Quỳnh Phú
Quỳnh Phú | |
|---|---|
| Xã | |
| Hành chính | |
| Quốc gia | |
| Vùng | Bắc Trung Bộ |
| Tỉnh | Nghệ An |
| Địa lý | |
| Diện tích | 33,48 km² |
| Dân số (2025) | |
| Tổng cộng | 72.062 người |
Quỳnh Phú là một xã thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam.
Địa lý
Địa giới:
- Phía Đông giáp Biển Đông;
- Phía Nam giáp Biển Đông;
- Phía Tây giáp xã Quỳnh Lưu và xã Hải Châu;
- Phía Bắc giáp xã Quỳnh Anh.
Xã Quỳnh Phú có diện tích tự nhiên 33,48 km².[1] Dân số khoảng 72.062 người.
Xã Quỳnh Phú có địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển, một số ngọn núi đất ở 2 bên cửa sông Hàu .Có 2 cửa sông là Sông Hàu và sông Thai đổ ra biển. Nhờ vị trí tiếp giáp biển, đất đai có nhiều diện tích đất phù sa, lớp đất mặt tốt, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, trồng lúa, diêm nghiệp hoa màu và nuôi trồng thủy sản. Vì thuộc vùng ven biển, độ cao không lớn so với mực nước biển — địa hình tương đối thấp, bằng phẳng. (Do là vùng đồng bằng ven biển, không có đồi núi cao)
Lịch sử hình thành
Xã Quỳnh Phú là một phần của Huyện Quỳnh Lưu trước đây.
Thời nhà Nguyễn, khu vực này bao gồm các làng Phú Nghĩa , Thơi, Ngò, Ngọc Long, Thuận Hóa, Thọ Vực, vv thuộc tổng Phú Hậu, Hoàn Hậu huyện Quỳnh Lưu, Phủ Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An.
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, Năm Quý Sửu(1913) tức Duy Tân năm thứ 7 chia Phú Nghĩa thành 2 làng Phú Nghĩa Thượng và Phú Nghĩa Hạ.
Đổi tên làng Thơi thành làng Văn Thai, làng Ngò thành làng Văn Thanh.
Năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, các làng này thuộc tổng Hoàn Hậu huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An. Quỳnh Lưu trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh không còn là cấp dưới thuộc Diễn Châu nữa.
Sau năm 1945,Huyện Quỳnh Lưu được hình thành bao gồm 16 xã. Địa phận Quỳnh Phú khi đó gồm có các xã: Phú Nghĩa, Quỳnh Tân, Quỳnh Sơn, Văn Hải, Văn Thanh,một phần xã Quỳnh Chi thuộc Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An.
Sau cải cách ruộng đất 1956, các xã lớn được chia thành các xã có quy mô nhỏ hơn: chia xã Văn Thanh thành hai xã lấy tên là xã Quỳnh Hải ( Làng Thơi ) và xã Quỳnh Sơn ( Làng Ngò ) ; chia xã Quỳnh Chi thành 3 xã: Quỳnh An, Quỳnh Hoan và Quỳnh Ngọc ; chia xã Phú Nghĩa thành 3 xã lấy tên là xã Quỳnh Nghĩa (Phú Nghĩa Thượng) Quỳnh Phong và Quỳnh Tiến (Phú Nghĩa Hạ); chia xã Quỳnh Tân thành hai xã lấy tên là xã Quỳnh Long ( Ngọc Long ) và xã Quỳnh Thuận ( Thuận Hóa ); đổi tên xã Văn Hải thành xã Quỳnh Thọ ( Làng Thọ Vực );
Địa phận Quỳnh Phú bao gồm 10 xã của huyện Quỳnh Lưu cũ: Quỳnh An, Quỳnh Hải, Quỳnh Hoan, Quỳnh Long, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Sơn, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận, Quỳnh Phong, Quỳnh Tiến.
Ngày 24 tháng 3 năm 1969, hợp nhất xã Quỳnh Sơn và xã Quỳnh Hải thành một xã lấy tên là xã Sơn Hải; hợp nhất xã Quỳnh An và xã Quỳnh Hoan thành một xã lấy tên là xã An Hòa;
Địa phận Quỳnh Phú bao gồm 8 xã của huyện Quỳnh Lưu cũ: An Hòa, Sơn Hải, Quỳnh Long, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận, Quỳnh Phong, Quỳnh Tiến.
Tháng 2 năm 1976,hai xã Quỳnh Phong và Quỳnh Tiến được sáp nhập lại thành xã Tiến Thủy
Địa phận Quỳnh Phú bao gồm 7 xã của huyện Quỳnh Lưu là huyện thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh : An Hòa, Sơn Hải, Quỳnh Long, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận, Tiến Thủy.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Địa phận Quỳnh Phú gồm 7 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu trở lại thuộc tỉnh Nghệ An vừa tái lập.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết số 1243/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2023–2025 (nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 12 năm 2024):[2]
- Sáp nhập hai xã Quỳnh Thuận và Quỳnh Long thành xã Thuận Long.
- Sáp nhập hai xã Sơn Hải và Quỳnh Thọ thành xã Văn Hải.
- Sáp nhập hai xã Tiến Thủy và Quỳnh Nghĩa thành xã Phú Nghĩa.
Khu vực xã Quỳnh Phú bao gồm 4 xã của huyện Quỳnh Lưu cũ: Văn Hải, Thuận Long, Phú Nghĩa, An Hòa.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Nghị quyết số 1678/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã An Hòa, Phú Nghĩa, Thuận Long và Văn Hải thuộc huyện Quỳnh Lưu trước đây thành một xã mới có tên gọi là xã Quỳnh Phú.[3]
Di tích, Danh thắng
- Đền Thượng (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)
Đền Thượng nằm ở phía đông bắc xã Phú Nghĩa, được xây dựng vào thời hậu Lê thế kỷ thứ XVl, thờ thần Cao Sơn Cao Các.
- Đền Chính (di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh)
Đền Chính là ngôi đền linh thiêng tọa lạc trên một vùng đất có cảnh quan đẹp, được xây dựng từ thời Trần, nằm ở phía nam xã Phú Nghĩa, là một công trình kiến trúc cổ đã tồn tại hàng trăm.Đền thờ Tứ vị Thánh nương và phối thờ Hoàng Tá Thốn, Mỹ Quận công Trương đắc Phủ.
- Chùa Đế Thích
Chùa Đế Thích được xây dựng từ đời Trần, ban đầu gồm có hai tòa chính tẩm và thiêu hương, thờ Phật Thích ca, Ngọc Hoàng và Tam thế.Trong chùa có trống lễ, khánh đá, chuông đồng và thạch bi. Chùa có ruộng hương hỏa để phục vụ tế tự, do sãi chùa quản lí. Đặc biệt có Giếng nước trong mát và cây trôi cổ thụ cao 20m, tuổi thọ khoảng 600 năm ngay trước chùa làm tôn thêm cho cả vùng đền chùa linh thiêng, sầm uất và che mát cho dân làng buổi trưa hè lúc dừng chân. Chùa nằm ngay phía sau khuôn viên của đền Thượng, tạo thành một cụm di tích tâm linh cho người dân trong khu vực. Sau thời gian và chiến tranh tàn phá, chùa chỉ còn là phế tích.Đến nay, chùa đã được các cấp thẩm quyền tỉnh Nghệ An chấp nhận cho phục hồi lại.
- Núi Rồng
Núi Rồng nằm ở phía nam xã,kéo dài từ phía tây ra tận biển với mũi Đầu Rồng, nơi đây có nhiều cảnh đẹp như Hòn Ông, Hòn Bà, Hòn Nắp Ấm,Vũng Ao Tiên...
- Kênh nhà Lê
Kênh Nhà Lê nối từ kinh đô Hoa Lư đến Đèo Ngang đi qua xã Phú Nghĩa, là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và được coi là tuyến đường Hồ Chí Minh trên sông vì những đóng góp cho các cuộc chiến tranh của người Việt (hiện là một đoạn của sông Hàu theo tên gọi địa phương).
- Bãi tắm Quỳnh Nghĩa Kéo dài 2.5 km bắt đầu từ điểm tiếp giáp với bãi biển Quỳnh Minh kéo dọc đến chân núi Rồng, bãi biển ở đây thoãi, cát mịn và trong Du khách có thể kết hợp tắm biển cùng với thăm đền Thượng hoặc tổ chức khám phá và tổ chức cắm trại trên núi Rồng, cùng với các bãi biển Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương, tạo nên khu du lịch biển Quỳnh chạy dọc bãi Ngang dài hơn 10 km.

Danh nhân
- Mỹ Quận công Trương Đắc Phủ
Mỹ Quận công tên là Trương Đắc Phủ, sống vào thời Hậu Lê (thời Lê Trung hưng, hay còn gọi là thời vua Lê chúa Trịnh, quê ở làng Phú Nghĩa . Cụ Trương Đắc Phủ và hai người em trai là Trương Đắc Luyện, Trương Đắc Lương đều ra phò Lê diệt Mạc, có công lớn và đều được phong tước Quận công.Hiện nay còn đền thờ ông ở đền Chính, làng Phú Nghĩa, trong đền còn lưu lại sắc phong cụ làm Phó Quốc vương, niên hiệu Đức Long, đời Hậu Lê.Đoạn sông ngày xưa ông đóng quân dân gian gọi là sông Hầu theo tước vị của ông. Sau đọc chệch đi thành sông Hàu, làng Hàu, chợ Hàu vv.
- Nhà văn Bùi Hiển
Bùi Hiển (22 tháng 11 năm 1919 – 11 tháng 3 năm 2009) là nhà văn Việt Nam.Quê ở làng Phú Nghĩa, nay thuộc xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An.
Ông nổi tiếng với thể loại truyện ngắn với tác phẩm Nằm vạ (1941) khi mới 22 tuổi, đồng thời có không ít bút ký thu hút người đọc và hàng nghìn trang sách dịch. Nhà văn là hội viên sáng lập, tham gia ba khóa Ban chấp hành, từng làm ủy viên Thường vụ, Thường trực và chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam.
Tác phẩm của ông cũng được đưa vào sách giáo khoa với chuyện ngắn " Ngày công đầu tiên của cu tí" và " Chiều Sương " kể về chuyện đi biển của người dân làng Phú Nghĩa.
Năm 2022, ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật cho các tác phẩm: Trong gió cát, Hoa và thép, Tâm tưởng.
Ông được đặt tên đường ở một số thành phố như Đà Nẵng, Vinh.
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nay là xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An.
Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972.[1]
Nhà văn Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 do bệnh ung thư máu tại Hà Nội, hưởng dương 59 tuổi. Năm 2000, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Giống như nhà văn Bùi Hiển, tác phẩm của ông cũng được đưa vào sách giáo khoa với các trích đoạn trong các cuốn tiểu thuyết " Dấu chân người lính " và " Mảnh trăng cuối rừng " trong sách GK lớp 12.
Tên ông được đặt cho một số đường phố ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng vv.
- Nhạc sỹ Ánh Dương
Nhạc sĩ Ánh Dương tên khai sinh là Lê Văn Dương. Ông sinh ngày 26 tháng 7 năm 1935, quê ở xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông rất được biết đến với các bài hát cách mạng như Chào em cô gái Lam Hồng.[4] Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.
- Ngô Minh Loan, Bộ trưởng Bộ lương thực thực phẩm, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc.
Chú thích
- ↑ "Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tỉnh Nghệ An" (PDF).
- ↑ Nghị quyết số 1243/NQ-UBTVQH15 năm 2024 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2023–2025
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênnq1678 - ↑ "Nhạc sĩ Ánh Dương - tác giả ca khúc 'Chào em cô gái Lam Hồng' - qua đời ở tuổi 88". Báo Thanh Niên. ngày 9 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022.