Bước tới nội dung

Parupeneus cyclostomus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Parupeneus cyclostomus
Cá trưởng thành (kiểu màu xám)
Cá đang lớn (kiểu màu vàng)
Phân loại khoa học edit
Giới:Animalia
Ngành:Chordata
Lớp:Actinopterygii
Bộ:Syngnathiformes
Họ:Mullidae
Chi:Parupeneus
Loài:
P. cyclostomus
Danh pháp hai phần
Parupeneus cyclostomus
(Lacépède, 1801)
Các đồng nghĩa
Danh sách
    • Mullus cyclostomus Lacépède, 1801
    • Mullus radiatus Shaw, 1803
    • Upeneus immaculatus E. T. Bennett, 1831
    • Upeneus luteus Valenciennes, 1831
    • Upeneus oxycephalus Bleeker, 1856
    • Upeneus chryserythrus Günther, 1873
    • Parupeneus xanthospilurus Bleeker, 1875
    • Mullus microps R. Bliss, 1883
    • Upeneus saffordi Seale, 1901
    • Pseudupeneus aurantiacus Seale, 1906

Parupeneus cyclostomus là một loài cá biển thuộc chi Parupeneus trong họ Cá phèn. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1801.

Từ nguyên

Từ định danh cyclostomus được ghép bởi hai âm tiết trong tiếng Hy Lạp cổ đại: kŭ́klos (κύκλος; "vòng tròn") và stómă (στόμᾰ; "miệng"), hàm ý đề cập đến miệng của loài cá này khi mở tạo thành một vòng tròn lớn.[2]

Phân bố và môi trường sống

P. cyclostomus có phân bố rộng khắp vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, từ Biển ĐỏĐông Phi trải dài về phía đông đến quần đảo Hawaii, KiribatiPitcairn, giới hạn phía bắc đến miền nam Nhật Bản và phía nam đến Nam Phi, ÚcPolynésie thuộc Pháp.[3] Ở Việt Nam, P. cyclostomus được ghi nhận tại cù lao Câu.[4]

P. cyclostomus sống trên nền đáy san hô hoặc đá vụn của đầm pháám tiêu, độ sâu đến ít nhất là 125 m.[5]

Mô tả

Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở P. cyclostomus là 50 cm.[5] Cá trưởng thành có màu xám ánh vàng, viền vảy thân xanh lam óng. Một số cá thể có màu đỏ hồng khi đánh bắt từ vùng nước sâu. Một đốm lớn màu vàng, hình bán nguyệt, bao phủ nửa trên của cuống đuôi. Quanh mắt có các vệt xanh lam. Vây đuôi, vây lưng và vây hậu môn có các sọc xanh lam. Cá con đang lớn và cá cái màu vàng hoàn toàn, đốm cuống đuôi đôi khi sáng màu hơn phần còn lại của cơ thể.[6]

Số gai vây lưng: 8; Số tia vây lưng: 9; Số gai vây hậu môn: 1; Số tia vây hậu môn: 7; Số tia vây ngực: 15–17.[5]

Sinh thái

Thức ăn của P. cyclostomus bao gồm giáp xác, nhuyễn thể, ốc biển nhỏ và giun ngành Sá sùng. Cá con đang lớn sống thành đàn, trong khi cá trưởng thành thường sống đơn độc, nhưng cũng có thể sống thành nhóm.[5]

P. cyclostomus là một loài cá có hành vi săn mồi theo nhóm. Trong quá trình săn mồi, bất kỳ cá thể nào trong nhóm cũng có thể đóng vai trò khởi xướng bằng cách tăng tốc đột ngột. Thay vì bám theo cá thể dẫn đầu, các thành viên còn lại di chuyển vòng qua rạn san hô nhằm chặn đường thoát của con mồi. Khi con mồi lẩn trốn vào các kẽ hở, cả nhóm P. cyclostomus sẽ bao vây nó, đồng thời sử dụng râu để lấy con mồi ra khỏi nơi ẩn nấp.[7]

Tuổi thọ lớn nhất được ghi nhận ở P. cyclostomus là 6,4 năm.[8] Mùa sinh sản của P. cyclostomus bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 9 ở Biển Đỏ, có kích thước trứng nhỏ nhất (209,6 μm) khi so sánh với các loài cá phèn khác.[9]

Sử dụng

P. cyclostomus được khai thác tại nhiều nơi trong vùng phân bố của chúng, đôi khi cũng được đánh bắt trong ngành thương mại cá cảnh.[1]

Tham khảo

  1. 1 2 Smith-Vaniz, W.F. & Williams, I. (2017) [2016]. "Parupeneus cyclostomus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016: e.T69182011A115460002. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T69182011A69183284.en. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. Christopher Scharpf, biên tập (2025). "Order Syngnathiformes". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
  3. R. Fricke; W. N. Eschmeyer; R. van der Laan, biên tập (2025). "Parupeneus cyclostomus". Catalog of Fishes. Viện Hàn lâm Khoa học California. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  4. Mai Xuân Đạt; Nguyễn Văn Long; Phan Thị Kim Hồng; Hoàng Xuân Bền (2021). "Hiện trạng và biến động quần xã cá rạn san hô ở Khu Bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 21 số 4A. tr. 153–172. ISSN 1859-3097.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  5. 1 2 3 4 Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Parupeneus cyclostomus trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2025.
  6. Franz Uiblein & John E. Randall (2022). "Mullidae". Trong Phillip C. Heemstra; E. Heemstra; David A. Ebert; W. Holleman; John E. Randall (biên tập). Coastal fishes of the western Indian Ocean (quyển 3) (PDF). South African Institute for Aquatic Biodiversity. tr. 360.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
  7. Strübin, Carine; Steinegger, Marc; Bshary, Redouan (2011). "On Group Living and Collaborative Hunting in the Yellow Saddle Goatfish (Parupeneus cyclostomus)". Ethology. Quyển 117 số 11. tr. 961–969. doi:10.1111/j.1439-0310.2011.01966.x. ISSN 1439-0310.
  8. Farrag, Elsayed; Al-Zaabi, Ahmed; Carter, Subbiah (2018). "Studies on growth and stock assessment of gold-saddle goatfish Parupeneus cyclostomus (Lacepède, 1801) along the eastern coastline of the United Arab Emirates" (PDF). Octa Journal of Environmental Research. Quyển 6 số 2.
  9. Saeed, A. A. Rasha; Moharram, S. G.; Al-Abbasi, Fahad A. (2018). "Comparative Gametogenesis and Biochemical Differentiation of Goatfish (Parupeneus heptacanthus and Parupeneus cyclostomus) from Red Sea". Russian Journal of Marine Biology. Quyển 44 số 2. tr. 141–148. doi:10.1134/S1063074018020086. ISSN 1608-3377.
Xem thêm