Độ. Ít lâu sau, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Nội viện Nội quy[7] nhiệm kỳ VI (1972–1973).[8]

Sau năm 1975

Sau khi Sài Gòn thất thủ, Tôn Ái Liêng bị kẹt lại trong nước nên phải đi học tập cải tạo trong thời gian ngắn. Đến khi được trả tự do thì ông mới cùng gia đình lén vượt biên qua Thái Lan vào năm 1980.[9] Kể từ đó đến nay không rõ ông sinh sống ở đâu và mất vào lúc nào nữa.

Gia đình

Tôn Ái Liêng là tín đồ Hồi giáo.[1] Ông kết hôn với bà Quách Thị Hoa và có tới chín người con (4 trai, 5 gái).[2]

Vinh danh

  • Lao Động Bội Tinh Đệ Nhất Hạng[2]
  • Tên tuổi của ông chính thức được ghi vào lịch sử danh nhân Việt Nam năm 1969.[2]

Chú thích

  1. Danh xưng chính thức của dân tộc Chăm ở miền Nam trước năm 1975.
  2. Nay thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, Việt Nam.
  3. Theo quy chế hiến pháp, ông sẽ giữ ghế nghị sĩ pháp nhiệm II cho đến năm 1976. Tuy nhiên, do Sài Gòn thất thủ vào cuối tháng 4 năm 1975 mà nhiệm kỳ này đã chấm dứt sớm khi chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ.
  4. Thượng nghị viện áp dụng cơ chế bầu cử bán phần: Nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm, riêng nhóm đắc cử với số phiếu thấp hơn trong kỳ bầu cử đầu tiên (1967) chỉ giữ nhiệm kỳ 3 năm để làm mồi cho chu kỳ bầu lại một nửa số ghế mỗi 3 năm.
  5. Liên danh này gồm có mười người ra ứng cử được chia làm hai thành phần, một do tướng Đôn đứng đầu với năm ứng cử viên là cựu nghị sĩ (tướng Trần Văn Đôn, tướng Tôn Thất Đính, bà Nguyễn Phước Đại, tướng Nguyễn Văn Chuân, ông Tôn Ái Liêng), và một gồm năm dân biểu đang tại chức (Lý Quí Chung, Nguyễn Hữu Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Thạch Phen).
  6. Vì Lý Quí Chung thiếu một ngày tuổi nên cuối cùng đành phải rút tên do Luật bầu cử Thượng nghị viện qui định muốn ra ứng cử phải đủ 30 tuổi tròn tính đến ngày bầu cử.
  7. Ủy ban Nội viện Nội quy là cơ quan chuyên trách việc thiết lập quy tắc vận hành, duy trì kỷ luật và quản trị các vấn đề hành chính nội bộ của Thượng nghị viện.

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 5 6 Who's who in Vietnam. Vietnam Press Agency. 1969. tr. tal0269.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 "Niên-Giám Thượng-Nghị-Viện Việt-Nam Cộng-Hòa, Pháp-Nhiệm Hai Nhiệm-Kỳ IV Và V". Thượng nghị viện Việt Nam Cộng hòa. 1972. tr. 18, 37, 43, 138 và 139.
  3. "Vietnam Bulletin". Quyển 3 số 19 và 20. Embassy of Vietnam. 1969. tr. 11–12. {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp)
  4. Vũ Kim Toàn (1971). Mã-Lai-Á và vấn-đề trung-lập-hóa Đông-Nam-Á. Khởi Hành. tr. 14.
  5. Huỳnh Bá Thành (2002). Ký sự nhân vật. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ. tr. 345.
  6. Lý Quí Chung (2004). Hồi ký không tên. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ. tr. 208.
  7. Muhammed Ja'fer (1973). The Minaret. Quyển 12. WFIM. tr. 14.
  8. "Vietnam Bulletin". Quyển 7 số 19 và 20. Embassy of Vietnam. 1972. tr. 8. {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp)
  9. Lưu Đình Vong (1988). Đường xương trắng. tr. 186 và 242.