Bước tới nội dung

Proton-M

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Proton-M
Phóng tên lửa Proton-M từ bãi phóng tàu vũ trụ Baikonur đưa vệ tinh Blagovest lên quỹ đạo
Chức năngTên lửa đẩy hạng nặng
Hãng sản xuấtKhrunichev
Quốc gia xuất xứNga
Chi phí phóng65 triệu đô la[1]
Kích cỡ
Chiều cao58,2 m (191 ft)
Đường kính7,4 m (24 ft)
Khối lượng705.000 kg (1.554.000 lb)[2]
Tầng tên lửa3 hoặc 4
Sức tải
Tải đến LEO[a]
Khối lượng23.000 kg (51.000 lb)[3]
Tải đến GTO (1800 m/s)
Khối lượng6.920 kg (15.260 lb)[3]
Tải đến GTO (1500 m/s)
Khối lượng6.300 kg (13.900 lb)[4]
Tải đến Quỹ đạo địa tĩnh
Khối lượng3.250 kg (7.170 lb)[3]
Tên lửa liên quan
Họ tên lửaUniversal Rocket (Proton)
Dựa trênProton-K
Các tên lửa tương đương
Lịch sử
Hiện tạiĐang hoạt động
Nơi phóngSân bay vũ trụ Baikonur, bệ phóng 81/24 và 200/39
Tổng số lần phóng116
Số lần phóng thành công105
Số lần phóng thất bại9
Số lần phóng khác2
Ngày phóng đầu tiên7/4/2001[5]
Các vật trong tên lửaGLONASS, ExoMars, Nauka
Tầng 1 – 8S810K
Chiều cao21,18 m (69,5 ft)[6]
Đường kính7,4 m (24 ft)
Khối lượng30.600 kg (67.500 lb)
Khối lượng nhiên liệu428.300 kg (944.200 lb)
Cung cấp bởi6 × RD-275M
Lực đẩy tối đa10.532 kN (2.368.000 lbf)
Xung lực riêng285 s (2,79 km/s)
Thời gian đốt108 seconds
Nhiên liệuN2O4 / UDMH
Tầng 2 – 8S811K
Chiều cao17,05 m (55,9 ft)[6]
Đường kính4,1 m (13 ft)
Khối lượng11.000 kg (24.000 lb)
Khối lượng nhiên liệu157.300 kg (346.800 lb)
Cung cấp bởi3 × RD-0210
1 × RD-0211
Lực đẩy tối đa2.399 kN (539.000 lbf)
Xung lực riêng327 s (3,21 km/s)
Thời gian đốt206 seconds
Nhiên liệuN2O4 / UDMH
Tầng 3 – 8S812
Chiều cao4,11 m (13,5 ft)[7]
Đường kính4,1 m (13 ft)
Khối lượng3.500 kg (7.700 lb)
Khối lượng nhiên liệu46.562 kg (102.652 lb)
Cung cấp bởi1 × RD-0212
Lực đẩy tối đa613,8 kN (138.000 lbf)
Xung lực riêng325 s (3,19 km/s)
Thời gian đốt238 seconds
Nhiên liệuN2O4 / UDMH
Tầng 4 (tùy chọn) – Briz-M
Chiều cao2,61 m (8 ft 7 in)
Đường kính4,0 m (13,1 ft)
Khối lượng2.370 kg (5.220 lb)
Khối lượng nhiên liệu19.800 kg (43.700 lb)
Cung cấp bởi1 × S5.98M
Lực đẩy tối đa19,62 kN (4.410 lbf)[8]
Xung lực riêng326 s (3,20 km/s)
Thời gian đốt3,000 seconds
Nhiên liệuN2O4 / UDMH
Tầng 4 (tùy chọn) – Blok DM-2
Chiều cao
  • 53 mét Sửa đổi tại Wikidata
Đường kính
  • 7,4 mét Sửa đổi tại Wikidata
Cung cấp bởi1 × RD-58M
Lực đẩy tối đa85 kN (19.000 lbf)
Xung lực riêng352 s (3,45 km/s)
Nhiên liệuRP-1 / LOX
Tầng 4 (tùy chọn) – Blok DM-03
Chiều cao
  • 53 mét Sửa đổi tại Wikidata
Đường kính
  • 7,4 mét Sửa đổi tại Wikidata
Cung cấp bởi1 RD-58M/RD-58MF
Nhiên liệuRP-1 / LOX

Proton-M (Протон-М), chỉ số GRAU 8K82M hoặc 8K82KM, là một tên lửa đẩy hạng nặng dùng một lần của Nga, được phát triển dựa trên dòng Proton do Liên Xô chế tạo trước đó.[9][10] Tên lửa được chế tạo tại Trung tâm nghiên cứu và chế tạo Khrunichev, và được phóng từ các bệ 81/24 và 200/39 tại Sân bay vũ trụ Baikonur (Kazakhstan). Các vụ phóng thương mại do International Launch Services (ILS) tiếp thị, thường sử dụng bệ 200/39. Vụ phóng Proton-M đầu tiên diễn ra vào ngày 7 tháng 4 năm 2001.[11]

Proton thực hiện nhiệm vụ gần nhất vào ngày 12 tháng 2 năm 2026.[12] Tính đến tháng 8 năm 2020, vẫn còn một số nhiệm vụ của Roscosmos và các cơ quan chính phủ Nga khác nằm trong danh sách phóng của Proton.

Mô tả Proton-M

Proton-M đang di chuyển tới bệ phóng

Tên lửa đẩy Proton-M gồm ba tầng, tất cả đều sử dụng động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng với cặp nhiên liệu tự cháy hypergolic propellant gồm dinitơ tetroxide đóng vai trò là chất ô xy hóa, và đimêtyl hiđrazin bất đối xứng là nhiên liệu.

Tầng một có thiết kế độc đáo: gồm một thùng chứa chất ôxy hóa hình trụ ở trung tâm, có đường kính giống hai tầng trên, và sáu tầng đẩy phụ nhiên liệu gắn xung quanh, mỗi tầng mang một động cơ.

Các động cơ ở tầng này có thể lệch góc (gimbal) tới 7,0° so với vị trí trung tính, cho phép điều khiển vectơ lực đẩy hoàn toàn.

Lý do của thiết kế này là vấn đề hậu cần: đường kính các thùng chứa bị giới hạn bởi khả năng vận chuyển bằng đường sắt tới Baikonur. Tuy nhiên, khi đã lắp ráp hoàn chỉnh tại Baikonur, toàn bộ tên lửa vẫn được vận chuyển bằng đường sắt do đủ khoảng không.

Tầng hai có thiết kế hình trụ thông thường, sử dụng: 3 động cơ RD-0210 và một động cơ RD-0211. Động cơ RD-0211 là biến thể của RD-0210, được bổ sung bộ trao đổi nhiệt để tăng áp cho các thùng nhiên liệu. Tầng hai nối với tầng một bằng kết cấu dạng lưới (interstage dạng mở) thay vì kín, nhằm cho phép khí xả thoát ra ngoài, vì động cơ tầng hai bắt đầu hoạt động vài giây trước khi tách tầng. Kỹ thuật này gọi là “tách tầng nóng” (hot staging), giúp loại bỏ nhu cầu sử dụng động cơ ổn định (ullage thrusters) ở tầng hai. Việc điều khiển hướng bay được thực hiện bằng cách điều chỉnh góc lệch động cơ.

Tầng ba cũng có thiết kế hình trụ thông thường, chứa hệ thống điện tử hàng không (avionics) điều khiển hai tầng trước. Nó sử dụng 1 động cơ RD-0213 được đặt cố định và không xoay trụm gimble, là một phiên bản của động cơ RD-0210, và một động cơ RD-0214 động cơ phụ có 4 vòi phun để điều khiển vectơ lực đẩy. Các vòi phun của RD-0214 có thể xoay tới 45°, được bố trí xung quanh và cao hơn một chút so với vòi phun của RD-0213.

Proton-M được cải tiến ở các tầng dưới nhằm: giảm khối lượng kết cấu, tăng lực đẩy và hiệu suất sử dụng nhiên liệu. Tên lửa sử dụng hệ thống dẫn đường vòng kín ở tầng một, cho phép tiêu thụ nhiên liệu triệt để hơn. Điều này giúp tăng một chút về hiệu suất và giảm lượng nhiên liệu độc hại trong tầng đẩy sau khi tầng đẩy tách ra. Tên lửa có khả năng mang tối đa 21 tấn tải trọng lên Quỹ đạo Trái Đất tầm thấp. Với tầng đẩy mang tải trọng, nó có khả năng đưa tải trọng nặng 3 tấn vào quỹ đạo địa tĩnh hoặc 5500 kg vào quỹ đạo chuyển tiếp địa tĩnh. Ngoài ra các cải tiến cũng nhằm giảm sự phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài.

Tầng đẩy trên

Phần lớn các vụ phóng Proton-M sử dụng tầng trên Briz-M để đưa tàu vũ trụ lên quỹ đạo cao hơn. Các vụ phóng cũng đã được thực hiện với các tầng trên Blok-DM: đã có sáu lần phóng sử dụng biến thể Blok DM-02 mang theo các vệ tinh GLONASS, trong khi bảy lần phóng khác sử dụng Blok DM-03.[13] Tính đến năm 2023, chỉ có một lần phóng Proton-M được thực hiện không sử dụng tầng trên, nhằm đưa mô-đun Nauka và European Robotic Arm lên Trạm vũ trụ Quốc tế vào tháng 7 năm 2021.

Chụp bảo vệ tải trọng

Chụp bảo vệ tải trọng Proton-M/Briz-M

Trong các vụ phóng thương mại do International Launch Services thực hiện, Proton-M sử dụng hai loại chụp bảo vệ:[14][15]

  • chụp ngắn PLF-BR-13305.
  • chụp dài PLF-BR-15255.

Cả hai loại đều có đường kính 4,35 mét.

Proton-M Enhanced (M+)

Ngày 7 tháng 7 năm 2007, International Launch Services đã phóng thành công tên lửa Proton-M Enhanced (còn gọi là M+), mang theo vệ tinh DirecTV-10 lên quỹ đạo. Đây là lần phóng thứ 326 của dòng Proton, lần thứ 16 của cấu hình Proton-M/Briz-M, và lần thứ 41 do ILS thực hiện.[16] Biến thể này có các cải tiến: động cơ tầng 1 có hiệu suất cao hơn, nâng cấp hệ thống điện tử hàng không, thùng nhiên liệu nhẹ hơn, động cơ vernier mạnh hơn trên tầng Briz-M, và giảm khối lượng tên lửa (thùng nhiên liệu có thành mỏng hơn và sử dụng vật liệu composite trên tất cả các tầng đẩy. Lần phóng thứ hai của biến thể này diễn ra ngày 18 tháng 8 năm 2008, đưa vệ tinh Inmarsat 4 F3 vào quỹ đạo. Biến thể Proton-M tiêu chuẩn đã ngừng hoạt động vào tháng 11 năm 2007, nhường chỗ cho phiên bản Enhanced.

Frank McKenna, CEO của ILS, cho biết vào năm 2010 thiết kế Proton Phase III sẽ trở thành cấu hình tiêu chuẩn của ILS, với khả năng đưa 6.150 kg vào quỹ đạo chuyển tiếp địa tĩnh (GTO).[17]

Ngày 19 tháng 10 năm 2011, vệ tinh ViaSat-1 có khối lượng 6.740 kg đã được đưa vào GTO bằng Proton-M/Briz-M Phase III.[18]

Phiên bản hạng nhẹ và hạng trung bình

Tên lửa đẩy Proton hạng nhẹ và hạng trung được đề xuất với tải trọng mang được thấp hơn nhưng chi phí sẽ rẻ hơn. Proton hạng nhẹ được đề xuất cuối năm 2016 và bị hủy bỏ năm 2017, trong khi Proton hạng trung bị tạm hoãn vô thời hạn kể từ năm 2018.[19] Hai biến thể này nhằm giảm chi phí phóng vệ tinh viễn thông cỡ nhỏ và trung bình lên quỹ đạo GTO.[20] Đặc điểm thiết kế:

  • Cấu hình 2 + 1 tầng (dựa trên Proton/Briz-M 3 tầng)
  • Loại bỏ tầng hai, kéo dài một chút các tầng còn lại
  • Proton Light dùng 4 động cơ chính (so với 6 của Proton Medium và Proton-M)

Khả năng mang tải trọng: Proton M có khả năng mang được 6.300 kg lên quỹ đạo GTO trong khi Proton Medium có khả năng mang 5.000 kg và Proton Light có khả năng mang 3.600 kg lên GTO.[21] Khoảng tải trọng 3.000–5.000 kg phù hợp với các vệ tinh điện hoàn toàn hoặc lai (dùng động cơ ion) để tự nâng lên quỹ đạo địa tĩnh (GEO).

Reliability Proton-M

Proton-M chuẩn bị được đưa ra bãi phóng

Tính đến ngày 22 tháng 6 năm 2024, đã có 115 vụ phóng Proton-M, trong đó 11 vụ thất bại hoặc thất bại một phần, đạt tỷ lệ thành công khoảng 90%.

  • 4 sự cố do chính tên lửa Proton-M.
  • 6 sự cố do tầng trên Briz-M gặp trục trặc khiến tải trọng bị đưa vào quỹ đạo không sử dụng được (trong đó có 2 trường hợp vệ tinh tự điều chỉnh về quỹ đạo đúng bằng động cơ riêng).
  • 1 sự cố do tầng trên Blok DM-03 được nạp nhiên liệu sai, khiến tên lửa quá nặng để đạt quỹ đạo.

Các sự cố phóng đáng chú ý

Tháng 9 năm 2007

Một tên lửa Proton-M/Briz-M mang vệ tinh viễn thông JCSAT-11 của Nhật Bản đã không đạt được quỹ đạo và rơi xuống quận Ulytau, Kazakhstan. Điều tra xác định rằng tầng một và tầng hai của tên lửa đã không tách được do cáp nổ (pyrotechnic cable) bị hư hỏng.[22]


Ngày 5 tháng 12 năm 2010

Tầng trên và tải trọng không đạt được vận tốc quỹ đạo do tầng trên bị nạp quá tải 1.500 kg ôxy lỏng, dẫn đến việc mất ba vệ tinh GLONASS mà nó mang theo.[23]


Ngày 5 tháng 12 năm 2010

Tầng trên và tải trọng không đạt được vận tốc quỹ đạo do tầng trên bị nạp quá tải 1.500 kg ôxy lỏng, dẫn đến việc mất ba vệ tinh GLONASS mà nó mang theo.[24] Tên lửa bắt đầu dao động sang trái và phải theo trục thẳng đứng chỉ vài giây sau khi phóng. Các nỗ lực của máy tính dẫn đường trên khoang nhằm hiệu chỉnh quỹ đạo bay đều thất bại, khiến tên lửa rơi vào trạng thái mất kiểm soát không thể phục hồi. Các tầng trên và tải trọng bị tách khỏi tên lửa sau 24 giây do lực tác động lớn, tiếp đó tầng một bị vỡ tung và bốc cháy. Tên lửa va chạm mặt đất sau 30 giây kể từ khi phóng.

Báo cáo điều tra sơ bộ cho thấy ba cảm biến vận tốc góc của tầng một, chịu trách nhiệm điều khiển hướng quay (yaw), đã được lắp sai chiều. Do lỗi này ảnh hưởng cả các cảm biến dự phòng lẫn cảm biến chính, tên lửa hoàn toàn mất khả năng điều khiển hướng, dẫn đến thất bại.[24] Dữ liệu đo đạc cũng cho thấy cáp kết nối mặt đất (umbilical) đã tách sớm, cho thấy Proton có thể đã phóng sớm vài phần mười giây trước khi động cơ đạt lực đẩy tối đa.


Tháng 5 năm 2014

Một vụ phóng Proton-M khác kết thúc trong thất bại, khiến mất một vệ tinh viễn thông Ekspress.

Khác với sự cố năm 2013, vụ này xảy ra sau hơn 9 phút bay khi một động cơ vernier của tầng ba ngừng hoạt động, dẫn đến mất kiểm soát tư thế. Hệ thống tự động đã kích hoạt lệnh tắt động cơ và tự hủy, các mảnh vỡ của tầng trên và tải trọng rơi xuống miền bắc Trung Quốc.

Ủy ban điều tra kết luận nguyên nhân nhiều khả năng là do một turbopump bị bung khỏi giá đỡ, làm vỡ đường ống nhiên liệu và khiến động cơ vernier mất lực đẩy.


Tháng 5 năm 2015

Một tên lửa Proton-M mang vệ tinh viễn thông Mexico MexSat-1 bị mất do sự cố ở tầng ba.[25] Các nguồn tin Nga cho biết sự cố này tương tự như vụ năm 2014. Điều tra xác định động cơ vernier tầng ba RD-0214 bị hỏng do tải rung quá mức, gây ra bởi sự mất cân bằng ngày càng tăng của rotor trong turbopump, và kết luận đây là cùng nguyên nhân với một tai nạn trước đó vào năm 1988.[26][27]


Tháng 6 năm 2016

Trong một vụ phóng, một trong bốn động cơ của tầng hai đã tắt sớm. Tầng trên Briz-M đã bù lại phần hiệu suất thiếu hụt và đưa vệ tinh Intelsat 31 vào đúng quỹ đạo dự kiến.

Trong khi chờ điều tra, tên lửa bị đình chỉ hoạt động trong phần còn lại của năm 2016 và nửa đầu năm 2017. Khi đó, Proton-M dự kiến quay trở lại phóng vào khoảng tháng 6 năm 2017 để đưa vệ tinh EchoStar-21 lên quỹ đạo.


Ngày 28 tháng 1 năm 2017

Chính phủ Nga thông báo, sau kết quả điều tra sự cố tàu Progress MS-04, rằng sẽ thu hồi toàn bộ động cơ tầng hai và tầng ba của Proton-M do Voronezh Mechanical Plant sản xuất.

Biện pháp này bao gồm việc tháo rời ba tên lửa Proton đã hoàn thiện và đình chỉ các chuyến bay trong ba tháng rưỡi.[28] Điều tra phát hiện rằng các vật liệu rẻ tiền, không chịu được nhiệt độ cao, đã được sử dụng thay cho các linh kiện chứa kim loại quý, đồng thời hồ sơ sản xuất và chứng nhận đã bị làm giả.[29]


Proton quay trở lại hoạt động vào ngày 8 tháng 6 năm 2017, đúng một năm sau chuyến bay trước đó vào ngày 6 tháng 6 năm 2016.

Sự cố liên quan đến tầng trên

Trong số các sự cố của Proton-M, một phần nguyên nhân đến từ các tầng trên dùng để đưa tải trọng lên quỹ đạo cao hơn, đặc biệt là các vụ thất bại vào tháng 5 năm 2014 và tháng 5 năm 2015.

Ít nhất năm vụ phóng trước đó cũng gặp trục trặc với tầng trên Briz-M, bao gồm:

  • Arabsat-4A (tháng 2 năm 2006)
  • AMC-14 (tháng 3 năm 2008)
  • Ekspress AM4 (tháng 8 năm 2011)
  • Telkom-3 và Ekspress MD2 (tháng 8 năm 2012)[30]
  • Yamal-402 (tháng 12 năm 2012)

Hầu hết các tải trọng đều trở nên vô dụng, ngoại trừ:

  • Yamal-402, có thể tự điều chỉnh về đúng quỹ đạo nhưng phải đánh đổi bằng việc giảm vài năm tuổi thọ hoạt động
  • AMC-14, sau đó được bán cho Chính phủ Hoa Kỳ khi công ty SES xác định nó không thể hoàn thành nhiệm vụ ban đầu

Tác động đối với chính phủ và ngành công nghiệp

Sau sự cố phóng Proton-M vào tháng 7 năm 2013, ngành công nghiệp vũ trụ Nga đã trải qua một đợt tái tổ chức lớn.

Chính phủ Nga đã thành lập United Rocket and Space Corporation vào tháng 8 năm 2013 dưới dạng công ty cổ phần nhằm hợp nhất ngành vũ trụ.

Phó Thủ tướng Dmitry Rogozin tuyên bố:

“Ngành vũ trụ vốn dễ xảy ra thất bại này đang gặp quá nhiều vấn đề đến mức cần có sự giám sát của nhà nước để khắc phục.”[31] Chỉ ba ngày sau sự cố, chính phủ Nga cũng tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp “cực kỳ nghiêm khắc”, có thể “đặt dấu chấm hết cho ngành công nghiệp vũ trụ Nga như chúng ta từng biết”.[32]

Tác động môi trường Proton-M

Các nhà phê bình cho rằng nhiên liệu tên lửa Proton – đặc biệt là unsymmetrical dimethylhydrazine (UDMH))– cùng với các mảnh vỡ từ chương trình vũ trụ Nga đã gây ô nhiễm các khu vực tại Nga và Kazakhstan.

Người dân địa phương cho biết có hiện tượng mưa axit sau một số vụ phóng.

Tuy nhiên, Anatoly Kuzin, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu và chế tạo Khrunichev, đã bác bỏ các cáo buộc này, cho biết:

  • Các nghiên cứu chuyên biệt không cho thấy mức độ axit trong khí quyển bị ảnh hưởng bởi các vụ phóng
  • Không có dữ liệu chứng minh mối liên hệ giữa bệnh tật tại khu vực Altai với nhiên liệu tên lửa hoặc hoạt động vũ trụ[33]

Ảnh Proton-M

Xem thêm Proton-M

Ghi chú Proton-M

Tham khảo Proton-M

  1. Surplus Missile Motors (PDF) (Báo cáo). United States Government Accountability Office. tháng 8 năm 2017. GAO-17-609. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2018. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  2. "Commercial Launch Vehicle | ILS Proton Breeze M". International Launch Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016.
  3. 1 2 3 "Proton Launch System Mission Planner's Guide – Section 2. LV Performance" (PDF). International Launch Services. tháng 7 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2017.
  4. Clark, Stephen (ngày 9 tháng 6 năm 2016). "Upgraded Proton booster adds satellite to Intelsat's fleet". Spaceflightnow.com.
  5. McDowell, Jonathan. "Proton". Orbital and Suborbital Launch Database. Jonathan's Space Page. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009.
  6. 1 2 "1st and 2nd Stage | ILS Proton | Launch Vehicle". International Launch Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016.
  7. "3rd Stage | ILS Proton | Launch Vehicle". International Launch Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016.
  8. "Breeze M | ILS Proton | Launch Vehicle". International Launch Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016.
  9. "Model, Proton M Rocket | National Air and Space Museum". airandspace.si.edu. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  10. "Proton | Soyuz, M-class & Launchpad | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  11. "Commercial Launch Heritage | Proton Rocket". International Launch Services. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016.
  12. "Elektro-L n°5". nextspaceflight.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2026.
  13. Krebs, Gunter. "Proton". Gunter's Space Page.
  14. "Payload Fairing | ILS Proton | Launch Vehicle". International Launch Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016.
  15. "Proton Launch System Mission Planner's Guide Section 4 Spacecraft Interfaces" (PDF). International Launch Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2016.
  16. "DIRECTV 10". ILS.
  17. "ILS Reaps Reward of Khrunichev Takeover". Satellite Finance. tháng 12 năm 2009.
  18. Krebs, Gunter. "ViaSat 1". Gunter's Space Page.
  19. Henry, Caleb (ngày 30 tháng 8 năm 2018). "Proton Medium, International Launch Services' answer to Falcon 9, put on "indefinite hold"". SpaceNews. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018.
  20. "ILS unveils two Proton variants sized for smaller satellites". Space News. ngày 13 tháng 9 năm 2016.
  21. "ILS to expand Proton Rocket Family in Response to Changing Launch Market". SpaceFlight101.com. ngày 13 tháng 9 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  22. Zak, Anatoly (ngày 6 tháng 9 năm 2007). "Proton/JCSAT-11 launch failure". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013.
  23. "Russia clears Proton to resume flying in December". Spaceflight Now. ngày 10 tháng 12 năm 2010.
  24. 1 2 "Russia's Proton crashes with a trio of navigation satellites". RussianSpaceWeb. ngày 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013.
  25. "Названа предварительная причина аварии "Протона" с мексиканским спутником". slon.ru. ngày 16 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015.
  26. "Third stage engine blamed for Russian Proton-M rocket crash - SpaceFlight Insider". www.spaceflightinsider.com. tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2017.
  27. "Proton mission with MexSat-1 satellite". www.russianspaceweb.com. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2017.
  28. "Russia to check space flight engines over faulty parts".
  29. Welle (www.dw.com), Deutsche. "Russia grounds Proton-M rockets over crash | DW | 28.01.2017". DW.COM (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2022.
  30. "Russian rocket fails to reach target orbit". The Hindu. ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  31. Messier, Doug (ngày 30 tháng 8 năm 2013). "Rogozin: Russia to Consolidate Space Sector into Open Joint Stock Company". Parabolic Arc. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  32. Nilolaev, Ivan (ngày 3 tháng 7 năm 2013). "Rocket failure to lead to space industry reform". Russia Behind The Headlines. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013.
  33. Vassilieva, Maria (ngày 7 tháng 8 năm 2012). "Russians say space rocket debris is health hazard". BBC News. BBC. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012.