Obsessed (bài hát của Mariah Carey)
| "Obsessed" | ||||
|---|---|---|---|---|
![]() | ||||
| Đĩa đơn của Mariah Carey | ||||
| từ album Memoirs of an Imperfect Angel | ||||
| Phát hành | 16 tháng 6 năm 2009 | |||
| Thu âm | 2009 | |||
| Thể loại | ||||
| Thời lượng | 4:02 | |||
| Hãng đĩa | Island | |||
| Sáng tác |
| |||
| Sản xuất |
| |||
| Thứ tự đĩa đơn của Mariah Carey | ||||
| ||||
"Obsessed" là một bài hát của nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ viết nhạc người Mỹ Mariah Carey, được hãng đĩa Island phát hành làm đĩa đơn mở đường cho album phòng thu thứ mười hai của cô, Memoirs of an Imperfect Angel (2009) vào ngày 16 tháng 6 năm 2009. Nữ ca sĩ đồng sản xuất bài hát này với The-Dream và Tricky Stewart. Đây là một ca khúc thuộc thể loại R&B và hip hop, sử dụng đoạn bassline dồn dập,[1] những tiếng vỗ tay, đi kèm với đó là giọng hát được xử lí bởi Auto-Tune của Carey. Là bài hát thứ hai nằm trong album, nhạc phẩm kể về tâm trạng khó xử của Carey khi đứng trước những lời đồn đoán, về mối quan hệ tình cảm giữa mình và nam rapper Eminem, mặc dù anh không được đề cập trực tiếp trong những câu hát.
"Obsessed" nhận được nhiều lời phản hồi tích cực từ giới mộ điệu âm nhạc. Họ cho rằng đây là một bước đột phá đến từ Memoirs of an Imperfect Angel. Tuy đánh giá cao về phong cách sáng tác và nhịp điệu mạnh mẽ của bản nhạc, một số cây bút lại có những lời chỉ trích nhất định về việc lạm dụng công cụ Auto-Tune trong giọng hát của Carey. Tại thời điểm phát hành, bài hát là trung tâm của sự tranh cãi, khi giới phê bình và các phương tiện truyền thông khẳng định rằng Carey dường như đang muốn nhắm đến rapper người Mỹ Eminem, người đã từng nhiều lần đề cập đến cô trong những bài hát của anh với thái độ tiêu cực. Về sau, Eminem đã phát hành bài hát "The Warning" như một lời đáp trả.
"Obsessed" thành công đạt đến vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng Hoa Kỳ Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ 27 của Carey đã lọt vào top 10 tại bảng. Với thành tích này, Carey đồng hạng 5 trong danh sách những nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn lọt vào top 10 nhất, ngang hàng với Janet Jackson và Elton John. Trên thị trường quốc tế, bài hát đã không được phát hành tại Châu Âu, khi hãng thu Island quyết định ưu tiên cho đĩa đơn thứ hai của album, "I Want to Know What Love Is". "Obsessed" cũng đã nhanh chóng lọt được vào top 10 tại Pháp,Ý; top 20 tại Úc, Bỉ, Canada và Nhật.
Brett Ratner, cộng sự lâu năm của Carey, phụ trách đạo diễn video âm nhạc cho "Obsessed". Trong suốt đoạn clip, Carey hóa thân thành chính bản thân mình và một người đàn ông bám đuôi trong bộ áo khoác xám, quần thể thao; hay trong bộ đồ nhân viên khách sạn ở nhiều phân đoạn khác. Video được quay chủ yếu tại Khách sạn Plaza và trên các con phố lối hẻm của thành phố New York. Sau khi một vài hình ảnh của Carey tại trường quay bị rò rỉ, nhiều trang báo lá cải lập tức đối chiếu trang phục kẻ bám đuôi của Carey với bộ đồ quen thuộc của Eminem. Hai video khác nhau đã được thực hiện cho "Obsessed", một cho bản gốc; một cho bản remix, với sự góp giọng của nam rapper người Mỹ Gucci Mane. Carey đã trình diễn bài hát trên các chương trình truyền hình khác nhau, cũng như tại chuyến lưu diễn Angels Advocate Tour (2009-10) của mình.
Tranh cãi
Bối cảnh
Năm 2001, Carey quyết định dấn thân vào con đường điện ảnh với vai diễn đầu tay của mình trong Glitter.[2][3] Trớ trêu thay, bộ phim nhận lại nhiều gạch đá[2][3] dẫn tới việc hãng thu Virgin rút hợp đồng 100 triệu đô của mình với Carey, bù lại trả cho cô 49 triệu đô tiền bồi thường.[2] Cô cũng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống thường ngày và đã có những hành vi thất thường khi xuất hiện trước mặt công chúng, khiến cô buộc phải nhập viện.[4][5] Trong khoảng thời gian này, nam rapper người Mỹ Eminem thừa nhận rằng mình đã hẹn hò với Carey trong vòng sáu tháng, tuy nhiên cô lại phủ nhận điều này.[6] Về sau, anh đã nhiều lần nhắc đã đến tên Carey trong những bài hát của anh với thái độ tiêu cực, bởi anh cảm thấy tức tối khi chính cô đã phủ nhận mối quan hệ của hai người.[7]
Vào ngày 15 tháng 5 năm 2009, Eminem cho ra mắt album phòng thu thứ sáu của mình, Relapse. Album chứa một bản nhạc mang tên "Bagpipes from Baghdad",[8] nơi anh đề cập đến những lời phủ nhận của Carey. Trong những câu từ của bài hát, Eminem bày tỏ rằng anh còn chưa nói hết nhưng điều mà mình muốn: "I want another crack at ya"[a] và "Nick Cannon better back the fuck up. I'm not playing, I want her back, you punk."[b][8] Sau khi bài rap được trình làng, Cannon, người chồng lúc bấy giờ của Carey, đã lên tiếng bảo vệ nữ ca sĩ cũng như bày tỏ sự ghê tởm của mình đối với Eminem.[9] Nam rapper đã phản hồi lại với một thái độ mỉa mai, đính chính rằng ca khúc thực sự nhằm "chúc cho cặp đôi những điều tốt đẹp nhất", và đây cũng chỉ là một sự hiểu lầm.[10] Chia sẻ với đài BBC Radio 1, anh giải thích mặc dù bài hát chứa một câu từ có phần hơi "ác nghiệt", anh chỉ đang muốn ý tốt.[10] Nam rapper còn cho biết anh tôn trọng lời hồi đáp của Nick Cannon, và cũng đoán trước được Cannon sẽ đứng lên bảo vệ cho vợ của mình.[10]
Nhạc và lời
"Obsessed" là một bản nhạc dài 4 phút và 2 giây mang đậm âm hưởng của hai thể loại R&B và hip hop.[13] Bài hát sử dụng một "đoạn bassline dồn dập",[14] nổi bật với những tiếng vỗ tay, đi kèm với đó là giọng hát được điều chỉnh qua công cụ Auto-tune của Carey.[15] Joey Guerra của tạp chí Houston Chronicle mô tả lối sản xuất của bài hát là một "bữa tiệc auto-tune thác loạn với những giọng hát mang tính mời gọi và những câu nói dễ thương của Mariah."[15] Theo bản phổ nhạc do Sony/ATV Music Publishing đăng tải trên Musicnotes.com, "Obsessed" là một nhạc phẩm được sáng tác tại cung Đô thứ, với nhịp độ trung bình đạt 84 nhịp mỗi phút.[16] Giọng ca của Carey nằm trong khoảng âm vực từ nốt trầm nhất là B♭3 đến nốt cao nhất là C7.[16] Được chính nữ ca sĩ đồng sáng tác với The-Dream và Tricky Stewart, bản nhạc có nội dung kể về tâm trạng khó xử của cô khi phải đương đầu với một kẻ bám đuôi.
Tại thời điểm phát hành, giới mộ điệu âm nhạc đã nhận thấy rằng "Obsessed" có phần lời mô tả về Eminem, cho biết Carey dường như đang muốn nhắm thẳng vào sự "ám ảnh" của nam rapper đối với cô, mặc dù cô chưa bao giờ đề cập đến tên anh trong lời bài hát.[17] Ca khúc mở đầu với câu nói kinh điển từ bộ phim năm 2004 Mean Girls, "I was like, why are you so obsessed with me?"[c], trước khi nhạc chạy.[17] Khi đoạn verse đầu tiên được cất lên, Carey đã thuật lại những lời nói dối liên hoàn của nhân vật trong bài hát: "All up in the blogs sayin' we met at a bar / When I don't even, know who you are / Sayin' you up in my house sayin' you up in my car / When you in L.A. and I'm at Jermaine's."[d][18] Hơn nữa, cô còn cho biết rằng kẻ bám đuôi đang trong cơn nghiện ngập: It must be the weed, it must be the E / 'Cause you be poppin', heard you get it poppin'."[e][18] Trong phần điệp khúc, Carey còn đương đầu với tên này, hỏi: Why are you so obsessed with me? / Boy I wanna know / Lying that your sexing with me / When everybody knows/ It's clear that you're upset with me / Oh, Oh, Oh, finally found a girl that you couldn't impress / Last man on the earth still couldn't get this."[f][18] Giới phê bình còn khen ngợi phong cách sáng tác của Carey trong đọan verse thứ hai, nhấn mạnh các câu hát, phải kể đến như: You're a mom & pop, I'm a corporation / I'm the press conference, you're a conversation", [g]"cho rằng nam rapper không xứng đôi với cô".[15][18]
Đánh giá chuyên môn
| Đánh giá chuyên môn | |
|---|---|
| Nguồn đánh giá | |
| Nguồn | Đánh giá |
| Digital Spy | |
| Stereogum | 8/10[20] |
"Obsessed" nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới mộ điệu âm nhạc tại thời điểm phát hành. Tuy đánh giá cao về phong cách sáng tác và nhịp điệu mạnh mẽ của bản nhạc, nhiều cây bút lại có những lời chỉ trích nhất định về việc lạm dụng công cụ Auto-Tune trong giọng hát của Carey. Daniel Kreps của tạp chí Rolling Stone cho rằng "về mặt nội dung ca từ và âm nhạc, bài hát với nhịp điệu trung bình này ăn đứt các đĩa đơn từ E=MC²."[21] Cây bút Michaelangelo Matos của The A.V. Club ca ngợi cách dùng từ thông minh của bài hát, đồng thời gọi nó là một "bản diss tinh quái gửi đến Eminem tội lan truyền những lời đồn thổi sai lệch về mối tình của họ."[22] Dù phê phán Memoirs of an Imperfect Angel bởi nó chứa quá nhiều bản nhạc nhịp độ trung bình, James Reed của tạp chí The Boston Globe đã chọn "Obsessed" làm bài nổi bật nhất, nhờ vào những câu từ sáng suốt và phần sản xuất mạnh mẽ của nó.[23] Monica Herrera đến từ tạp chí Billboard có những nhận định tích cực về ca khúc, ca ngợi những câu chữ của Carey trong ca khúc, cho rằng chúng thật "hài hước".[24] Leah Greenblatt của tạp chí Entertainment Weekly coi bản nhạc như một "lời xua đuổi táo bạo mang đậm chất synth",[25] trong khi nhà phê bình Alex Macpherson của tờ The Guardian mô tả bài hát là "tự mãn" và "châm biếm".[26] Sal Cinquemani từ Slant Magazine cho biết "bộ điệu" [của 'Obsessed'] thật là quyến rũ".[27] Chấp bút cho thời báo The New York Times, Jon Caramanica nhận xét đây là bài nhạc nổi trội nhất so với các bài khác trong album.[28] Theo quan điểm của Caramanica, mặc dù toàn bộ album được sản xuất bởi Carey, The-Dream and Tricky Stewart, những người mà anh mô tả là "bậc thầy của sự bù trừ, giúp nâng tiến những người nghệ sĩ xoàng — chẳng hạn như chính bản thân The-Dream hay Rihanna, trên 'Umbrella' — thành một thứ gì đó siêu phàm hơn",[28] "Obsessed" lại nghe "kiểu giống phong cách của Dr.Dre, và nó là một ngoại lệ tiêu biểu so với các bài khác trong Memoirs of an Imperfect Angel."[28]
Ann Powers của thời báo Los Angeles Times gọi bài hát là một "bản nhạc hung hăng".[29] MTV News gọi ca khúc là một ứng cử viên nặng kí cho danh hiệu ca khúc "hay nhất mùa hè", viết: "Mimi quay trở lại, lần này với một lời xua đuổi được tinh chỉnh bởi Auto-Tune gửi tới những tay đào hoa nửa mùa (và Eminem?) mà có lẽ sẽ trở thành bản nhạc cho hàng triệu đôi tình nhân mùa hè cũng như là những tên say xỉn. Bóng bẩy, mượt mà và 'đậm chất nhạc đô thị' một cách đầy kiên quyết, Mariah trả đũa. Đài phát thanh của bạn đã được cảnh cáo."[30] Nhà phê bình Stephen Thomas Erlewine của AllMusic cho rằng bài hát là "ca khúc vượt trội nhất" trong Memoirs of an Imperfect Angel,[31] trong khi Amos Barshad đến từ The New York Times xếp nó ở vị trí thứ năm trong danh sách những ca khúc xuất sắc nhất mùa hè.[32] Cây bút Todd Marten của Los Angeles Times cho rằng: "đây là một Mimi hăm hở hơn so với con người mà ta hay quen biết", cô cuối cùng "đã uốn nắn để hòa hợp với các trào lưu hiện nay" và đĩa đơn này "một lần nữa hiến trao nàng sẻ hót cho những nhà sản xuất của cô ấy."[33] Tại lễ trao giải thường niên ASCAP lần thứ 27, "Obsessed" đã thắng hạng mục "Bài hát được trình diễn nhiều nhất".[34]
Danh sách bài hát
Tải kix thuaa[35]
Digital download – remix[36]
US enhanced CD single[37]
European CD single[38]
US 12-inch vinyl[39]
| Obsessed (The Remixes)[40]
Memoirs of an Imperfect Angel bonus disc
|
Đội ngũ sản xuất
Đội ngũ sản xuất của "Obsessed" dựa trên phần bìa ghi chú của Memoirs of an Imperfect Angel.[41]
- Mariah Carey – sáng tác, sản xuất, hát
- Terius Nash – sáng tác, sản xuất
- Christopher Stewart – sáng tác, sản xuất
- Victor Alexander – sản xuất
- Brian Garter – thu âm
- Brian Thomas – thu âm
- Jaysen-Joshua Fowler – phối khí
- Dave Pensado – phối khí
- Bernie Grundman – hoàn chỉnh âm thanh
Xếp hạng
Xếp hạng tuần
| Xếp hạng tháng
Xếp hạng cuối năm
|
Chứng nhận
| Quốc gia | Chứng nhận | Số đơn vị/doanh số chứng nhận |
|---|---|---|
| Úc (ARIA)[83] | Vàng | 35.000^ |
| Brasil (Pro-Música Brasil)[84] | 3× Bạch kim | 180.000‡ |
| New Zealand (RMNZ)[85] | Bạch kim | 30.000‡ |
| Anh Quốc (BPI)[86] | Bạc | 200.000‡ |
| Hoa Kỳ (RIAA)[87] | 4× Bạch kim | 4.000.000‡ |
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng. | ||
Lịch sử phát hành
| Khu vực | Ngày | Định dạng |
|---|---|---|
| Hoa Kỳ | 16 tháng 6 năm 2009 | Công chiếu đài phát thanh[88] |
| 22 tháng 6 năm 2009 | Rhythmic radio[89] | |
| Toàn cầu | 7 tháng 7 năm 2009 | Tải kĩ thuật số[90] |
| Hoa Kỳ | 21 tháng 7 năm 2009 | Tải kĩ thuật số – bản remix với Gucci Mane[91] |
| 27 tháng 7 năm 2009 | Mainstream radio[92] | |
| 11 tháng 8 năm 2009 | Đĩa CD[93] | |
| Pháp | 21 tháng 9 năm 2009 | Đĩa CD[94] |
Ghi chú
- ↑ tạm dịch: Tao muốn một lần nữa với mày
- ↑ tạm dịch: Nick Cannon tốt nhất là hãy nên tránh ra, tao đéo đùa đâu, tao muốn ả ta trở lại, thằng đần
- ↑ tạm dịch: Chị hỏi cái, sao cưng u mê chị dữ vậy?
- ↑ tạm dịch: Đầy thứ blog trên mạng đồn chị gặp cưng ở bar / Dù chị còn chẳng biết cưng là ai nữa / Rồi tới đồn chị lên xe cưng, để cưng dắt về nhà / Nhưng cưng ở tận bên L.A, còn chị thì lại ở nhà Jermaine.
- ↑ tạm dịch: Hẳn là do cưng chơi cần, do cưng cắn thuốc / Cưng chơi đã chưa, nghe đâu cưng chơi tuốt.
- ↑ tạm dịch: Sao cưng cuồng chị dữ vậy? / Chị muốn biết ghê / Bịa là cưng dắt được chị lên giường / Trong khi mọi người ai cũng biết / Cuối cùng cưng cũng tìm ra được một cô nàng mà mình chẳng thể lấy le được / Tới thằng đàn ông duy nhất trên Trái Đất này cũng không thể đụng vào chị được đâu.
- ↑ tạm dịch: Cỡ cưng chắc cũng được cái chi nhánh nhỏ, chị đây là cả một tập đoàn / Chị bày biện họp báo, cưng chỉ tầm mấy cái phỏng vấn loàng xoàng
Tham khảo
- ↑ Rambarran, Shara (2023). "Proceed with Caution": Mariah Carey – the Ultimate Diva in Popular Music and Culture? in Diva: Feminism and Fierceness from Pop to Hip-Hop (bằng tiếng Anh). eds., Fairclough, K., Halligan, B., Hodges Persley, N., Rambarran., S. New York: Bloomsbury. ISBN 9781501368257. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 3 Meyer, Andre (ngày 13 tháng 12 năm 2005). "Carey On". CBC.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2011.
- 1 2 "Bands A-Z: Mariah Carey". MTV. Viacom. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2011.
- ↑ Anderson, Joan (ngày 6 tháng 2 năm 2006). "Carey, On!". The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "Mariah Carey Released After Breakdown". The Free Lance–Star. ngày 9 tháng 8 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2011.
- ↑ Clark, Norm (ngày 19 tháng 7 năm 2001). "Another Reason for SLT Series". St. Petersburg Times. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ "May I Have All Your Attention Please?". The Spokesman-Review. ngày 19 tháng 11 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- 1 2 Martins, Lisa (ngày 19 tháng 6 năm 2009). "Cannon Slams 'Disrespectful' Eminem Song". Digital Spy. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011.
- ↑ Helling, Steve (ngày 11 tháng 5 năm 2009). "Nick Cannon Blasts Eminem for 'Disrespecting' Mariah Carey". People. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011.
- 1 2 3 Martins, Lisa (ngày 19 tháng 6 năm 2009). "Eminem: 'Cannon Got Carey Track Wrong'". Digital Spy. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênthump - ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênchron - ↑ DeRogatis, Jim (ngày 29 tháng 9 năm 2009). "Fashionably Flashy but Soulleslast". Chicago Sun-Times. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Freeman, Mark (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "Mariah Carey Returns With 'Memoirs of an Imperfect Angel'". The Collegian. University of Richmond. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011.
- 1 2 3 Guerra, Joey (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "Carey's 'Memoirs' Hits an Early Stride". Houston Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011.
- 1 2 Carey, Mariah; Stewart, Christopher; Terius Nash (Composers and Lyricists) (2009). "Obsessed: Mariah Carey Digital Sheet Music" (Musicnotes). Musicnotes.comb. Alfred Music Publishing. MN0068511 (Product Number). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênobsessed2 - 1 2 3 4 Bell, Mike (ngày 17 tháng 6 năm 2009). "Mariah Attacks Eminem in Song". Calgary Sun. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Levine, Nick (ngày 12 tháng 8 năm 2009). "Mariah Carey: 'Obsessed'". Digital Spy. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2025.
- ↑ Breihan, Tom (ngày 14 tháng 4 năm 2023). "The Number Ones: Mariah Carey's 'Touch My Body'". Stereogum. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2025.
- ↑ Kreps, Daniel (ngày 16 tháng 6 năm 2009). "Mariah Carey Fires Back at Eminem in New Single "Obsessed"". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Matos, Michaelangelo (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "Memoirs of an Imperfect Angel". The A.V. Club. The Onion. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Reed, James (ngày 29 tháng 9 năm 2009). "On 'Angel,' Carey Returns to Glory of Her R&B Days". The Boston Globe. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Herrera, Monica (ngày 18 tháng 6 năm 2009). "Single Reviews". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Greenblatt, Leah (ngày 23 tháng 9 năm 2009). "Memoirs of an Imperfect Angel". Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Macpherson, Alex (ngày 19 tháng 11 năm 2009). "Mariah Carey: Memoirs of an Imperfect Angel". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Cinquemani, Sal (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "Mariah Carey: Memoirs of an Imperfect Angel". Slant Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- 1 2 3 Caramanica, Jon (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "New CDs". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Powers, Ann (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "Album Review: Mariah Carey's 'Memoirs of an Imperfect Angel'". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Montgomery, James (ngày 17 tháng 6 năm 2009). "Mariah Carey? Drake? Who Will Have The Summer Jam Of '09?". MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Erlewine, Stephen Thomas. "Mariah Carey: Memoirs of an Imperfect Angel". AllMusic. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Barshad, Amos (ngày 24 tháng 7 năm 2009). "Song of the Summer: Will Jay-Z Dominate?". The New York Times Company. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Martens, Todd (ngày 30 tháng 9 năm 2009). "Mariah Carey: Are We Obsessed?". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.
- ↑ "Mariah Carey Wins 2010 ASCAP Pop Music Awards". ASCAP. ngày 20 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
- ↑ "Obsessed". Spotify (bằng tiếng Anh). Mariah Carey. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - ↑ "Obsessed". Spotify (bằng tiếng Anh). Mariah Carey. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - ↑ "Obsessed (US enhanced CD single) by Mariah Carey". Discogs (bằng tiếng Anh). Mariah Carey. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - ↑ Obsessed (European CD single liner notes). Mariah Carey. Island Records. 2009. 0602527179230.
{{Chú thích ghi chú album}}: Quản lý CS1: tham số others trong cite AV media (liên kết) - ↑ "Obsessed (US 12-inch vinyl) by Mariah Carey". Discogs (bằng tiếng Anh). Mariah Carey. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - ↑ Obsessed (US maxi-single liner notes). Mariah Carey. Island Records. 2009. 16880-2.
{{Chú thích ghi chú album}}: Quản lý CS1: tham số others trong cite AV media (liên kết) - ↑ Carey, Mariah (2009). Memoirs of an Imperfect Angel (Liner Notes) (Compact Disc). Mariah Carey. New York: Island Records.
- ↑ "Australian-charts.com – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Anh). ARIA Top 50 Singles.
- ↑ "The ARIA Report, Week commencing 31 August 2009, Chart# 1245, p. 17" (PDF) (bằng tiếng Anh). Australian Recording Industry Association ARIA. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "Ultratop.be – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip.
- ↑ "Ultratop.be – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Pháp). Ultratop 50.
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Canadian Hot 100)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Canada CHR/Top 40)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Canada Hot AC)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Radio Top 100 Oficiální. IFPI Cộng hòa Séc. Ghi chú: Chọn 38. týden 2009.
- ↑ "Mariah Carey – Chart Search" (bằng tiếng Anh). Billboard European Hot 100 Singles cho Mariah Carey.[liên kết hỏng]
- ↑ "Lescharts.com – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Pháp). Les classement single.
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Global Dance Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Italiancharts.com – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Anh). Top Digital Download.
- ↑ "Billboard Japan Hot 100". Billboard Japan (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "Tipparade-lijst van week 40, 2009" [Tip parade list from week 40, 2009] (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Dutchcharts.nl – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Hà Lan). Single Top 100.
- ↑ "Charts.nz – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Anh). Top 40 Singles.
- ↑ "Urban Radio Chart October 11, 2009" (bằng tiếng Anh). RadioScope. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2010.
- ↑ "Media Forest – Know You Are On Air". Media Forest. ngày 5 tháng 10 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. Note: Chọn "Songs – TV". Các vị trí trong nước và quốc tế được xếp hạng cùng nhau dựa trên số lượt phát trước khi tạo thành bảng xếp hạng tổng thể.
- ↑ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda – Radio Top 100 Oficiálna. IFPI Cộng hòa Séc. Ghi chú: Chọn 36. týden 2009 trong mục ngày.
- ↑ "Swisscharts.com – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Đức). Swiss Singles Chart.
- ↑ "Official Singles Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company.
- ↑ "Official R&B Singles Chart Top 40" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company.
- ↑ "Upfront Club Top 40". Music Week (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 9 năm 2008. tr. 35.
- ↑ "Commercial Pop Top 30". Music Week (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 9 năm 2008. tr. 35.
- ↑ "Urban Top 30". Music Week (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 9 năm 2008. tr. 35.
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Hot 100)". Billboard (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Dance Club Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Dance Mix/Show Airplay)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Hot R&B/Hip-Hop Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Pop Songs)". Billboard (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Mariah Carey Chart History (Rhythmic)". Billboard (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Brasil Hot 100 Airplay (Set 21, 2009)". Billboard Brasil. Số 1. BPP Promoções e Publicações. tháng 10 năm 2009. tr. 79.
- ↑ "Brasil Hot Pop & Popular: Hot Pop Songs (Set 21, 2009)". Billboard Brasil. Số 1. BPP Promoções e Publicações. tháng 10 năm 2009. tr. 80.
- ↑ "End Of Year Charts – Top 50 Urban Singles 2009" (bằng tiếng Anh). ARIA. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018.
- ↑ "Brazilian Top 100 Year-End 2009" (bằng tiếng Anh). Crowley Broadcast Analysis. ngày 3 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Best of 2009: Canadian Hot 100". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ↑ "Best selling Digital singles in 2009 in France" (PDF) (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. tr. 30. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011.
- ↑ "台灣年度百大歌曲" (bằng tiếng Trung Quốc). HitFM. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Best of 2009: Hot 100". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ↑ "Hot R&B/Hip-Hop Songs – Year-End 2009". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Rhythmic Songs – Year-End 2009". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "ARIA Charts – Accreditations – 2009 Singles" (PDF) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2017.
- ↑ "Chứng nhận đĩa đơn Brasil – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Pro-Música Brasil. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "Chứng nhận đĩa đơn New Zealand – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Anh). Radioscope. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024. Nhập Obsessed trong mục "Search:".
- ↑ "Chứng nhận đĩa đơn Anh Quốc – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2021.
- ↑ "Chứng nhận đĩa đơn Hoa Kỳ – Mariah Carey – Obsessed" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Mariah Carey's Sexy New Single". MTV UK. ngày 16 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "FMQB: Radio Industry News, Music Industry Updates, Nielsen Ratings, Music News and more!". FMQB. ngày 27 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Mariah Carey's New Single 'Obsessed' Goes Up For Sale At All Digital Stores On July 7, 2009". Top40-Charts.com. New York, NY. ngày 7 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Obsessed- Single by Mariah Carey & Gucci Mane on iTunes". iTunes Store. US. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "CHR/Top 40". R&R. ngày 27 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2012.
- ↑ "Obsessed CD Single Available at Walmart! | News | Mariah Carey | Artists | Island | Island Def Jam". Island Def Jam. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Obsessed: Mariah Carey: Amazon.fr: Musique". Amazon.fr. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- Bài hát năm 2009
- Đĩa đơn năm 2009
- Bài hát của Mariah Carey
- Bài hát của Gucci Mane
- Đĩa đơn quán quân Billboard Hot Dance Club Songs
- Đĩa đơn quán quân Billboard Dance/Mix Show Airplay
- Video ca nhạc đạo diễn bởi Brett Ratner
- Bài hát do Mariah Carey sáng tác
- Bài hát do Tricky Stewart sáng tác
- Bài hát do The-Dream sáng tác
- Bài hát do Tricky Stewart sản xuất
- Bài hát về chủ nghĩa nữ giới
- Bài hát R&B đương đại
- Bài hát hip hop
- Đĩa đơn của Island Records

