Hiệt Lợi Khả hãn của Đông Đột Quyết và cùng cháu là Đột Lợi Khả hãn (A Sử Na Thập Bát Bật) xâm lược Nhà Đường nhưng Lý Thế Dân liên hệ với Đột Lợi và thuyết phục ông ta lui quân, cuộc xâm lược do đó không thực hiện được[8][2]
Đông Đột Quyết liên tục mở các cuộc tấn công biên giới phía bắc; thậm chí đôi khi còn tiến xa về phía nam đến tận Sơn Tây; lần quy mô nhất do Hiệt Lợi Khả hãn đích thân chỉ huy đánh vào Sóc Châu (thuộc bắc Sơn Tây) nhưng bị đẩy lui[2]
Hiệt Lợi Khả hãn của Đông Đột Quyết đem quân nam phạt chỉ còn cách Trường An vài dặm và chỉ rút lui sau khi Đường Thái Tông đồng ý tiến cống cho Đột Quyết.[2]
Nhà Đường chinh phạt Đột Quyết: Hiệt Lợi Khả hãn của Đông Đột Quyết bị đánh bại bởi tướng Lý Tịnh của nhà Đường và bị bắt bởi Lý Thế Tích nhưng được tha chết; Đông Đột Quyết trở thành chư hầu của Nhà Đường; Đường Thái Tông được tôn xưng là Thiên Khả hãn[2][11]
Quan hệ ngoại giao Trung Quốc - Nhật Bản: Nhật Bản cử đoàn sứ thần đầu tiên tới triều yết vua Nhà Đường[12]
Chiến dịch chống Thổ Dục Hồn của Đường Thái Tông: Đường Thái Tông bắt đầu chiến dịch chống lại Thổ Dục Hồn, một đế quốc ở phía tây của người Tiên Ti, và thu phục vùng đất này[18]
Nhà Đường xâm chiếm Yên Kỳ: Tướng Nhà Đường Quách Hiếu Khác tấn công Yên Kỳ và giành được thắng lợi nhưng Karasahr vẫn là chư hầu của Tây Đột Quyết[25]
Chiến tranh Cao Câu Ly–Đường lần thứ nhất: Vua Thái Tông đích thân dẫn đại quân xâm lược Cao Câu Ly nhưng phải rút lui sau thất bại tại An Thị (đông bắc Doanh Khẩu, Liêu Ninh)[12]
Vua Thái Tông bị bệnh nặng, có thể là do lạm dụng thuốc tiên để mong được trường sinh bất tử, rồi qua đời, hoàng tử Lý Trị lên kế ngôi và trở thành Đường Cao Tông[12]
Một văn bản in có niên đại sớm nhất xuất hiện tại Trường An: một đoạn của kinh Phật Đà Na Ly viết bằng tiếng Phạn, có tên là Vô Cấu tịnh quang đại đà la ni kinh (無垢淨光大陀羅尼經)[29]
653
Một người phụ nữ tự xưng là hoàng đế và nổi dậy khởi nghĩa, gây ra hỗn loạn trong nhiều tuần trước khi bị đánh bại và giết hại[30]
Chiến tranh Đường-Tây Đột Quyết: A Sử Na Hà Lỗ của Tây Đột Quyết bị đánh bại bởi Tô Định Phương của nhà Đường và bị giải về giam cầm đến hết đời ở Trường An; Tây Đột Quyết bị sáp nhập vào lãnh thổ Đường[32]
Thiên Thiện Khả hãn của Hậu Đột Quyết tiến hành công kích nhà Đường[57]
696
Thiên Thiện Khả hãn của Hậu Đột Quyết đánh bại Khiết Đan ở phía đông và tấn công nhà Đường[55]
Lý Tận Trung (Vô Thượng Khả hãn) của Khiết Đan cùng em rể Tôn Vạn Vinh nổi dậy chống nhà Đường và tấn công Hà Bắc; Lý qua đời không lâu sau đó và Tôn lên thay thế[58]
Văn bản in sớm nhất được biết đến để đọc, Lotus Sutra, được đề cập đến năm này[29]
706
Thiên Thiện Khả hãn của Hậu Đột Quyết nổi lên chống lại Nhà Đường[55]
707
Hoàng thái tử Lý Trọng Tuấn tiến hành đảo chính, giết Võ Tam Tư và bao vây cung điện; đảo chính thất bại và thái tử bị giết bởi quân lính của mình trên đường trốn chạy[63]
Thiên Thiện Khả hãn của Hậu Đột Quyết lại tấn công vào đất Đường[64]
Kim Thành công chúa viết thư cho Lalitaditya Muktapida của Đế quốc Karkoṭa xin tị nạn. Đáp lại ông liên lạc với Zabulistan và thành lập liên minh chống lại Thổ Phồn.[79]
724
Vương Quân Chuo mở cuộc tấn công Thổ Phồn và giành thắng lợi[76]
725
Quốc vương của Vu Điền nổi dậy nhưng ngay sau đó An Tây đô hộ phủ đánh bại ông ta và lập lên một vị vua khác[76]
Bì La Các (皮羅閣) thống nhất 6 vương quốc với sự ủng hộ của nhà Đường[87]
Hà Tâytiết độ sứ Thôi Hi Dật kí kết giao ước với tướng của Thổ Phồn ở Koko-nor, Yilishu, theo đó hai bên giảm bớt căng thẳng biên giới, để binh sĩ có thể trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất. Một con chó trắng bị giết để ăn thề.[88]
Đạo sĩ Mao Kua tường thuật trong Bình long nhận (Recognition of Recumbent Dragon) rằng bằng cách nung hỗn hợp Kali nitrat, âm khí hòa trận, trộn thêm lưu huỳnh, carbon, và vài kim loại khác có thể tạo ra vàng.[99]
Nhà Đường liên minh với Hồi Cốt đánh bại quân của Sử Triều Nghĩa và thu hồi Lạc Dương; binh sĩ Đường và Hồi Cốt tiến hành cướp bóc trong thành phố[108]
Dương Thanh nổi dậy và chiếm lấy thành Đại La[127]
821
Nhà Đường và Thổ Phồn kí một hiệp ước theo đó nhà Đường công nhận quyền bá chủ của Thổ Phồn tại khu vực phía tây cũng như các đất Lũng Hữu và Hà Tây. Những vùng này nay đều thuộc tỉnh Cam Túc[134]
Trấn Chiêu Nghĩa (phần lớn nằm ở nam Sơn Tây) lại được đưa về sự quản lý của chính quyền trung ương[140]
845
Hội Xương hủy Phật: Đường Vũ Tông tiến hành diệt Phật lần thứ ba và cũng là lần đàn áp nặng nề nhất nhằm vào Đạo Phật trong lịch sử Trung Quốc; Hỏa giáo và Minh giáo cũng bị đàn áp[140]
846
22 tháng 4
Vua Vũ Tông qua đời, có lẽ là do dính độc của bọn đạo sĩ luyện đơn; hoàng thúc Lý Thầm được hoạn quan lập làm đế và trở thành Đường Tuyên Tông[140]
Trương Nghĩa Triều chiếm Sa châu và hoàng đế nhà Đường tấn phong ông ta làm Tiết độ sứ Quy Nghĩa (歸義節度使) và Tào Nghị Kim làm quân sư cho ông ta
Một du khách Ả Rập ghi chép về việc sử dụng giấy vệ sinh ở Trung Hoa.
853
Đoàn Thành Thức xuất bản Dậu Dương tạp trở, một tiểu thuyết nói về văn hóa và truyền thuyết của Trung Quốc và nước ngoài; trong đó có thiên Diệp Hạn, một phiên bản ban đầu của truyện cổ tích Lọ Lem[cần dẫn nguồn]
858
Một cuộc nổi loạn nổ ra ở An Nam và nhanh chóng bị đánh bại[144]
Andrade, Tonio (2016), The Gunpowder Age: China, Military Innovation, and the Rise of the West in World History, Princeton University Press, ISBN978-0-691-13597-7.
Asimov, M.S. (1998), History of civilizations of Central Asia Volume IV The age of achievement: A.D. 750 to the end of the fifteenth century Part One The historical, social and economic setting, UNESCO Publishing
Barfield, Thomas (1989), The Perilous Frontier: Nomadic Empires and China, Basil Blackwell
Beckwith, Christopher I (1987), The Tibetan Empire in Central Asia: A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages, Princeton University Press
Bregel, Yuri (2003), An Historical Atlas of Central Asia, Brill
Chaffee, John W. (2015), The Cambridge History of China Volume 5 Part Two, Cambridge University Press
Chia, Lucille (2011), Knowledge and Text Production in an Age of Print: China, 900-1400, Brill
Drompp, Michael Robert (2005), Tang China And The Collapse Of The Uighur Empire: A Documentary History, Brill
Ebrey, Patricia Buckley; Walthall, Anne; Palais, James B. (2006), East Asia: A Cultural, Social, and Political History, Boston: Houghton Mifflin, ISBN0-618-13384-4
Golden, Peter B. (1992), An Introduction to the History of the Turkic Peoples: Ethnogenesis and State-Formation in Medieval and Early Modern Eurasia and the Middle East, OTTO HARRASSOWITZ · WIESBADEN
Skaff, Jonathan Karam (2012), Sui-Tang China and Its Turko-Mongol Neighbors: Culture, Power, and Connections, 580-800 (Oxford Studies in Early Empires), Oxford University Press
Taylor, K.W. (2013), A History of the Vietnamese, Cambridge University Press
Wang, Zhenping (2013), Tang China in Multi-Polar Asia: A History of Diplomacy and War, University of Hawaii Press
Whiting, Marvin C (2002), Imperial Chinese Military History, Writers Club Press
Wilkinson, Endymion (2012), Chinese History: A New Manual, Harvard University Asia Center for the Harvard-Yenching Institute
Wilkinson, Endymion (2015). Chinese History: A New Manual, 4th edition. Cambridge, MA: Harvard University Asia Center distributed by Harvard University Press. ISBN9780674088467.
Xiong, Victor Cunrui (2000), Sui-Tang Chang'an: A Study in the Urban History of Late Medieval China (Michigan Monographs in Chinese Studies), U OF M CENTER FOR CHINESE STUDIES, ISBN0892641371
↑Xiong 2008, tr.cix.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFXiong2008 (trợ giúp)
↑Xiong 2008, tr.434.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFXiong2008 (trợ giúp)
↑Czarnetzki, A.; Ehrhardt S. (1990). "Re-dating Chinese amalgam-filling of teeth in Europe". International Journal of Anthropology. Quyển5 số4. tr.325–332.
↑Regina Krahl, "Green Wares of Southern Trung Quốc" in Shipwreck: Tang Treasures và Monsoon Winds, ed. by Regina Krahl, John Guy, J. Keith Wilson, và Julian Raby. Singapore: National Heritage Board, 2010, p. 186