Synoicus ypsilophorus
| Synoicus ypsilophorus | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Aves |
| Bộ: | Galliformes |
| Họ: | Phasianidae |
| Chi: | Synoicus |
| Loài: | S. ypsilophorus |
| Danh pháp hai phần | |
| Synoicus ypsilophorus (Bosc, 1792) | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Synoicus ypsilophorus là một loài chim cút thuộc họ Phasianidae, phân bố ở Australasia. Chúng là một loài chim nhỏ, sống trên mặt đất và từ lục địa Úc, Tasmania và Papua New Guinea, và đồng thời đã được du nhập vào New Zealand và Fiji. Nhờ quần thể đông và phổ biến trên phạm vi phân bố rộng lớn, S. ypsilophorus được xếp vào nhóm "loài ít quan tâm" bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế trên sách đỏ IUCN.
Phân loại
Mặc dù trước đó được xếp vào chi Coturnix, phân tích phát sinh chủng loài đã phát hiện ra rằng nó tạo thành một nhóm đơn ngành với một số loài chim cút khác, tất cả đều được xếp vào chi Synoicus. Dù được cho rằng là loài chị em với Anurophasis monorthonyx, lúc trước được xếp trong chi Anurophasis.[3][4][5]
Các phân loài sau đây được công nhận:[6]
- S. y. raaltenii (Müller, S, 1842) - khu vực trung tâm và phía đông quần đảo Sunda Nhỏ, quần đảo Tanimbar
- S. y. pallidior Hartert, EJO, 1897 - đảo Sumba và Savu
- S. y. saturatior Hartert, EJO, 1897 - vùng đồng bằng phía bắc New Guinea
- S. y. dogwa Mayr & Rand, 1935 - vùng đồng bằng phía nam trung tâm New Guinea (vùng Trans-Fly)
- S. y. plumbeus Salvadori, 1895 - vùng đồng bằng thuộc bán đảo Huon và phía đông nam New Guinea
- S. y. monticola Mayr & Rand, 1935 - vùng núi cao phía đông nam New Guinea
- S. y. mafulu Mayr & Rand, 1935 - vùng núi trung bình phía đông và đông nam New Guinea
- S. y. australis (Latham, 1801) - lục địa Úc
- S. y. ypsilophorus (Bosc, 1792) - đảo Tasmania
Mô tả
S. ypsilophorus là loài chim mập mạp, chắc nịch, có thể có chiều dài cơ thể từ 17 đến 22 xentimét (6+1⁄2 đến 8+1⁄2 in) và cân nặng từ 75 đến 140 gam (2+3⁄4 đến 5 oz). Màu sắc khá đa dạng tùy theo phạm vi phân bố rộng lớn của chúng. Chim đực có màu nâu đỏ lốm đốm đen trên đầu và phần trên cổ, chủ yếu là màu nâu đỏ ở lưng và cánh. Lông mặt bụng có tông màu từ hung vàng đến nâu, luôn kèm theo các vạch vằn đen mảnh hình chữ V. Loài này có đuôi ngắn, màu nâu sẫm với các vạch màu vàng. Chim cái có ngoại hình tương tự nhưng có màu nhạt hơn đôi chút. Có những đốm đen nhỏ trên vai của chim cái và phần trên cơ thể có các vạch hình chữ V có màu tối.[7]
Tiếng kêu của loài này bao gồm nhiều tiếng kêu chói tai giúp chúng giao tiếp với nhau khi di chuyển qua các bụi rậm.[8] Một trong số đó là tiếng huýt kép, với âm tiết sau cao dần lên.[9][10]
Phân bố và môi trường sống

S. ypsilophorus phân bố ở các khu vực nông nghiệp, đồng cỏ ẩm ướt, vùng cây bụi, xavan cỏ spinifex (Triodia) và các vùng đất ngập nước ngọt trên khắp phần lớn New Guinea và quần đảo Sunda Nhỏ cũng như ở phía bắc, phía động, phía đông-nam, tây nam Úc và Tasmania, dù không hiện diện ở các vùng khô hạn. Loài này từng được du nhập vào Fiji và New Zealand. Ở Úc chúng chủ yếu là loài sống ở vùng đất thấp nhưng tại New Zealand chúng được tìm thấy từ độ cao lên đến 1.000 mét (3.300 ft) và tại New Guinea là đến 3.700 mét (12.000 ft).[7] Loài này được đưa vào New Zealand trong những năm 1860 và 1870 và hiện nay có ở đảo bắc và một số đảo ngoài khơi. Việc du nhập này, đồng thời với các lần du nhập chim cút khác không thành công, có thể đã góp phần vào sự tuyệt chủng của loài Coturnix novaezelandiae (chim cút New Zealand), một loài đặc hữu đã tuyệt chủng ngay sau đó, nguyên nhân có khả năng là do chúng không có khả năng kháng lại một số mầm bệnh mới.[8]
Sinh học
S. ypsilophorus là một loài chim sống trên mặt đất có tập tính thích ẩn nấp hay chạy hơn là bay. Chúng được tìm thấy trong các nhóm nhỏ và ăn cỏ, hạt, chồi cây và loài động vật không xương sống nhỏ. Nếu bị giật mình và phải bay lên, đàn chim sẽ tản ra theo nhiều hướng khác nhau, sau đó tập hợp lại khi nguy hiểm đã qua.[7]
Loài này tạo thành các cặp sinh sản vào mùa xuân. Mùa sinh sản kéo dài, mỗi lứa đẻ từ nửa tá trứng trở lên, được làm trong tổ nông, lót bằng cỏ trên mặt đất, thường được che giấu trong bụi cỏ hay bụi rậm. Trứng được chim cái ấp trong ba tuần.[7]
Trạng thái
S. ypsilophorus có phạm vi phân bố rất rộng và phổ biến ở phần lớn phạm vi đó. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã xếp chúng vào nhóm "loài ít quan tâm". Dù quần thể chưa được xác định và có thể đang bị suy giảm nhẹ, nhưng tốc độ suy giảm dường như không đủ để xếp loài này vào nhóm loài bị đe dọa hơn.[1]
Ngôn ngữ thổ dân và văn hóa
Người Kunwinjku ở vùng phía tây Arnhem Land gọi loài chim này là djirndih, djiribbidj hay merhmerh (gọi chung cho các loài chim cút).[11][9][10]
Chú thích
- 1 2 BirdLife International (2016). "Synoicus ypsilophorus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016 e.T22678965A92796647. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T22678965A92796647.en. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2021.
- ↑ Bosc, Louis (1792). "Coturnix ypsilophorus". Journal d'Histoire Naturelle. 2 (20): 297–298, Pl. 39.
- ↑ "Taxonomic Updates – IOC World Bird List" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Seabrook-Davison, Mark; Huynen, Leon; Lambert, David M.; Brunton, Dianne H. (ngày 28 tháng 7 năm 2009). "Ancient DNA Resolves Identity and Phylogeny of New Zealand's Extinct and Living Quail (Coturnix sp.)". PLOS ONE (bằng tiếng Anh). 4 (7) e6400. Bibcode:2009PLoSO...4.6400S. doi:10.1371/journal.pone.0006400. PMC 2712072. PMID 19636374.
- ↑ Hosner, Peter A.; Tobias, Joseph A.; Braun, Edward L.; Kimball, Rebecca T. (ngày 17 tháng 5 năm 2017). "How do seemingly non-vagile clades accomplish trans-marine dispersal? Trait and dispersal evolution in the landfowl (Aves: Galliformes)". Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences. 284 (1854) 20170210. doi:10.1098/rspb.2017.0210. PMC 5443944. PMID 28469029.
- ↑ "Pheasants, partridges, francolins – IOC World Bird List". www.worldbirdnames.org. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023.
- 1 2 3 4 "Brown quail (Coturnix ypsilophora)". Arkive. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2015.
- 1 2 Seabrook-Davison, M.N.H. (2013). "Brown quail". New Zealand Birds Online. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2015.
- 1 2 Goodfellow, D.L.; Stott, M. (2001). Birds of Australia's Top End, 1st Ed. Darwin: Scrubfowl Press. ISBN 0-9578849-0-7.
- 1 2 Goodfellow, D.L.; Stott, M. (2005). Birds of Australia's Top End, 2nd Ed. Sydney: Reed New Holland. ISBN 1-877069-19-1.
- ↑ Garde, Murray. "djirndih". Bininj Kunwok Online Dictionary. Bininj Kunwok Regional Language Centre. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2021.
Xem thêm
- Marchant, S.; Higgins, P.J., biên tập (1993). Handbook of Australian, New Zealand and Antarctic Birds, Volume 2: Raptors to Lapwings. Melbourne: Oxford University Press. ISBN 0-19-553069-1.