Pseudanthias fasciatus
| Pseudanthias fasciatus | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Actinopterygii |
| Bộ: | Perciformes |
| Họ: | Anthiadidae |
| Chi: | Pseudanthias |
| Loài: | P. fasciatus |
| Danh pháp hai phần | |
| Pseudanthias fasciatus (T. Kamohara, 1955) | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Pseudanthias fasciatus là một loài cá biển thuộc chi Pseudanthias trong họ Anthiadidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1955.[2]
Từ nguyên
Tính từ định danh fasciatus trong tiếng Latinh nghĩa là "có sọc", hàm ý đề cập đến dải sọc đỏ nổi bật giữa thân loài cá này.[3]
Tình trạng phân loại
Pseudanthias gibbosus trước đây được xem là đồng nghĩa của Pseudanthias squamipinnis bởi Boulenger (1895). Theo Heemstra và Akhilesh (2012), dường như Boulenger không trực tiếp kiểm tra mẫu vật của cả hai loài. Bản mô tả gốc của P. gibbosus lại có sự tương đồng với loài hiện nay được biết đến là P. fasciatus so với P. squamipinnis (đặc biệt là sọc đỏ giữa thân chỉ có ở P. fasciatus và P. gibbosus).[4]
Pseudanthias rubrolineatus từng được xem là đồng nghĩa của P. fasciatus do cả hai loài có màu sắc rất giống nhau, đặc biệt là sọc đỏ viền lam nhạt/trắng ở giữa thân. Ở P. rubrolineatus, sọc này kéo dài về phía sau và nằm ngay trên đường bên tại gốc vây đuôi, mảnh hơn so với của P. fasciatus (dày hơn và nằm đè lên trên đường bên tại gốc vây đuôi, có thể mờ đi hoặc biến mất khi đang tán tỉnh).[5]
Phân bố và môi trường sống
P. fasciatus hợp lệ có phân bố ở Tây Thái Bình Dương, từ miền nam Nhật Bản trải dài về phía nam đến đông bắc Úc, về phía đông đến quần đảo Solomon và Tonga.[1]
Loài cá này sống trong đầm phá và rạn viền bờ ngoài khơi, độ sâu khoảng 17–150 m.[1]
Mô tả
P. fasciatus có chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận là 21 cm. Cá trưởng thành có màu vàng cam với một dải đỏ nổi bật từ phía sau nắp mang kéo dài đến gốc vây đuôi, thêm một sọc cam viền xanh tím từ mõm hướng xuống gốc vây ngực.[6]
Gai vây lưng: 10; Tia vây lưng: 16–17; Gai vây hậu môn: 3; Tia vây hậu môn: 7; Gai vây bụng: 1; Tia vây bụng: 5; Tia vây ngực: 17–19; Vảy đường bên: 41–45.[6]
Sinh thái
Thức ăn của P. fasciatus là sinh vật phù du. Chúng có thể sống thành nhóm nhỏ bên trong kẽ hốc.[1]
Sử dụng
P. fasciatus là một thành phần trong ngành kinh doanh cá cảnh.[1]
Tham khảo
- 1 2 3 4 5 Williams, J. T. (2022). "Pseudanthias fasciatus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2022: e.T214366389A214366393. doi:10.2305/IUCN.UK.2022-2.RLTS.T214366389A214366393.en. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- ↑ R. Fricke; W. N. Eschmeyer; R. van der Laan, biên tập (2025). "Pseudanthias fasciatus". Catalog of Fishes. Viện Hàn lâm Khoa học California. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Christopher Scharpf (2026). "Order Perciformes (part 4)". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
- ↑ Heemstra, Phillip C.; Akhilesh, K. V. (2012). "A review of the anthiine fish genus Pseudanthias (Perciformes: Serranidae) of the western Indian Ocean, with description of a new species and a key to the species" (PDF). aqua, International Journal of Ichthyology. Quyển 18 số 3. tr. 121–164.
- ↑ Motomura, Hiroyuki; Dewa, Shin-ichi; Furuta, Kazuhiko; Senou, Hiroshi (2010). "Pseudanthias rubrolineatus (Serranidae: Anthiidae) collected from Take-shima Island, Kagoshima Prefecture, southern Japan" (PDF). Biogeography. Quyển 12. tr. 119–125.
- 1 2 Randall, John E.; Allen, Gerald Robert; Steene, Roger C. (1998). Fishes of the Great Barrier Reef and Coral Sea, Revised and Expanded Edition. Đại học Hawaii. tr. 93. ISBN 978-0-8248-1895-1.