Bước tới nội dung

Parupeneus indicus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Parupeneus indicus
Phân loại khoa học edit
Giới:Animalia
Ngành:Chordata
Lớp:Actinopterygii
Bộ:Syngnathiformes
Họ:Mullidae
Chi:Parupeneus
Loài:
P. indicus
Danh pháp hai phần
Parupeneus indicus
(Shaw, 1803)
Các đồng nghĩa
Danh sách
    • Mullus indicus Shaw, 1803
    • Mullus russelii Cuvier, 1829
    • Upeneus malabaricus Cuvier, 1829
    • Upeneus waigiensis Cuvier, 1829
    • Upeneus griseofrenatus Kner, 1868

Parupeneus indicus là một loài cá biển thuộc chi Parupeneus trong họ Cá phèn. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1803.

Từ nguyên

Tính từ định danh indicus trong tiếng Latinh nghĩa là "ở Ấn Độ", là nơi đã thu thập mẫu định danh của loài cá này.[2]

Phân bố và môi trường sống

P. indicus có phân bố rộng khắp vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, từ biển Ả RậpĐông Phi trải dài về phía đông đến quần đảo Marshallquần đảo Australes, giới hạn phía bắc đến miền trung Nhật Bản (tỉnh Ibaraki) và đảo Jeju,[1] phía nam đến Nam Phi, ÚcNouvelle-Calédonie.[3]

Ở Việt Nam, P. indicus được ghi nhận tại cù lao Chàm (Đà Nẵng),[4] Quảng Ngãi,[5] Phú Yên (Đắk Lắk),[6] Khánh Hòa[7] (gồm Ninh Thuận[8]), cù lao Câu (Lâm Đồng).[9]

P. indicus sống trên nền đáy cát bột, thường ở các thảm cỏ biển trong đầm phárạn viền bờ, độ sâu đến ít nhất là 30 m.[10]

Mô tả

Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở P. indicus là 45 cm.[10] Hình dạng vảy cá là chỉ dấu cho thấy có hiện tượng dị hình giới tínhP. indicus.[11]

Cá có màu nâu lục đến nâu đỏ ở lưng, nhạt dần thành trắng hoặc hồng nhạt xuống bụng, viền vảy sẫm màu. Một đốm lớn, thuôn dài màu vàng nằm trên đường bên, ngay dưới khoảng giữa hai vây lưng. Một đốm tròn đen xuất hiện ở hai bên cuống đuôi. Vây đuôi, vây lưng và vây hậu môn có các sọc xanh lam. Màng bụng màu nâu sẫm. Râu cá màu trắng.[12]

Số gai vây lưng: 8; Số tia vây lưng: 9; Số gai vây hậu môn: 1; Số tia vây hậu môn: 7; Số tia vây ngực: 15–17.[10]

Sinh thái

Thức ăn của P. indicus bao gồm giáp xác, nhuyễn thể, ốc biển nhỏ và giun ngành Sá sùng. Cá con đang lớn sống thành đàn, trong khi cá trưởng thành thường sống đơn độc, nhưng cũng có thể sống thành nhóm.[10]

Sử dụng

P. indicus được sử dụng làm mồi câu cá ngừYemen. Thịt của P. indicus được đánh giá là có chất lượng cao.[1]

Tham khảo

  1. 1 2 3 Smith-Vaniz, W.F. & Williams, I. (2017) [2016]. "Parupeneus indicus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016: e.T69182614A115460779. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T69182614A69183294.en. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. Christopher Scharpf, biên tập (2025). "Order Syngnathiformes". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
  3. R. Fricke; W. N. Eschmeyer; R. van der Laan, biên tập (2025). "Parupeneus indicus". Catalog of Fishes. Viện Hàn lâm Khoa học California. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  4. Nguyễn Văn Long; Mai Xuân Đạt (2020). "Đặc trưng nguồn lợi cá trong các hệ sinh thái ở khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An" (PDF). Vietnam Journal of Marine Science and Technology. Quyển 20 số 1. tr. 105–120. doi:10.15625/1859-3097/13553. ISSN 1859-3097.
  5. Lê Thị Thu Thảo; Võ Văn Quang; Nguyễn Phi Uy Vũ (2018). "Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 18 số 2. tr. 166–177. doi:10.15625/1859-3097/18/2/8562.
  6. Nguyễn Văn Long (2013). "Nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven bờ Phú Yên". Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 13 số 1. tr. 31–40. ISSN 1859-3097.
  7. Nguyễn Phi Uy Vũ; Hồ Bá Đỉnh; Lê Thị Thu Thảo; Trần Thị Hồng Hoa; Võ Văn Quang (2007). "Thành phần loài cá thường gặp của một số nghề khai thác cá đáy và gần đáy ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa" (PDF). Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Quốc gia "Biển Đông-2007". tr. 445–458.
  8. Mai Xuân Đạt; Nguyễn Văn Long; Phan Thị Kim Hồng (2020). "Cá rạn san hô ở vùng biển ven bờ tỉnh Ninh Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển. Quyển 20 số 4A. tr. 125–139. doi:10.15625/1859-3097/15656. ISSN 1859-3097.
  9. Mai Xuân Đạt; Nguyễn Văn Long; Phan Thị Kim Hồng; Hoàng Xuân Bền (2021). "Hiện trạng và biến động quần xã cá rạn san hô ở Khu Bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 21 số 4A. tr. 153–172. ISSN 1859-3097.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  10. 1 2 3 4 Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Parupeneus indicus trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2025.
  11. Dapar, Mark Lloyd G.; Torres, Mark Anthony J.; Fabricante, Princess Keren; Demayo, Cesar G. (2012). "Scale Morphology of the Indian goatfish, Parupeneus indicus (Shaw, 1803) (Perciformes: Mullidae)" (PDF). Advances in Environmental Biology. Quyển 6 số 4. tr. 1426–1432. ISSN 1995-0756.
  12. Franz Uiblein & John E. Randall (2022). "Mullidae". Trong Phillip C. Heemstra; E. Heemstra; David A. Ebert; W. Holleman; John E. Randall (biên tập). Coastal fishes of the western Indian Ocean (quyển 3) (PDF). South African Institute for Aquatic Biodiversity. tr. 362.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
Xem thêm