Pentapodus emeryii
| Pentapodus emeryii | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Actinopterygii |
| Bộ: | Acanthuriformes |
| Họ: | Nemipteridae |
| Chi: | Pentapodus |
| Loài: | P. emeryii |
| Danh pháp hai phần | |
| Pentapodus emeryii (Richardson, 1843) | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Pentapodus emeryii là một loài cá biển thuộc chi Pentapodus trong họ Cá lượng. Loài cá này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1843.
Từ nguyên Pentapodus emeryii
Từ định danh emeryii được đặt theo tên của James Barker Emery, họa sĩ và là Đệ nhất Trung úy trên tàu Beagle trong cuộc khảo sát bờ biển Úc năm 1837–1841. Bên cạnh đó, ông còn là nhà tự nhiên học nghiệp dư, là người đã vẽ minh họa cho nhiều loài, bao gồm cả loài này.[2]
Phân bố và môi trường sống Pentapodus emeryii
P. emeryii có phân bố tập trung ở khu vực Tam giác San Hô (trừ quần đảo Solomon), giới hạn phía nam đến bờ bắc Tây Úc, phía tây đến đảo Java và Borneo.[1] Ở Việt Nam, P. emeryii được ghi nhận tại cù lao Câu[3] và một số ám tiêu ngoài khơi Bình Thuận.[4]
P. emeryii sống trong đầm phá và trên rạn viền bờ ở độ sâu đến 35 m.[5]
Mô tả Pentapodus emeryii
Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở P. emeryii là 35 cm,[5] nhưng thường thấy ở khoảng 18 cm.[6] Nửa thân trên sẫm màu xanh lam, nửa dưới trắng. Một sọc vàng tươi dọc hai bên lườn, từ chóp mõm băng qua mắt kéo dài đến giữa vây đuôi, sọc vàng tương tự mảnh hơn từ sau mắt ngược lên lưng. Vây đuôi lõm, hai thùy dài có màu xanh tím. Cá con có thân xanh thẫm, các sọc vàng dày hơn.
Số gai vây lưng: 10; Số tia vây lưng: 9; Số gai vây hậu môn: 3; Số tia vây hậu môn: 7; Số gai vây bụng: 1; Số tia vây bụng: 5.[5]
Sinh thái Pentapodus emeryii

P. emeryii ăn các loài thủy sinh không xương sống như giáp xác, ngành Sá sùng, sao biển đuôi rắn và cá nhỏ hơn.[6] Chúng thường sống thành từng nhóm nhỏ.[1]
Sử dụng Pentapodus emeryii
P. emeryii chủ yếu được đánh bắt thủ công, được bán với số lượng nhỏ tại các chợ cá địa phương.[6]
Tham khảo Pentapodus emeryii
- 1 2 3 "Pentapodus emeryii". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2010: e.T155300A115297624. 2017 [2010]. doi:10.2305/IUCN.UK.2010-4.RLTS.T155300A4769955.en. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2025.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ Christopher Scharpf, biên tập (2024). "Order Tetraodontiformes". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
- ↑ "Hiện trạng và biến động quần xã cá rạn san hô ở Khu Bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 21 số 4A. 2021. tr. 153–172. ISSN 1859-3097.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ Mai Xuân Đạt (2019). "Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển. Quyển 19 số 4A. tr. 259–271. ISSN 1859-3097.
- 1 2 3 Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Pentapodus emeryii trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 Barry C. Russell (2001). "Nemipteridae". Trong Kent E. Carpenter; Volker H. Niem (biên tập). The Living Marine Resources of the Western Central Pacific Volume 5: Bony fishes part 3 (Menidae to Pomacentridae) (PDF). FAO. tr. 3084. ISBN 92-5-104587-9.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)