Bước tới nội dung

Ompok

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cá trèn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Siluriformes
Họ (familia)Siluridae
Chi (genus)Ompok
Lacépède, 1803
Loài điển hình
Ompok siluroides
Lacépède, 1803
Species
Xem trong bài.
Danh pháp đồng nghĩa
  • Callichrous
    Hamilton, 1822
  • Pseudosilurus
    Bleeker, 1857
  • Silurodes
    Bleeker, 1857

Ompok cũng gọi là cá trèn là một chi cá da trơn bản địa của vùng châu Á.[1] Cá trèn còn thuộc nhiều chi khác trong họ Cá nheo (Siluridae): Belodotichthys, Hemisilurus, Kryptopterus, Phalacronotus.

Các loài

Có 27 loài được ghi nhận trong chi này.[2][3]

  • Ompok bimaculatus (Bloch, 1794) (Butter catfish)
  • Ompok binotatus Ng, 2002
  • Ompok borneensis (Steindachner, 1901)
  • Ompok brevirictus Ng & Hadiaty, 2009
  • Ompok canio (Hamilton, 1822)
  • Ompok ceylonensis (Günther, 1864)
  • Ompok eugeneiatus (Vaillant, 1893) (Malay glass catfish)
  • Ompok fumidus Tan & Ng, 1996
  • Ompok goae (Haig, 1952)
  • Ompok hypophthalmus (Bleeker, 1846)
  • Ompok javanensis (Hardenberg, 1938)
  • Ompok jaynei Fowler, 1905
  • Ompok karunkodu Ng, 2013[3]
  • Ompok leiacanthus (Bleeker, 1853)
  • Ompok malabaricus (Valenciennes, 1840) (Goan catfish)
  • Ompok miostoma Vaillant, 1902
  • Ompok pabda (Hamilton, 1822) (Pabdah catfish)
  • Ompok pabo (Hamilton, 1822) (Pabo catfish)
  • Ompok pinnatus H. H. Ng, 2003 (Long-fin glass catfish)
  • Ompok platyrhynchus Ng & Tan, 2004
  • Ompok pluriradiatus Ng, 2002
  • Ompok rhadinurus Ng, 2003
  • Ompok siluroides Lacépède, 1803
  • Ompok sindensis (Day, 1877)
  • Ompok supernus Ng, 2008[4]
  • Ompok urbaini (Fang & Chaux, 1949)
  • Ompok weberi (Hardenberg, 1936)

Việt Nam, cá trèn là một trong những loại cá ngon ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hàng năm, cứ theo mùa nước lũ, cá trèn ở Biển hồ Campuchia lại xuôi dòng Mê Kông về hạ nguồn đồng bằng này sinh sôi phát triển. Cá trèn ở vùng này có ba loại là cá trèn bầu (Ompok bimaculatus), cá trèn răng (Belodontichthys truncatus) và cá trèn kết (Belodotichthys dinema), trong đó ngon nhất lại là trèn bầu, bởi cá thịt nhiều, ngon ngọt, ít xương và 2 cục thịt nạc gù trên sống lưng, còn phải kể đến phần bụng béo ngậy của cá.[5]

Chú thích

  1. Ferraris, Carl J., Jr. (2007). "Checklist of catfishes, recent and fossil (Osteichthyes: Siluriformes), and catalogue of siluriform primary types" (PDF). Zootaxa. Quyển 1418. tr. 1–628. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Các loài trong Ompok trên FishBase. Phiên bản tháng 8 năm 2013.
  3. 1 2 Ng, H.H. (2013): Ompok karunkodu, a new catfish (Teleostei: Siluridae) from southern India. Zootaxa, 3694 (2): 161–166.
  4. Ng, Heok Hee (2008). "Ompok supernus, a new catfish (Teleostei: Siluridae) from Borneo". Zootaxa. Quyển 1877. tr. 59–68.
  5. Cá trèn muối chiên

Tham khảo