Bước tới nội dung

Rhynchostegium

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Rhynchostegium
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
Ngành (divisio)Bryophyta
Lớp (class)Bryopsida
Bộ (ordo)Hypnales
Họ (familia)Brachytheciaceae
Chi (genus)Rhynchostegium
Bruch, Schimp. 1852.

Rhynchostegium là một chi rêu trong họ Brachytheciaceae.[1][2] Chi này có sự phân bố rộng khắp các vùng khí hậu khác nhau ngoại trừ vùng cực, chủ yếu ở các vùng nhiệt đới đến ôn đới phía bắc.[2][3]Chi này bao gồm cả các loài sống dưới nước và trên cạn.[3][4]Chi này được đặt tên theo nắp đậy hình mỏ chim của chúng.[3] Loài điển hình của chi này là Rhynchostegium confertum (Dicks.) Schimp.[3]

Chi này được Bruch và Wilhelm Philippe Schimper mô tả lần đầu tiên vào năm 1852.[3][2]

Miệng của Rhynchostegium confertum

Môi trường sống Rhynchostegium

Các loài sống trên cạn của Rhynchostegium sống ở những môi trường ẩm ướt đến ngập nước hoặc râm mát, trên đá, đất, gốc cây, thân cây và khúc gỗ.[3][5][6]

Các loài sống dưới nước sống gần hoặc trong nước chảy, bao gồm suối, mạch nước ngầm, sông, lòng thác nước và vách đá rỉ nước.[4][7]

Hình thái học Rhynchostegium

Thể giao tử

Lá của Rhynchostegium murale
Hình ảnh cận cảnh túi bào tử của Rhynchostegium murale. Có thể thấy nắp hình mỏ chim

Rhynchostegium là chi rêu nhỏ đến lớn, tạo thành búi lỏng lẻo hoặc thảm rộng trên chất nền, với sự phân nhánh không đều hoặc đều đặn.[3][4]Cây non thường có màu xanh đậm hoặc xanh nhạt; cây già có thể chuyển sang màu trắng, nâu hoặc xanh nhạt hơn.[3][4]Thân bò lan và thiếu lớp màng trong suốt, với giả lá nhọn đến nhọn.[4]Lá thân mọc thẳng đứng hoặc thẳng.[3][4]Lá cành có hình thái tương tự như lá thân nhưng nhỏ hơn và đôi khi hẹp hơn.[4] Lá thường được sắp xếp thẳng hàng hoặc đồng nhất; đôi khi có thể thấy sự sắp xếp chồng lên nhau, phẳng hoặc phẳng, đặc biệt là ở lá cành.[3]Gốc lá, kéo dài xuống hoặc không, thay đổi từ hình bầu dục đến hình bầu dục-tim, đôi khi hình mũi giáo, và sự thu hẹp từ từ đến đột ngột, hướng về đỉnh nhọn ngắn hoặc dài, nơi đôi khi có một đầu nhọn dài phân hóa hoặc apiculus.[3]Lá có một gân chính thường kết thúc trơn tru ở 35-75% chiều dài lá, và thường ở lá cành thì có một gai ở mặt dưới.[3]Bề mặt lá thay đổi từ phẳng đến hơi lõm và không gấp nếp dọc mạnh, với ít đến một số lỗ và tế bào phiến tuyến tính.[3][4]Mép lá có răng cưa đến răng cưa.[3][4]Lông nách gồm 3-7 tế bào,[4] với 1-3 tế bào phía trên.[3] Các tế bào cánh hơi to, và hoặc không phân hóa hoặc hình vuông đến hình chữ nhật dài.[3][4]

Thể bào tử

Rhynchostegium là tự sinh.[4]Được bao phủ bởi một calyptra trần là một nắp hình mỏ đến mỏ dài gắn liền với một nang màu nâu đỏ đến nâu, hình trụ thuôn dài, hơi cong, nghiêng hoặc nằm ngang trên một cuống màu nâu đỏ, nhẵn có lá quanh nang co lại đột ngột ở gốc, với đầu nhọn thẳng đến cong ngược.[3][4]Một vòng ngăn cách nắp.[4] Vòng quanh miệng là khô và hoàn chỉnh, trong đó các lỗ ngoài màu đỏ đến đỏ cam có các thanh ngang và các đường ngang giảm ở gốc răng; trong trường hợp hiếm hoi, các lỗ ngoài hẹp và màu vàng.[3][4]Các lỗ trong rộng hoặc hẹp và lông mao phát triển thành thoái hóa được nâng đỡ bởi một màng đáy thấp hoặc cao.[3] Đường kính bào tử nằm trong khoảng từ 9-16 μm.[4]

Sinh hóa Rhynchostegium

Hiện tượng cảm nhiễm qua lại (Allelopathy)

Hiện tượng cảm nhiễm qua lại đã được nghiên cứu trên Rhynchostegium pallidifolium, loài thường tạo thành quần thể thuần chủng trong môi trường sống tự nhiên của chúng.[8][9] Chiết xuất methanol của R.pallidifolium ức chế sự phát triển của cây Lepidium sativum, cỏ linh lăng, Lolium multiflorum, Phleum pratenseDigitaria sanguinalis theo cách phụ thuộc vào nồng độ.[8] Sự kết hợp giữa phân tích ESI-MS và 1H NMR đã xác định chất hóa học ức chế là 3-hydroxy-β-ionone.[8]Nghiên cứu sâu hơn cho thấy nồng độ 3-hydroxy-β-ionone tối thiểu là 1 μM để ức chế sự phát triển của thân mầm cải xoong và 3 μM để ức chế sự phát triển của rễ cải xoong, trong khi nồng độ nội sinh.[9]Sự hiện diện của 3-hydroxy-β-ionone trong chất nền tự nhiên và môi trường nuôi cấy cho thấy sự tiết ra môi trường, điều này có thể ngụ ý vai trò quan trọng của 3-hydroxy-β-ionone trong việc cạnh tranh với các cây khác và hình thành các khuẩn lạc thuần chủng.[9]

Kháng khuẩn

Rhynchostegium riparioides

Chiết xuất acetone của Rhynchostegium riparioides cho thấy hoạt tính kháng sinh trên một số vi khuẩn Gram âm, bao gồm Escherichia coli, Proteus mirabilis, Entero-bacter cloacae và Pseudomonas aeruginosa.[10]

Chiết xuất ethanol của Rhynchostegium vagans cho thấy tác dụng tương tự trên một số vi khuẩn Gram âm và nấm, với hiệu quả vượt trội so với chloramphenicol và fluconazole.[11]

Loài Rhynchostegium

Chi này gồm các loài sau:[12][1]

Chú thích Rhynchostegium

  1. 1 2 The Plant List (2010). "Rhynchostegium". Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014.
  2. 1 2 3 "Rhynchostegium Schimp". www.gbif.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Hedenäs, Lars. RHYNCHOSTEGIUM (PDF).
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 "Rhynchostegium in Flora of North America @ efloras.org". www.efloras.org. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2025.
  5. Cezón, Katia; Muñoz, Jesús; Hedenäs, Lars; Huttunen, Sanna (ngày 1 tháng 3 năm 2010). "Rhynchostegium confusum, a new species from the Iberian Peninsula and its relation to R. confertum based on morphological and molecular data". Journal of Bryology. Quyển 32 số 1. tr. 1–8. doi:10.1179/037366810X12578498135832. ISSN 0373-6687.
  6. https://www.biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.453.3.3. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. Kelly, M. G.; Whitton, B. A. (1987). "Growth rate of the aquatic moss Rhynchostegium riparioidesin Northern England". Freshwater Biology (bằng tiếng Anh). Quyển 18 số 3. tr. 461–468. doi:10.1111/j.1365-2427.1987.tb01331.x. ISSN 1365-2427.
  8. 1 2 3 4 Kato-Noguchi, Hisashi; Seki, Takahiro; Shigemori, Hideyuki (ngày 15 tháng 4 năm 2010). "Allelopathy and allelopathic substance in the moss Rhynchostegium pallidifolium". Journal of Plant Physiology. Quyển 167 số 6. tr. 468–471. doi:10.1016/j.jplph.2009.10.018. ISSN 0176-1617. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":4" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  9. 1 2 3 Kato-Noguchi, Hisashi; Seki, Takahiro (ngày 1 tháng 6 năm 2010). "Allelopathy of the moss Rhynchostegium pallidifolium and 3-hydroxy-β-ionone". Plant Signaling & Behavior. Quyển 5 số 6. tr. 702–704. doi:10.4161/psb.5.6.11642. PMC 3001564. PMID 20400848.
  10. Basile, A.; Vuotto, M. L.; Ielpo, M. T. L.; Moscatiello, V.; Ricciardi, L.; Giordano, S.; Cobianchi, R. Castaldo (1998). "Antibacterial activity in Rhynchostegium riparioides (hedw.) card. extract (bryophyta)". Phytotherapy Research (bằng tiếng Anh). Quyển 12 số S1. tr. S146 – S148. doi:10.1002/(SICI)1099-1573(1998)12:1+<S146::AID-PTR278>3.0.CO;2-4. ISSN 1099-1573.
  11. Negi, Kavita; Chaturvedi, Preeti (ngày 1 tháng 1 năm 2016). "In vitro antimicrobial efficacy of Rhynchostegium vagans A. Jaeger (moss) against commonly occurring pathogenic microbes of Indian sub-tropics". Asian Pacific Journal of Tropical Disease. Quyển 6 số 1. tr. 10–14. doi:10.1016/S2222-1808(15)60977-X. ISSN 2222-1808.
  12. https://www.worldfloraonline.org/search?query=Rhynchostegium. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)

Liên kết ngoài Rhynchostegium