Bước tới nội dung

Nhiếp Sĩ Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhiếp Sĩ Thành
Chân dung Nhiếp Sĩ Thành trong Canh Tý Tân Hợi trung liệt tượng tán.
Tên bản ngữ
聂士成
Sinh1836
An Huy, nhà Thanh
Mất1900 (6364 tuổi)
Thiên Tân, nhà Thanh
ThuộcFlag of the Qing dynasty nhà Thanh
Năm tại ngũ1850–1900
Cấp bậcTướng
Tham chiến
  • Trận Thiên Tân 

Nhiếp Sĩ Thành (tiếng Trung: 聂士成; bính âm: Niè Shìchéng; Wade–Giles: Nieh Shih-ch'eng; 1836 – Tháng 7 năm 1900), tự Công Đình (功亭), thụy hiệu Trung Tiết (忠节), là danh tướng cuối thời Thanh thuộc Hoài quân.

Tiểu sử

Thân thế và binh nghiệp

Nhiếp Sĩ Thành chào đời tại Từ đường họ Nhiếp, thôn Tam Thập Phố, Cương Tập, Bắc Hương, Hợp Phì, tỉnh An Huy trong một gia đình nông dân. Vốn là võ sinh, mẹ ông có khí phách của liệt nữ, khi đã 70 tuổi vẫn có thể luyện võ. Đầu niên hiệu Đồng Trị (khoảng 1862), ông đi theo Hoài quân của Viên Giáp Tam[a] để đánh dẹp quân Niệp thăng dần lên đến Phó tướng. Sau đó ông gia nhập Hoài quân, giữ chức Bả tổng,[b] lập được công lớn trong việc bình định quân Thái Bình và quân Niệp. Khi quân Niệp được dẹp yên, ông lại được thăng lên Đề đốc. Triều đình bèn ban cho ông danh hiệu "Dũng sĩ Ba Đồ Lỗ" và được xưng tụng là một trong "Tam danh tướng hậu khởi của Hoài quân" cùng với Vương Hiếu Kỳ và Chương Cao Nguyên.

Trấn giữ Đài Loan và cứu viện Triều Tiên

Năm Quang Tự thứ 10 (1884), chiến tranh Pháp – Thanh bùng nổ, khi người Pháp chiếm giữ Cơ Long, ông dẫn quân vượt biển sang Đài Loan, nhiều lần giao chiến đánh lui quân địch. Sau đó, ông trở về Bắc Dương, thống lĩnh Khánh quân đồn trú tại Lữ Thuận. Năm Quang Tự thứ 17 (1891), sau khi lễ duyệt binh Hải quân kết thúc, ông được thăng lên phẩm cấp Đầu phẩm. Ông được điều động thống lĩnh các cánh Hoài quân và Luyện quân ở Lư Đài, đánh dẹp giáo phỉ[c] ở Triều Dương, Nhiệt Hà, bắt và chém được thủ lĩnh là Dương Duyệt Xuân, được thưởng Hoàng mã quải,[d] đổi dũng hiệu thành Ba Đồ Long A.[e]

Năm sau (1892), ông được phong chức Tổng binh trấn Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây nhưng vẫn ở lại Lư Đài để chỉnh đốn quân đội. Ông xin cưỡi ngựa một mình đi tuần tra biên giới, qua Đông Tam Tỉnh, khu vực phía Đông nước Nga, và tám đạo của Triều Tiên, vẽ lại bản đồ sông núi và những nơi hiểm yếu, viết thành sách Đông du kỷ trình. Năm Quang Tự thứ 20 (1894), trong chiến tranh Giáp Ngọ, ông cùng Đề đốc Diệp Chí Siêu dẫn Võ Nghị quân sang Triều Tiên cứu viện và đóng quân tại Nha Sơn. Tại khu vực Đại Cao Lĩnh, Liêu Đông, ông đánh tan cuộc tập kích của quân Nhật và giành được một trong số ít những chiến thắng của quân Thanh, nhờ đó được phong chức Đề đốc Trực Lệ. Sau chiến tranh, các đơn vị còn lại của Võ Nghị quân đóng quân tại Lư Đài. Nhiếp Sĩ Thành đã huấn luyện quân đội theo quân pháp của Đức và cất nhắc cả Trương Tác Lâm vào thời điểm đó. Năm Quang Tự thứ 24 (1898), chính quyền nhà Thanh đổi các đơn vị Bắc Dương quân thành Võ Vệ quân. 30 trại kỵ binh và bộ binh thuộc Võ Nghị quân của Nhiếp Sĩ Thành được cải tổ thành Võ Vệ tiền quân.

Tử chiến đến cùng trong Sự biến Canh Tý

Chân dung Nhiếp Sĩ Thành trước năm 1900.

Năm Quang Tự thứ 26 (1900), phong trào Nghĩa Hòa Đoàn phát triển nhanh chóng ở Sơn Đông và nhiều nơi khác, Tổng binh Dương Phúc Đồng cũng bị họ bị sát hại. Triều đình lệnh cho Nhiếp Sĩ Thành tùy cơ ứng biến tiễu trừ dù ông kiên quyết chủ trương trấn áp. Tháng 4, Nghĩa Hòa Đoàn phá hoại đường sắt ở Bảo Định. Ngày 30 tháng 5, ông được lệnh bảo vệ tuyến đường sắt Lư Bảo và tuyến Kinh-Tân. Khi Nghĩa Hòa Đoàn đốt cháy đường sắt ở Hoàng Thôn, một tiểu đội của quân Nhiếp đến ngăn cản liền bị họ tấn công, gây thương vong cho hàng chục người. Sau đó, ba nghìn đoàn viên Nghĩa Hòa Đoàn đã phá hoại đường ray tại Lang Phường. Nhiếp Sĩ Thành dẫn quân đến và bị tấn công, quân của ông đã phản công, giết chết 500 đoàn viên Nghĩa Hòa Đoàn. Bấy giờ, Đoan vương Tái Y và Đại học sĩ Cương Nghị đang nắm quyền đã hạ lệnh quở trách nghiêm khắc Nhiếp Sĩ Thành.

Tổng đốc Trực Lệ Dụ Lộc ra lệnh cho Nhiếp Sĩ Thành quay về Lư Đài, và ông đã dẫn quân về Thiên Tân. Lúc đó, có hơn hai vạn đoàn viên Nghĩa Hòa Đoàn ở Thiên Tân, thường xuyên xỉ nhục và đánh giết lính của Võ Vệ quân, nhưng Nhiếp Sĩ Thành ra lệnh cho binh sĩ dưới quyền kiềm chế, không được hành động thiếu suy nghĩ. Tuy nhiên, mối thù giữa quân của ông và Nghĩa Hòa Đoàn ngày càng sâu sắc. Quân cơ đại thần Vinh Lộc lo sợ quân của Nhiếp sẽ nổi loạn bèn viết thư an ủi, nói rằng quân phục Võ Vệ quân theo kiểu Tây nên dễ bị hiểu lầm. Nhiếp Sĩ Thành đã hồi âm: "Giặc phỉ làm hại dân, ắt sẽ làm hại nước! Thân là Đề đốc, trong địa hạt có giặc phỉ mà không thể tiễu trừ, vậy giữ chức này để làm gì? Nếu vì dẹp giặc mà phải chịu tội nặng, tôi nhất định không từ chối." Rồi ông buồn bã đóng quân ở Dương Thôn chờ xem tình hình biến chuyển.

Tháng 6 năm đó, Nhiếp Sĩ Thành dẫn quân bảo vệ khu vực Dương Thôn, Thiên Tân, cùng với Nghĩa Hòa Đoàn, chặn đánh đội tiên phong của Liên quân tám nước đang tìm cách tiến vào Bắc Kinh để giải cứu khu vực công sứ quán. Ông liên tiếp đánh chiếm Trần Gia Câu, Bao Mã Xưởng, Bát Lí Đài, rồi tiến thẳng đánh Tử Trúc Lâm, chiến đấu đổ máu tám ngày tám đêm. Quân Thanh và Liên quân đều có thương vong, nhưng Nhiếp Sĩ Thành đã đẩy Nghĩa Hòa Đoàn ra tiền tuyến. Họ bị súng máy của Liên quân càn quét, khi rút về lại bị chính súng máy của quân Nhiếp bắn, gây thương vong nặng nề. Do đường sắt Kinh-Tân đã bị Nghĩa Hòa Đoàn phá hủy, đội tiên phong của Liên quân tám nước không giỏi tác chiến trên bộ, và quân của Nhiếp được trang bị tốt bằng súng máy hạng nặng của Đức, Liên quân đã không thể tiến lên và buộc phải rút lui. Triều đình nhà Thanh gọi trận này là Đại thắng Lang Phường. Tuy nhiên, Tổng đốc Dụ Lộc đã quy công và trọng thưởng cho Nghĩa Hòa Đoàn, trong khi quân của Nhiếp lại không được thưởng một xu.

Ngày 9 tháng 7 năm 1900, để trả thù Nhiếp Sĩ Thành, Nghĩa Hòa Đoàn đã phái người đi bắt cóc gia quyến của ông. Nhiếp Sĩ Thành nghe tin vô cùng tức giận, ông chia quân đi giải cứu, và hai bên chính thức khai chiến. Cùng lúc đó, quân Nhật từ chiến trường Kỷ Trang Tử bất ngờ đánh bọc hậu Thiên Tân. Sau khi đánh bại Nghĩa Hòa Đoàn tại Kỷ Trang Tử, quân Nhật đánh vào phía sau của Nhiếp Sĩ Thành. Vì mặc áo Hoàng mã quải nổi bật, ông đã trở thành mục tiêu và bị trúng pháo của quân Nhật, tử trận. Nghĩa Hòa Đoàn định cướp và làm nhục thi thể của ông, nhưng quân Đức tiến đến nên không thành. Sau đó, quân Đức đã trao trả thi thể của Nhiếp Sĩ Thành cho quân Thanh. Triều đình ban chiếu chỉ cấp tiền tuất. Sau hai năm, theo lời tâu của Viên Thế Khải, ông được truy tặng Thái tử Thiếu bảo, thụy là Trung Tiết, và lập đền thờ riêng.

Tưởng niệm

Bia tưởng niệm Nhiếp Sĩ Thành tuẫn nạn ở Thiên Tân.

Năm 1905, chính phủ nhà Thanh đã cho dựng một tấm bia tưởng niệm ở phía nam Bát Lý Đài, Thiên Tân.[f] Tấm bia cao 2,4 mét, với bệ được xây bằng đá hoa cương.

Mặt trước bia khắc dòng chữ "Nhiếp Trung Tiết công tuẫn nạn xứ".[g] Hai cột đá hai bên khắc: "Khí dũng mãnh xuyên cầu vồng, nhớ năm xưa da ngựa bọc thây, một tấm lòng son thà hóa sóng giận bay trên biển; Lòng thành lưu lại máu xanh, nay nhìn cát bụi trải qua kiếp nạn, ba quân xương trắng bi ca ở nhạc phủ chiến thành nam." Dòng chữ hoành phi là "Sinh khí lẫm nhiên".[h]

Trong Cách mạng Văn hóa, bia tưởng niệm này bị liệt vào "Tứ cựu" và bị đập phá hoàn toàn. Năm 1984, khi được dựng lại, bia chỉ còn lại bảy chữ "Nhiếp Trung Tiết công tuẫn nạn xứ". Năm 2000, nhân kỷ niệm 100 năm ngày ông hy sinh vì đất nước, chính quyền thành phố Thiên Tân đã dựng một bức tượng đồng Nhiếp Trung Tiết công cưỡi ngựa cầm đao cao 4,18 mét tại vị trí bia cũ để tưởng nhớ. Bệ tượng khắc một bài thơ tán dương: "Tướng quân phi ngựa đao quang lạnh, một lần vọt qua cầu kiếp này ngước nhìn. Nơi Nhiếp công năm xưa hào khí ngất trời, biết bao tùng xanh đối mưa lạnh."

Xem thêm

  • Bia tưởng niệm Nhiếp Sĩ Thành tuẫn nạn

Tham khảo

  • Triệu Nhĩ Tốn, Thanh sử cảo quyển 467, liệt truyện 254 – Nhiếp Sĩ Thành truyện.
  • Trịnh Phúc Điền - Khả Vĩnh Tuyết - Dương Hiệu Xuân (2006), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, Ông Văn Tùng - Hoàng Nghĩa Quán dịch, Nxb. Lao động, tập 4.

Chú thích

  1. Viên Giáp Tam là phụ thân của Viên Thế Khải.
  2. Bả tổng là chức quan võ cấp thấp phụ trách chỉ huy một đơn vị quân nhỏ, thường là cấp đội hoặc tiểu đội trong hệ thống quân đội thời Minh Thanh.
  3. Giáo phỉ là tên gọi dùng để chỉ các nhóm nổi dậy vũ trang mà việc tập hợp và hành động của họ dựa trên một giáo lý, giáo phái tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào đó thường là các giáo phái bí mật, ngoại đạo bị triều đình coi là tà giáo.
  4. Hoàng mã quải là chiếc áo khoác ngắn màu vàng mà Hoàng đế nhà Thanh ban thưởng cho các quan lại, võ tướng. Đây là biểu tượng danh dự cao quý nhất, dùng để ghi nhận công lao, chiến công lớn hoặc thành tích xuất sắc trong các cuộc đi săn của Hoàng gia. Vì màu vàng là màu của Hoàng đế, việc được ban áo này thể hiện sự sủng ái và vinh dự tột bậc.
  5. Ba Đồ Long A là danh hiệu vinh dự cao quý (có nghĩa là "Dũng sĩ" hoặc "Người hùng") do Hoàng đế nhà Thanh ban tặng cho các võ tướng lập được chiến công hiển hách.
  6. Nay là giao lộ giữa đường Tử Kim Sơn và đường Vệ Tân Nam, quận Nam Khai, thành phố Thiên Tân.
  7. Dịch ra có nghĩa là Nơi Nhiếp Trung Tiết công hy sinh.
  8. Dịch ra có nghĩa là khí phách ngời ngời.

Đọc thêm

  • Bouye, Thomas. China: adapting the past, confronting the future. University of Michigan. 2002. ISBN 0-89264-156-8
  • Dupuy, Trevor N. Harper Encyclopedia of Military Biography. New York: HarperCollins Publishers Inc., 1992. ISBN 0-7858-0437-4
  • Reynolds, Douglas Robertson. China, 1895-1912: state-sponsored reforms and China's late-Qing revolution . M E Sharpe (1966). ISBN 978-1-56324-749-1