Bước tới nội dung

Pseudanthias huchtii

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Pseudanthias huchtii
Cá đực
Cá cái
Phân loại khoa học edit
Giới:Animalia
Ngành:Chordata
Lớp:Actinopterygii
Bộ:Perciformes
Họ:Anthiadidae
Chi:Pseudanthias
Loài:
P. huchtii
Danh pháp hai phần
Pseudanthias huchtii
(Bleeker, 1857)
Các đồng nghĩa
  • Anthias huchtii Bleeker, 1857
  • Anthias mortoni Macleay, 1883

Pseudanthias huchtii là một loài cá biển thuộc chi Pseudanthias trong họ Anthiadidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1857.

Từ nguyên

Từ định danh huchtii được đặt theo tên của Willem van der Hucht (1812–1874), thương gia, chủ đồn điền chè và là cựu chiến binh, người sở hữu một bộ sưu tập cá từ quần đảo Maluku mà tác giả Bleeker được phép lấy bất kỳ mẫu vật nào mà ông nghĩ là mới đối với khoa học, trong đó có loài cá này.[2]

Phân bố và môi trường sống

P. huchtii có phân bố ở khu vực Tam giác San Hô, trải dài đến PalauVanuatu ở phía đông, phía nam đến rạn san hô Scottrạn san hô Great Barrier (Úc).[3]

P. huchtii sống thành từng nhóm nhỏ xung quanh các cụm san hô trên ám tiêu, độ sâu đến ít nhất là 35 m.[1]

Mô tả

Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở P. huchtii là 12 cm.[4]

Vây lưng có gai thứ 3 vươn cao, dài hơn đáng kể ở cá đực. Cá đực có màu xanh lục nhạt (phớt vàng do các chấm trên vảy), trắng hơn ở bụng với một vệt màu cam sẫm đặc trưng kéo dài từ mắt đến giữa vây ngực. Đầu có thể phớt hồng nhạt. Vây bụng có dải màu hạt dẻ ở rìa. Vây ngực có đốm nhỏ cũng màu hạt dẻ ở gần rìa ngoài. Vây đuôi lõm sâu, hình cánh nhạn, viền xanh óng ở hai thùy. Vây hậu môn và vây lưng có nhiều chấm vàng, đỏ hơn ở rìa, có viền xanh óng. Cá cái màu vàng, có sọc vàng sẫm hơn kéo dài từ mắt đến gốc vây ngực. Hai thùy đuôi cũng có dải màu vàng cam, không dài như cá đực.[5]

Gai vây lưng: 10; Tia vây lưng: 17; Gai vây hậu môn: 3; Tia vây hậu môn: 7; Gai vây bụng: 1; Tia vây bụng: 5; Tia vây ngực: 17–18; Vảy đường bên: 36–40.[5]

Sinh thái học

Thức ăn của P. huchtiiđộng vật phù du. Chúng sống thành từng nhóm hậu cung, cá đực có tính lãnh thổ.[4]

Sử dụng

P. huchtii được đánh bắt trong ngành kinh doanh cá cảnh.[1]

Tham khảo

  1. 1 2 3 Williams, J. T.; Lawrence, A. & Myers, R. (2016). "Pseudanthias huchtii". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016: e.T69590993A69592562. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T69590993A69592562.en. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2022.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. Christopher Scharpf (2026). "Order Perciformes (part 4)". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
  3. R. Fricke; W. N. Eschmeyer; R. van der Laan, biên tập (2025). "Pseudanthias huchtii". Catalog of Fishes. Viện Hàn lâm Khoa học California. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
  4. 1 2 Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Pseudanthias huchtii trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2025.
  5. 1 2 Randall, John E.; Allen, Gerald Robert; Steene, Roger C. (1998). Fishes of the Great Barrier Reef and Coral Sea. Đại học Hawaii. tr. 93. ISBN 978-0-8248-1895-1.