Bước tới nội dung

Oleh Protasov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Oleh Protasov
Thông tin cá nhân
Ngày sinh4 tháng 2, 1964 (62 tuổi)
Nơi sinhDnipropetrovsk, Ukraina
Vị tríTiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
NămĐộiST(BT)
1982-1987Dnipro Dnipropetrovsk
1988-1990Dynamo Kyiv
1990-1993Olympiacos
1994-1995Gamba Osaka
1996-1998Veria
1998-1999Proodeftiki
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
NămĐộiST(BT)
1984-1991Liên Xô
1994Ukraina
Thành tích huy chương
Đại diện cho Liên Xô
Huy chương bạc – vị trí thứ haiGiải bóng đá vô địch châu Âu1988
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Oleh Valeriyovych Protasov (tiếng Ukraina: Олег Валерійович Протасов; sinh ngày 4 tháng 2 năm 1964) là một cựu cầu thủ bóng đá người UkrainaLiên Xô, từng thi đấu ở vị trí tiền đạo. Ông là một cầu thủ chủ chốt của đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô trong suốt thập niên 80; với 28 bàn thắng, ông là người ghi bàn nhiều thứ hai trong lịch sử đội tuyển Liên Xô, chỉ sau Oleg Blokhin với 42 bàn. Cũng cần lưu ý rằng tên của ông thường được viết là "Oleg" trong hầu hết các danh sách thi đấu quốc tế, đặc biệt là trong thời kì ông còn thi đấu.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Oleh Protasov bắt đầu chơi bóng từ năm 8 tuổi tại quê nhà Dnipropetrovsk, trong màu áo câu lạc bộ Dnipro Dnipropetrovsk, nơi ông thi đấu đến năm 1987. Năm 1987, Protasov chuyển sang thi đấu cho Dynamo Kyiv, một trong những đội bóng lớn của Liên XôUkraina. Trong thời gian thi đấu tại Liên Xô, ông giành chức vô địch Giải Vô địch Quốc gia Liên Xô (Soviet Top League) hai lần và được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất Liên Xô năm 1987. Ông ghi được tổng cộng 125 bàn thắng tại Giải Vô địch Quốc gia Liên Xô, trở thành chân sút xuất sắc thứ tám trong lịch sử giải đấu.

Sau khi Liên Xô tan rã, Oleh Protasov có cơ hội thi đấu ở nước ngoài. Năm 1990, ông gia nhập câu lạc bộ Olympiacos Piraeus của Hi Lạp. Sau khi rời Olympiacos vào năm 1994, ông tiếp tục thi đấu cho Gamba Osaka (Nhật Bản), Veria FC và cuối cùng là Proodeftiki FC (Hy Lạp), nơi ông giải nghệ vào năm 1999.

Sự nghiệp quốc tế

Protasov đã thi đấu 68 trận cho đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô, trong đó có các kì World Cup 19861990, cũng như Euro 1988, nơi ông ghi được hai bàn thắng. Sau khi Liên Xô tan rã, ông cũng có một lần ra sân cho đội tuyển bóng đá quốc gia Ukraina vào năm 1994.

Năm 1983, Protasov tham gia Đại hội Thể thao Mùa hè của các Dân tộc Liên Xô (Spartakiad), đại diện cho Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina.

Sự nghiệp huấn luyện

Sau khi giải nghệ, Protasov chuyển sang làm huấn luyện viên và đã dẫn dắt Olympiacos Piraeus giành chức vô địch Hi Lạp năm 2003. Năm 2005, ông dẫn dắt đội bóng România, Steaua București.

Dnipro Dnipropetrovsk

Tháng 12 năm 2005, Oleh Protasov trở về Ukraina để dẫn dắt đội bóng quê nhà Dnipro Dnipropetrovsk, sau màn trình diễn ấn tượng tại UEFA Cup cùng Steaua București. Protasov rời đội bóng theo ý muốn cá nhân và vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với toàn đội cùng ban lãnh đạo câu lạc bộ. Ở mùa giải đầu tiên 2005–2006 dẫn dắt Dnipro, Protasov giúp đội bóng kết thúc ở vị trí thứ sáu tại Giải Ngoại hạng Ukraina. Mùa giải tiếp theo 2006–2007, ông giúp Dniprocải thiện thành tích khi đội bóng cán đích thứ tư. Ở mùa giải 2007–2008, đội bóng của ông bất ngờ dẫn đầu cuộc đua vô địch trước kì nghỉ đông, nhưng phong độ sa sút trong nửa sau mùa giải khiến Dnipro lại xếp thứ tư. Ngày 29 tháng 8 năm 2008, ông bị sa thải sau thất bại đáng thất vọng trước AC Bellinzona ở vòng loại UEFA Cup.

Kuban Krasnodar

Sau đó, Protasov nhận lời dẫn dắt FC Kuban Krasnodar, đội bóng ở vùng gần đó tại Nga. Kuban vừa xuống hạng và thi đấu ở Giải Hạng nhất Nga. Dưới sự dẫn dắt của Protasov, đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai, hơn đội xếp thứ ba đến 8 điểm và giành quyền thăng hạng lên Giải Ngoại hạng Nga. Tuy nhiên, do khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 làm giảm đáng kể ngân sách của câu lạc bộ, Protasov và Kuban đồng thuận chia tay vào ngày 19 tháng 11 năm 2008.

Iraklis Thessaloniki

Năm 2009, ông ký hợp đồng 2 năm với Iraklis Thessaloniki, nhận mức lương 400.000 euro mỗi năm. Tuy nhiên, ngày 30 tháng 10 cùng năm, đội bóng thông báo chấm dứt hợp đồng với Protasov sau 5 trận thua liên tiếp ở Giải Vô địch Quốc Gia Hi Lạp và cúp quốc gia.

Astra Giurgiu

Ngày 13 tháng 10 năm 2014, Oleh trở thành huấn luyện viên của FC Astra Giurgiu. Ông bị sa thải vào ngày 2 tháng 3 năm 2015.

Aris Thessaloniki

Protasov từng đồng ý ký hợp đồng 3 năm với Aris Thessaloniki, nhưng sau khi Arvanitidis – trưởng bộ phận bóng đá của câu lạc bộ bị sa thải, đội bóng nghiệp dư Aris đã hủy hợp đồng chỉ sau 15 phút công bố.

Đời tư

Protasov kết hôn với Natalia (nhũ danh Lemeshko), con gái của Yevhen Lemeshko. Ông đã nhập quốc tịch Hi Lạp và có thể nói tiếng Hi Lạp cùng với tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Ukraina bản ngữ của mình

Thống kê sự nghiệp

Cấp câu lạc bộ

Số trận thi đấu và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộMùa giảiGiải đấuCúp Quốc giaCúp Châu lụcTổng
Số lần ra sânSố bàn thắngSố lần ra sânSố bàn thắngSố lần ra sânSố bàn thắngSố lần ra sânSố bàn thắng
Dnipro Dnipropetrovsk198241000041
19832172000237
1984341722604219
1985333521644140
1986231711202618
1987301843003421
Dynamo Kyiv1988291152003413
198926762313510
1990161211001713
Olympiakos1990–91291121003112
1991–92211563002718
1992–93241493413718
1993–94984110149
Gamba Osaka1994271144303415
1995281300002813
Veria19973044100345
19983271000337
Proodeftiki19982850000285
Tổng sự nghiệp4442135325256522244

Cấp quốc tế

Số trận thi đấu và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đổi tuyển quốc giaNămSố lần ra sânSố bàn thắng
Liên Xô198452
1985128
198630
198792
19881810
198983
1990113
199121
Tổng6829
Ukraina199410
Total10

Bảng tỷ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Liên Xô trước, cột tỷ số cho biết kết quả sau mỗi bàn thắng của Protasov.

Danh sách các bàn thắng quốc tế của Oleh Protasov
Thời gianĐịa điểmĐối thủTỉ sốKết quảGiải đấu
115 tháng năm 1984Kouvolan keskuskenttä, Kouvola, Phần LanPhần Lan3–13–1Giao hữu
22 tháng sáu 1984Wembley Stadium (1923), London, AnhAnh2–02–0Giao hữu
328 tháng một 1985Maharaja College Stadium, Kochi, Ấn ĐộIran2–02–0Cúp Nehru 1985
427 tháng ba 1985Boris Paichadze Stadium, Tbilisi, Soviet UnionÁo2–02–0Giao hữu
52 tháng năm 1985Luzhniki Stadium, Moscow, Soviet Union Thụy Sĩ1–04–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1986
62 tháng năm 1985Luzhniki Stadium, Moscow, Soviet Union Thụy Sĩ2–04–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1986
75 tháng sáu 1985Idrætsparken, Copenhagen, Đan MạchĐan Mạch1–22–4Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1986
87 tháng tám 1985Luzhniki Stadium, Moscow, Soviet UnionRomânia1–02–0Giao hữu
925 tháng chín 1985Luzhniki Stadium, Moscow, Soviet UnionĐan Mạch1–01–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1986
1016 tháng mười 1985Luzhniki Stadium, Moscow, Soviet UnionCộng hòa Ireland2–02–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1986
1123 tháng chín 1987Luzhniki Stadium, Moscow, Soviet UnionHi lạp2–03–0Giao hữu
1228 tháng mười 1987Lokomotiv Stadium (Tavriya), Simferopol, Soviet UnionIceland2–02–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá châu Âu 1988
1323 tháng ba 1988Olympic Stadium (Athens), Athens, Hi lạpHi lạp1–04–0Giao hữu
1423 tháng ba 1988Olympic Stadium (Athens), Athens, Hi lạpHi lạp3–04–0Giao hữu
1523 tháng ba 1988Olympic Stadium (Athens), Athens, Hi lạpHi lạp4–04–0Giao hữu
1631 tháng ba 1988Olympic Stadium (Berlin), Berlin, West GermanyArgentina3–14–2Giải Tứ Hùng
1731 tháng ba 1988Olympic Stadium (Berlin), Berlin, West GermanyArgentina4–24–2Giải Tứ Hùng
1827 tháng tư 1988Štadión Antona Malatinského, Trnava, Tiệp KhắcTiệp Khắc1–11–1Giao hữu
191 tháng sáu 1988Lokomotiv Stadium (Moscow), Moscow, Soviet UnionBa Lan2–12–1Giao hữu
2015 tháng sáu 1988AWD-Arena, Hanover, West GermanyCộng hòa Ireland1–11–1Vòng bảng Giải Vô địch Bóng đá châu Âu 1988
2122 tháng sáu 1988Neckarstadion, Stuttgart, West GermanyÝ2–02–0Bán kết Giải Vô địch Bóng đá châu Âu 1988
2227 tháng mười một 1988Al-Sadaqua Walsalam Stadium, Kuwait City, KuwaitKuwait1–02–0Giao hữu
2326 tháng tư 1989Olimpiysky National Sports Complex, Kyiv, Soviet UnionĐông Đức3–03–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1990
2415 tháng mười một 1989Lokomotiv Stadium (Tavriya), Simferopol, Soviet UnionThổ Nhĩ Kì1–02–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1990
2515 tháng mười một 1989Lokomotiv Stadium (Tavriya), Simferopol, Soviet UnionThổ Nhĩ Kì2–02–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1990
2624 tháng hai 1990Stanford Stadium, Palo Alto, Hoa Kì of AmericaHoa Kì3–13–1Giao hữu
2728 tháng ba 1990Olimpiysky National Sports Complex, Kyiv, Soviet UnionHà Lan1–02–1Giao hữu
2818 tháng sáu 1990Stadio San Nicola, Bari, ÝCameroon1–04–0Vòng bảng Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 1990
2913 tháng mười một 1991GSZ Stadium, Larnaca, SípSíp1–03–0Vòng loại Giải Vô địch Bóng đá châu Âu 1992

Danh hiệu

Dnipro Dnipropetrovsk

  • Vô địch Giải Vô địch Quốc gia Liên Xô: 1983
  • Vô địch Cúp Liên đoàn Liên Xô: 1986

Dynamo Kyiv

  • Vô địch Giải Vô địch Quốc gia Liên Xô: 1990
  • Vô địch Cúp Liên Xô: 1989–1990

Olympiacos

  • Vô địch Cúp Quốc gia Hi Lạp: 1991–1992
  • Vô địch Siêu cúp Hi Lạp: 1992

Đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô

Danh hiệu cá nhân

  • Cầu thủ Đông Âu xuất sắc nhất mùa giải của ADN: 1985
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Liên Xô: 1987
  • Vua phá lưới Giải Vô địch Quốc gia Liên Xô: 1985, 1987, 1990
  • Chiếc giày bạc UEFA: 1984
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất România do Gazeta Sporturilor bầu chọn: 2005

Liên kết ngoài