Bước tới nội dung

Tâm lý nô dịch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Người cai đồn điền da đen đang hành hạ tra tấn một nô lệ da đen trước mặt chủ nô da trắng
Tranh vẽ về nhũng người nô lệ

Tâm lý nô dịch hay còn gọi là Tâm lý thuộc địa (Colonial mentality) là một thái độ nội tâm cố hữu luôn mặc cảm, tự ti, tự nhục về sắc tộc hoặc văn hóa khi luôn cảm thấy văn hóa, bản sắc và con người của dân tộc mình luôn thấp kém, lạc hậu, thiếu văn minh (niềm tin về sự thua kém), trong khi đó, lại đi coi trọng văn hóa, giá trị và lối sống của kẻ cai trị, thực dân, người da trắng là thượng đẳng, văn minh, hiện đại, nhân văn. Tâm lý này sinh ra từ kết quả của quá trình thực dân hóa, tức là việc họ bị một nhóm khác đô hộ.[1] Tâm lý nô dịch luôn hiện hữu niềm tin rằng các giá trị văn hóa của kẻ thực dân vốn dĩ ưu việt và vượt trội hơn văn hóa của chính đồng bào nòi giống mình.[2] Tư duy nô dịch và tự ti dân tộc là cảm giác cho rằng văn hóa, giá trị và con người của kẻ đô hộ (phương Tây) mặc nhiên ưu việt hơn văn hóa bản địa. Những người mắc chứng này thường cảm thấy xấu hổ, nhục nhã về nguồn gốc của mình (Self-stigma). Thuật ngữ này đã được các học giả hậu thuộc địa sử dụng để thảo luận về những ảnh hưởng liên thế hệ của chủ nghĩa thực dân hiện diện tại các cựu thuộc địa sau quá trình phi thực dân hóa.[3][4]

Tâm lý thuộc địa thường được sử dụng như một khái niệm vận hành để đóng khung sự thống trị về tư tưởng trong các trải nghiệm thực dân mang tính lịch sử.[5][6] Trong tâm lý học, tâm lý nô dịch được sử dụng để giải thích các trường hợp trầm cảm tập thể, lo âu và các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến khác trong tâm thức các quần thể dân cư từng trải qua quá trình thuộc địa hóa.[7][8] Về mặt chính trị, sự phẫn nộ đối với những kẻ cai trị ngoại bang và những ký ức hoài niệm về vinh quang quốc gia trong quá khứ có thể đi kèm với những ý niệm như "ách Norman" (Norman yoke) tại Anh,[9] "ách Mông Cổ" tại Nga,[10] hoặc chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ của Ý hay Indonesia.[11] Những ảnh hưởng đáng chú ý của Chủ nghĩa Marx đối với khái niệm tâm lý nô dịch trong bối cảnh hậu thuộc địa bao gồm các tác phẩm của Frantz Fanon về sự rạn nứt của tâm thức thuộc địa thông qua sự thống trị văn hóa phương Tây,[12] khái niệm Bá quyền văn hóa được phát triển từ những nhân vật lỗi lạc của Đảng Cộng sản Ý là Antonio Gramsci,[13] và thuật ngữ "Gharbzadegi" (Ngộ độc phương Tây) do trí thức thế tục người Iran Jalal Al-e-Ahmad đặt ra để mô tả sự mê muội và phụ thuộc vào phương Tây dẫn đến tổn hại các mối quan hệ truyền thống, lịch sử và văn hóa với Hồi giáo và thế giới Hồi giáo.[14]

Chủ nghĩa Marx Tâm lý nô dịch Tâm lý nô dịch

Các bài viết theo khuynh hướng chủ nghĩa Marx của Frantz Fanon về chủ nghĩa đế quốc, phân biệt chủng tộc và các cuộc đấu tranh phi thực dân hóa đã ảnh hưởng đến các cuộc thảo luận hậu thuộc địa về việc nội tâm hóa định kiến thực dân. Fanon lần đầu tiên giải quyết vấn đề mà ông gọi là "sự tha hóa thuộc địa của con người"[15] như một vấn đề sức khỏe tâm thần thông qua phân tích tâm thần.[16] Trong tác phẩm The Wretched of the Earth (tiếng Pháp: Les Damnés de la Terre, tựa Việt: Những kẻ khốn khổ của Trái Đất), xuất bản năm 1961, Fanon đã sử dụng tâm thần học để phân tích cách mà thực dân Pháp và sự tàn khốc của Chiến tranh Algeria đã ảnh hưởng đến tâm lý về bản sắc dân tộc và sức khỏe tâm thần của người Algeria.[17] Cuốn sách lập luận rằng trong thời kỳ thuộc địa, có một bệnh lý tâm thần tinh vi và liên tục phát triển bên trong tâm thức thuộc địa.[18] Fanon lập luận rằng tâm thức thuộc địa bị rạn nứt bởi sự thiếu đồng nhất về tinh thần và vật chất, là kết quả của việc văn hóa phương Tây của cường quốc thực dân bị áp đặt lên dân chúng bị đô hộ bất chấp những khác biệt vật chất hiện hữu giữa họ.[19]

Tại đây, Fanon mở rộng những hiểu biết truyền thống của chủ nghĩa Marx về chủ nghĩa duy vật lịch sử để khám phá cách mà sự bất hòa giữa tồn tại vật chất và văn hóa hoạt động nhằm biến đổi những người bị đô hộ theo khuôn mẫu của giai cấp tư sản phương Tây.[20] Điều này có nghĩa là người bản địa Algeria dần nhìn nhận văn hóa truyền thống và bản sắc của chính mình qua lăng kính định kiến của thực dân. Fanon quan sát thấy rằng những người Algeria bình thường đã nội tâm hóa và sau đó công khai lặp lại những nhận xét phù hợp với nền văn hóa phân biệt chủng tộc được thể chế hóa của thực dân Pháp; bác bỏ văn hóa của chính họ là lạc hậu do sự nội tâm hóa các hệ tư tưởng thực dân phương Tây.[21] Theo Fanon, điều này dẫn đến một cuộc xung đột hiện sinh gây bất ổn trong nền văn hóa bị trị: "Ở phương Tây, vòng tròn gia đình, tác động của giáo dục, và mức sống tương đối cao của giai cấp công nhân cung cấp một sự bảo vệ ít nhiều hiệu quả chống lại hành động có hại của những trò tiêu khiển này. Nhưng ở một nước châu Phi, nơi sự phát triển tinh thần không đồng đều, nơi sự va chạm dữ dội của hai thế giới đã làm lung lay đáng kể những truyền thống cũ và làm lệch lạc vũ trụ tri giác, sự nhạy cảm và dễ bị ấn tượng của người châu Phi trẻ phó mặc cho những cuộc tấn công khác nhau được thực hiện bởi chính Bản chất của Văn hóa phương Tây".[22]

Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria, đời sống người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp

Một cống hiến đặc sắc, lớn lao của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) là những tác phẩm nhằm thức tỉnh nô lệ, thông qua việc đấu tranh vạch trần trạng thái nô lệ về tinh thần, với tác phẩm đầu tiên là một truyện ngụ ngôn có tên Động vật học in trên báo Le Paria số 2, ngày 1 tháng 5 năm 1922 mang đậm tính trào phúng với chủ đề chính của tác phẩm là thức tỉnh ý thức nô lệ. Cùng chủ đề với truyện này là bài báo "Mấy suy nghĩ về vấn đề thuộc địa" đăng trên báo Nhân đạo (L'Humanité) ngày 25 tháng 5 năm 1922 đã chỉ rõ “tình trạng dốt nát của ngưới dân bản xứ” và tâm lý nô lệ thảm hại “giống như con chó trong truyện ngụ ngôn, họ lại thích đeo cái vòng cổ để kiếm xương của chủ”. Nằm trong mạch chủ đề này, trong tác phẩm "Bộ sưu tập động vật" đăng trên báo Le Paria ngày 1 tháng 2 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã mỉa mai sự chấp nhận nô lệ là kiếp loài vật, kiếp “con chim sẻ”,“con vẹt”, “con chó”, ông cũng chỉ ra thủ phạm chính là chủ nghĩa thực dân thuộc địa khi viết rằng “lại cũng phải nhận rằng các nhà đi khai hóa của chúng ta đã không từ một sự cố gắng nào để cắm cho mấy con chim sẻ bản xứ-rất dễ bảo và rất ngoan ngoãn-vài cái lông công làm cho chúng trở thành những con vẹt hay những con chó giữ nhà”.[23]

Ấn Độ thuộc địa Tâm lý nô dịch Tâm lý nô dịch

Trong thời kỳ cai trị thực dân của châu Âu tại Ấn Độ, người châu Âu ở Ấn Độ thường coi thường những khía cạnh của văn hóa Ấn Độ và ủng hộ sự cai trị thực dân như một "sứ mệnh khai hóa".[24] Sự cai trị thực dân ở Ấn Độ được "đóng khung" như là một sự mang lại lợi ích cho người dân Ấn Độ, thay vì là một quá trình thống trị chính trị và kinh tế của một nhóm nhỏ người nước ngoài.[25] Dưới sự cai trị thực dân, nhiều hủ tục đã bị cấm, chẳng hạn như tập tục buộc góa phụ phải tự thiêu (được gọi là sati),[26] với các hành vi bị coi là thờ ngẫu tượng bị các nhà truyền giáo Tin Lành ngăn cấm.[27] Những diễn biến này được hiểu là kết quả của các quan điểm thực dân không khuyến khích các khía cạnh của tôn giáo Ấn Độ khác biệt đáng kể so với Kitô giáo.[28]

Đường hướng của Đảng Bharatiya Janata bị cho là mang nặng tâm lý nô dịch

Chủ nghĩa dân tộc Hindu phát triển vào thế kỷ XIX như một sự phản đối sự thống trị về hệ tư tưởng của châu Âu, tuy nhiên, giới tinh hoa địa phương Ấn Độ thường nhắm đến việc làm cho bản thân và xã hội Ấn Độ trở nên hiện đại bằng cách "bắt chước Tây dương".[29] Điều này dẫn đến sự xuất hiện của cái mà một số người gọi là 'tân Ấn Độ giáo' (neo-Hinduism).[30] Đảng Bharatiya Janata (BJP), đảng cầm quyền hiện tại của Ấn Độ, đi theo truyền thống của chủ nghĩa dân tộc Hindu (Hindutva), và thúc đẩy một bản sắc quốc gia Ấn Độ thấm nhuần Tân Vedanta, điều mà một số người cho rằng đã bị ảnh hưởng từ "tâm lý nô dịch".[31][32]

Một số nhà phê bình cho rằng việc nhà văn Rudyard Kipling đặc tả các nhân vật Ấn Độ trong các tác phẩm của mình ủng hộ quan điểm rằng những người dân bản xứ bị thuộc địa không có khả năng sống còn mà không có sự giúp đỡ của người châu Âu (vị cứu tinh da trắng), cho rằng những miêu tả này là phân biệt chủng tộc.[33] Trong bài thơ nổi tiếng "Bổn phận người Da trắng" (The White Man's Burden), Kipling lập luận trực tiếp cho quan điểm này bằng cách lãng mạn hóa "sứ mệnh khai hóa" ở các quốc gia phi phương Tây.[34][35] Jaway Syed chỉ ra rằng các bài thơ của Kipling thần tượng hóa văn hóa phương Tây là hoàn toàn lý tính và văn minh, trong khi coi các nền văn hóa phi da trắng là "con nít" và "ma quỷ".[36] Sự miêu tả của ông về người Ấn Độ trong các câu chuyện "Chuyện rừng xanh" cũng bị Jane Hotchkiss chỉ trích là minh chứng về sự trẻ hóa mang tính sô vanh đối với các dân tộc thuộc địa trong văn hóa đại chúng.[37] Một số nhà sử học cho rằng các tác phẩm của Kipling đã góp phần vào sự phát triển của tâm lý nô dịch theo cách mà những người bị thuộc địa trong các câu chuyện hư cấu này trở nên phục tùng và phụ thuộc vào những người chủ cai trị da trắng.[38][39]

Mỹ Latinh Tâm lý nô dịch Tâm lý nô dịch

Người Mestizo và các tổ hợp chủng tộc hỗn hợp khác được phân loại thành các casta khác nhau theo ý muốn của các quan chức phó vương. Hệ thống này được áp dụng cho các lãnh thổ Tây Ban Nha ở Châu Mỹ và Philippines, nơi một lượng lớn các cá nhân chủng tộc hỗn hợp chiếm đa số ngày càng tăng trong dân số phó vương quốc (cho đến ngày nay).[40][41] Các phân loại chủng tộc này trừng phạt những người có di sản người da đen châu Phi hoặc Afro-Latin, những người gốc Âu được ban đặc quyền da trắng so với các hỗn hợp chủng tộc này. Kết quả của hệ thống này là những người gốc Phi đã cố gắng hạ thấp di sản bản địa và các đặc điểm văn hóa của họ, để bề ngoài trông giống người Tây Ban Nha hoặc người bản địa hơn.[42][43] Với những định kiến đã được nội tâm hóa này, các lựa chọn của cá nhân về quần áo, nghề nghiệp và các hình thức biểu đạt tôn giáo cũng bị ảnh hưởng.[44] Tâm lý này dẫn đến sự giả mạo chủng tộc phổ biến ở Mỹ Latinh, thường đi kèm với các lời kể nhằm hợp thức hóa về một tổ tiên người Tây Ban Nha và một họ Tây Ban Nha. Hầu hết những người lai da trắng và người da trắng ở Mỹ Latinh có họ Tây Ban Nha thừa hưởng từ tổ tiên Tây Ban Nha, trong khi hầu hết những người Mỹ Latinh khác có tên và họ Tây Ban Nha có được chúng thông qua quá trình Cơ Đốc hóa và Tây Ban Nha hóa các cộng đồng nô lệ bản địa và châu Phi dưới tay các tu sĩ Tây Ban Nha.[45][46][47]

Philippines Tâm lý nô dịch Tâm lý nô dịch

Trước khi người Tây Ban Nha đến (1565–1898) thì Quần đảo Sulu (nằm ở miền nam Philippines) là thuộc địa của Đế chế Majapahit (1293–1527) đóng thủ phủ tại Indonesia. Người Mỹ là quốc gia cuối cùng thuộc địa hóa Philippines (1898–1946) và những người theo chủ nghĩa dân tộc tuyên bố rằng nước này tiếp tục hoạt động như một thuộc địa kiểu mới của Hoa Kỳ bất chấp sự độc lập chính thức vào năm 1946.[48][49] Tại Philippines, tâm lý nô dịch thể hiện rõ nhất trong sự ưu ái dành cho người Mestizo Philippines (chủ yếu là những người lai giữa người Philippines bản địa và người da trắng, nhưng cũng có cả người lai giữa người Philippines bản địa và người Hoa, và các nhóm dân tộc khác) trong ngành giải trí và truyền thông đại chúng, nơi họ nhận được sự xuất hiện rộng rãi mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ dân số.[50][51][52] Một sự ưa chuộng văn hóa đối với những người có làn da tương đối sáng tồn tại ở Philippines. Theo Kevin Nadal và David Okazaki, sự ưa chuộng da sáng có thể có nguồn gốc tiền thuộc địa. Tuy nhiên, họ cũng cho rằng sự ưa chuộng này đã được củng cố từ ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân.[53][54] Bất kể nguồn gốc của sự ưa chuộng này, việc sử dụng các sản phẩm tẩy trắng da vẫn phổ biến ở cả nam và nữ Philippines, tuy nhiên cũng có sự gia tăng nhất định đối với việc chấp nhận thẩm mỹ da sẫm màu hơn ở phụ nữ tại Philippines.[55]

Chú thích Tâm lý nô dịch Tâm lý nô dịch

  1. Nunning, Vera. (06/01/2015). Fictions of Empire and the (un-making of imperialist mentalities: Colonial discourse and post-colonial criticism revisited. Forum for world literature studies. (7)2. p.171-198.
  2. David, E. J. R.; Okazaki, Sumie (ngày 1 tháng 4 năm 2010). "Activation and Automaticity of Colonial Mentality". Journal of Applied Social Psychology (bằng tiếng Anh). 40 (4): 850. doi:10.1111/j.1559-1816.2010.00601.x. ISSN 1559-1816.
  3. David, E. J. R. (2010). "Testing the validity of the colonial mentality implicit association test and the interactive effects of covert and overt colonial mentality on Filipino American mental health". Asian American Journal of Psychology (bằng tiếng Anh). 1 (1): 31–45. doi:10.1037/a0018820.
  4. Anderson, Warwick; Jenson, Deborah; Keller, Richard Charles) (2011). Unconscious dominions : psychoanalysis, colonial trauma, and global sovereignties. Durham, NC: Duke University Press. ISBN 9780822393986. OCLC 757835774.
  5. Goss, Andrew (2009). "Decent colonialism? Pure science and colonial ideology in the Netherlands East Indies, 1910–1929". Journal of Southeast Asian Studies. 40 (1): 187–214. doi:10.1017/s002246340900006x. ISSN 1474-0680. S2CID 143041214.
  6. Felipe, Lou Collette S. (2016). "The relationship of colonial mentality with Filipina American experiences with racism and sexism". Asian American Journal of Psychology (bằng tiếng Anh). 7 (1): 25–30. doi:10.1037/aap0000033.
  7. Paranjpe, Anand C. (ngày 11 tháng 8 năm 2016). "Indigenous Psychology in the Post- Colonial Context: An Historical Perspective". Psychology and Developing Societies (bằng tiếng Anh). 14 (1): 27–43. doi:10.1177/097133360201400103. S2CID 145154030.
  8. Utsey, Shawn O.; Abrams, Jasmine A.; Opare-Henaku, Annabella; Bolden, Mark A.; Williams, Otis (ngày 21 tháng 5 năm 2014). "Assessing the Psychological Consequences of Internalized Colonialism on the Psychological Well-Being of Young Adults in Ghana". Journal of Black Psychology (bằng tiếng Anh). 41 (3): 195–220. doi:10.1177/0095798414537935. S2CID 146178551.
  9. Missouri Historical Society (1997). Ronda, James P. (biên tập). Thomas Jefferson and the Changing West: From Conquest to Conservation. University of New Mexico Press. tr. xv. ISBN 9780826317759. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025. Jefferson instinctively understood what political theorist Franz Fanon much later called the "colonial mentality": the tendency of colonized peoples to accept the vocabulary and world view of the oppressor. [...] An essential part of the story Jefferson told was the tale of the Norman Yoke. In Jefferson's version of English history, invading Normans put the yoke of oppression on the necks of freedom-loving Anglo-Saxons.
  10. Włodkowska, Agata (ngày 5 tháng 7 năm 2022). "The Strategic Culture of Russia. Why is the Dialogue so Challenging?". Trong Legucka, Agnieszka; Kupiecki, Robert (biên tập). Disinformation, Narratives and Memory Politics in Russia and Belarus. Routledge Contemporary Russia and Eastern Europe Series. Abingdon: Taylor & Francis. tr. https://books.google.com/books?id=C31zEAAAQBAJ&pg=PT103. ISBN 9781000608489. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025. The Tatar-Mongol yoke had a foundational impact on the development of Russia's strategic culture. It lasted over two centuries and resulted from the weak standing of the Rus after the fragmentation of the state began in 1054. These traumatic experiences motivated the next Russian leaders to focus their efforts on building a strong military and centralised state.
  11. Compare:Kalliney, Peter J. (ngày 10 tháng 12 năm 2024) [2022]. "A Brief Intellectual History of the Aesthetic Cold War". The Aesthetic Cold War: Decolonization and Global Literature. Princeton, New Jersey: Princeton University Press. tr. 44. ISBN 9780691230658. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025. Lingering racial inferiority, on one side, and narrow ethno-nationalism and irredentism , on the other, each put significant pressure on intellectuals in decolonizing situations [...] they embrace [...] their situation [...] as [...] products of a colonial mentality.
  12. Rabaka, Reiland (2010). Forms of Fanonism : Frantz Fanon's critical theory and the dialectics of decolonization. Lanham, Md.: Lexington Books. ISBN 9780739140338. OCLC 461323889.
  13. Srivastava, Neelam Francesca Rashmi; Bhattacharya, Baidik (2012). The postcolonial Gramsci. New York: Routledge. ISBN 9780415874816. OCLC 749115630.
  14. https://www.cambridge.org/core/books/transnationalism-in-iranian-political-thought/gharbzadegi-westoxification/A12A8180EA5052FC8A47512F7A9FAEC0
  15. Fanon, Frantz (2008). Black Skin, White Masks. London, United Kingdom: Pluto Press. tr. xxiii. ISBN 978-0-7453-2849-2.
  16. Robertson, Michael; Walter, Garry (2009). "Frantz Fanon and the confluence of psychiatry, politics, ethics and culture". Acta Neuropsychiatrica. 21 (6): 308–309. doi:10.1111/j.1601-5215.2009.00428.x. ISSN 0924-2708. S2CID 143798499.
  17. Bell, Vikki (ngày 4 tháng 1 năm 2011). "Introduction: Fanon's The Wretched of the Earth 50 Years On". Theory, Culture & Society (bằng tiếng Anh). 27 (7–8): 7–14. doi:10.1177/0263276410383721. S2CID 143492378.
  18. Fanon, Frantz (1961). The Wretched of the Earth. Sartre, Jean-Paul, 1905-1980, Farrington, Constance. New York: Grove Press, Inc. tr. 250. ISBN 978-0802150837. OCLC 1316464.
  19. Fanon, Frantz (1961). The Wretched of the Earth. Sartre, Jean-Paul, 1905-1980, Farrington, Constance. New York: Grove Press, Inc. tr. 194. ISBN 978-0802150837. OCLC 1316464.
  20. Fanon, Frantz (1961). The Wretched of the Earth. Sartre, Jean-Paul, 1905-1980, Farrington, Constance. New York: Grove Press, Inc. tr. 162. ISBN 978-0802150837. OCLC 1316464.
  21. Fanon, Frantz (1961). The Wretched of the Earth. Sartre, Jean-Paul, 1905-1980, Farrington, Constance. New York: Grove Press, Inc. tr. 161. ISBN 978-0802150837. OCLC 1316464.
  22. Fanon, Frantz (1961). The Wretched of the Earth. Sartre, Jean-Paul, 1905-1980, Farrington, Constance. New York: Grove Press, Inc. tr. 194–195. ISBN 978-0802150837. OCLC 1316464.
  23. Vạch trần trạng thái nô lệ về tinh thần – Một đóng góp của Nguyễn Ái Quốc vào kho tàng lý luận giải phóng con người! (Báo Văn nghệ Quân đội)
  24. Falser, Michael (2015). Cultural Heritage as Civilizing Mission. Transcultural Research – Heidelberg Studies on Asia and Europe in a Global Context (bằng tiếng Anh). Cham: Springer. tr. 8–9. doi:10.1007/978-3-319-13638-7. ISBN 978-3-319-13637-0.
  25. Fischer–Tiné, Harald (ngày 26 tháng 7 năm 2016). "Britain's other civilising mission". The Indian Economic & Social History Review (bằng tiếng Anh). 42 (3): 295–338. doi:10.1177/001946460504200302. S2CID 148689880.
  26. Mukta, Parita (1999). "The 'Civilizing Mission': The Regulation and Control of Mourning in Colonial India". Feminist Review. 63 (1): 25–47. doi:10.1080/014177899339045. S2CID 162234935.
  27. Ganguly, Swagato (ngày 2 tháng 1 năm 2017). "Idolatry: concept and metaphor in colonial representations of India". South Asian History and Culture. 8 (1): 19–91. doi:10.1080/19472498.2016.1260353. ISSN 1947-2498. S2CID 152124939.
  28. Yelle, Robert A. (ngày 1 tháng 4 năm 2005). "Christians and Missionaries in India: Cross-Cultural Communication since 1500. Edited by Eric Frykenberg (Grand Rapids, Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 2003) 419 pp. $39.00". The Journal of Interdisciplinary History. 35 (4): 681–682. doi:10.1162/002219505323383059. ISSN 0022-1953. S2CID 142257044.
  29. Jaffrelot, Christophe. (2007). Hindu Nationalism : A Reader. Princeton, N.J.: Princeton University Press. tr. 6–7. ISBN 9780691130972. OCLC 368365428.
  30. Battaglia, Gino (ngày 3 tháng 10 năm 2017). "Neo-Hindu Fundamentalism Challenging the Secular and Pluralistic Indian State". Religions (bằng tiếng Anh). 8 (10): 216. doi:10.3390/rel8100216.
  31. Harriss, John (ngày 2 tháng 10 năm 2015). "Hindu Nationalism in Action: The Bharatiya Janata Party and Indian Politics". South Asia: Journal of South Asian Studies. 38 (4): 712–718. doi:10.1080/00856401.2015.1089826. ISSN 0085-6401. S2CID 147615034.
  32. Singh, Jan (2015). "India's Right Turn". World Policy Journal. 32 (2): 93–103. doi:10.1177/0740277515591547.
  33. "Kipling comes under review". BBC News. ngày 10 tháng 9 năm 1999. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  34. Brantlinger, Patrick (2007). "Kipling's "The White Man's Burden" and Its Afterlives". English Literature in Transition, 1880-1920. 50 (2): 172–191. doi:10.1353/elt.2007.0017. ISSN 1559-2715. S2CID 162945098.
  35. Brantlinger, Patrick (2005). "The Complexity of Kipling's Imperialist Politics". English Literature in Transition, 1880-1920. 48 (1): 88.
  36. Syed, Jawad; Ali, Faiza (ngày 1 tháng 3 năm 2011). "The White Woman's Burden: from colonial civilisation to Third World development". Third World Quarterly. 32 (2): 349–365. doi:10.1080/01436597.2011.560473. ISSN 0143-6597. S2CID 145012248.
  37. Hotchkiss, Jane (2001). "The Jungle of Eden: Kipling, Wolf Boys, and the Colonial Imagination". Victorian Literature and Culture. 29 (2): 435–449. doi:10.1017/s1060150301002108. ISSN 1470-1553. S2CID 162409338.
  38. Lee, Jonathan Rey (ngày 1 tháng 11 năm 2012). "When Lions Talk: Wittgenstein, Kipling, and the Language of Colonialism1". Literature Compass (bằng tiếng Anh). 9 (11): 884–893. doi:10.1111/j.1741-4113.2012.00916.x. ISSN 1741-4113.
  39. Low, Gail Ching-Liang (1996). White skins/Black masks : representation and colonialism. London: Routledge. tr. 1–10. ISBN 978-0203359600. OCLC 54666707.
  40. Olson, Christa (ngày 16 tháng 10 năm 2009). "Casta Painting and the Rhetorical Body". Rhetoric Society Quarterly. 39 (4): 307–330. doi:10.1080/02773940902991429. ISSN 0277-3945. S2CID 144818986.
  41. Lentz, Mark (ngày 1 tháng 2 năm 2017). "Castas, Creoles, and the Rise of a Maya Lingua Franca in Eighteenth-Century Yucatan". Hispanic American Historical Review. 97 (1): 29–61. doi:10.1215/00182168-3727376. ISSN 0018-2168.
  42. Ramos-Kittrell, Jesús A. (2016). Playing in the cathedral : music, race, and status in New Spain. New York, NY. ISBN 978-0190236830. OCLC 957615716.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  43. Loewe, Ronald (2011). Maya or mestizo?: nationalism, modernity, and its discontents. Toronto: University of Toronto Press. tr. 1–5. ISBN 9781442601420. OCLC 466659990.
  44. Dueñas, Alcira (2010). Indians and mestizos in the "lettered city" : reshaping justice, social hierarchy, and political culture in colonial Peru. Boulder, Colo.: University Press of Colorado. ISBN 9781607320197. OCLC 664565692.
  45. Quinonez, Ernesto (ngày 19 tháng 6 năm 2003). "Y Tu Black Mama Tambien". Newsweek. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2008.
  46. "Documentary, Studies Renew Debate About Skin Color's Impact". Pittsburgh Post Gazette. ngày 26 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010.
  47. "Is Light Skin Still Preferable to Dark?". Chicago Tribune. ngày 26 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010.
  48. Gómez Rivera 2000
  49. García 2009
  50. "Americanchronicle.com". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2006.
  51. "Is the 'racist' BAYO advert real?". 6 June 2012. GMA News Online. ngày 6 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2013.
  52. "The semantics of 'mestizo'". 27 July 2012. GMA News. ngày 27 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2013.
  53. Nadal, Kevin L. (2021). Filipino American psychology : a handbook of theory, research, and clinical practice (bằng tiếng Anh) . Hoboken: Wiley. tr. 96–97. ISBN 9781119677000.
  54. Tewari, Nita; Alvarez, Alvin (2009). Asian American Psychology: Current Perspectives (bằng tiếng Anh). Taylor & Francis. tr. 159. ISBN 978-1-84169-769-7.
  55. Zapata, Karina. "Why some Filipinos lighten their skin". CBC News.

Tham khảo Tâm lý nô dịch Tâm lý nô dịch

  • García, José Miguel (ngày 30 tháng 6 năm 2009), "The North American Invasion Continues", Patria Philippines, at the Recovery of Our Inherited Archipelago, San Francisco, California, United States of America: Blogger by Google, Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010
  • Gómez Rivera, Guillermo (ngày 20 tháng 9 năm 2000), The Filipino State, Spain: Buscoenlaces, CHAPTER VI 1900s: The Filipino People was Deprived of its Own State, Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010