Những tìm sâu triết học
| Philosophical Investigations | |
|---|---|
| Philosophische Untersuchungen | |
Bìa của bản dịch tiếng Việt đầu tiên | |
| Thông tin sách | |
| Tác giả | Ludwig Wittgenstein |
| Ngôn ngữ | Tiếng Đức |
| Chủ đề | Triết học ngôn ngữ |
| Ngày phát hành | 1953 |
| Bản tiếng Việt | |
| Người dịch | Trần Đình Thắng |
Những tìm sâu triết học (tiếng Anh: Philosophical Investigations, tiếng Đức: Philosophische Untersuchungen) là một tác phẩm của triết gia Ludwig Wittgenstein, được xuất bản năm 1953, sau khi ông qua đời.
Một cuộc khảo sát giữa các giáo viên đại học và cao đẳng Mỹ đã xếp cuốn Những tìm sâu triết học là cuốn sách quan trọng nhất của triết học thế kỷ 20.[1]
Nội dung Những tìm sâu triết học Những tìm sâu triết học
Cuốn sách bắt đầu bằng một trích dẫn từ vở kịch Der Schützling của Johann Nestroy: “Rắc rối của sự tiến bộ là nó luôn trông vĩ đại hơn nhiều so với cái mà nó thực tế là”.[2]
Trò chơi ngôn ngữ (language games)
Wittgenstein lần đầu tiên đề cập đến trò chơi ở phần 3 của Những tìm sâu triết học, rồi phát triển thảo luận về trò chơi thành khái niệm cốt lõi là trò chơi ngôn ngữ (language game). Việc Wittgenstein sử dụng thuật ngữ "trò chơi ngôn ngữ" nhằm “làm nổi bật sự kiện rằng việc nói ngôn ngữ là một phần của một hoạt động, hoặc của một dạng sống (form of life)”.[3] Một đặc trưng trung tâm của trò chơi ngôn ngữ là ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh và không thể hiểu được nếu tách rời khỏi ngữ cảnh đó. Wittgenstein liệt kê các ví dụ về trò chơi ngôn ngữ như sau: “ra lệnh và tuân theo lệnh”; “miêu tả vẻ ngoài của một vật, hoặc đưa ra kích thước của nó”; “xây dựng lên vật từ một mô tả (một bản vẽ)”; “báo cáo về một sự kiện”; “suy đoán về một sự kiện”.[3] Ví dụ nổi tiếng là về ý nghĩa của từ “trò chơi” (game). Chúng ta nói về nhiều loại trò chơi khác nhau: trò chơi bàn cờ, trò chơi cá cược, thể thao, và “trò chơi chiến tranh”. Tất cả đều là những cách sử dụng khác nhau của từ “trò chơi”. Wittgenstein cũng đưa ra ví dụ về từ “Nước!” (Water!), có thể được dùng như một tiếng kêu cảm thán, một mệnh lệnh, một lời yêu cầu, hoặc câu trả lời cho một câu hỏi. Ý nghĩa của từ phụ thuộc vào trò chơi ngôn ngữ mà nó được sử dụng trong đó. Cách khác để Wittgenstein diễn đạt ý này là từ “nước” không có ý nghĩa nào độc lập với cách sử dụng của nó trong một trò chơi ngôn ngữ. Người ta có thể dùng từ này như một mệnh lệnh để yêu cầu ai đó mang cho mình một ly nước. Nhưng nó cũng có thể được dùng để cảnh báo ai đó rằng nước đã bị đầu độc.[4] [5]
Wittgenstein áp dụng khái niệm trò chơi ngôn ngữ không chỉ cho ý nghĩa của từ mà còn cho ý nghĩa của câu. Chẳng hạn, câu “Moses không tồn tại” (§79) có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Wittgenstein lập luận rằng, nếu tách rời khỏi việc sử dụng, câu này chưa “nói” lên gì cả. Nó “vô nghĩa” theo nghĩa nó không có ý nghĩa đáng kể cho một mục đích cụ thể nào đó. Câu này chỉ có ý nghĩa khi ta sử dụng nó trong ngữ cảnh; bản thân câu không quyết định ý nghĩa của nó, mà chỉ trở nên có ý nghĩa khi được dùng để nói điều gì đó. Ví dụ, nó có thể được dùng để nói rằng không có con người hay nhân vật lịch sử nào phù hợp với những mô tả được gán cho người có tên “Moses”. Nhưng nó cũng có thể nghĩa là thủ lĩnh của người Israel không được gọi là Moses. Hoặc rằng không thể có ai đó đã thực hiện tất cả những điều mà Kinh Thánh kể về Moses, v.v. Ý nghĩa của câu do đó phụ thuộc vào cách sử dụng của nó trong ngữ cảnh.[6]
Ý nghĩa khi sử dụng (meaning as use)
Những tìm sâu triết học chủ yếu xử lý những khó khăn liên quan đến ngôn ngữ và ý nghĩa (meaning). Wittgenstein coi các công cụ của ngôn ngữ là hoàn toàn đơn giản,[a] và ông tin rằng các triết gia đã che mờ sự đơn giản này bằng cách lạm dụng ngôn ngữ và đặt ra những câu hỏi vô nghĩa. Trong Những tìm sâu triết học, ông cố gắng làm cho mọi thứ trở nên rõ ràng: Der Fliege den Ausweg aus dem Fliegenglas zeigen - chỉ cho con ruồi đường ra khỏi chai.
Wittgenstein khẳng định rằng ý nghĩa của một từ dựa trên cách từ đó được hiểu trong trò chơi ngôn ngữ. Một tóm tắt phổ biến về lập luận của ông là ý nghĩa là cách sử dụng (meaning is use). Theo lý thuyết sử dụng về ý nghĩa (use theory of meaning), các từ không được định nghĩa bằng cách tham chiếu đến các đối tượng mà chúng chỉ định, hay bằng các biểu tượng tinh thần mà người ta có thể liên kết với chúng, mà bằng cách chúng được sử dụng. Ví dụ, điều này có nghĩa là không cần phải giả định rằng tồn tại một thứ gì đó gọi là “tốt” độc lập với bất kỳ hành động tốt nào. Lý thuyết về ý nghĩa của Wittgenstein trái ngược với chủ nghĩa hiện thực Platon (Platonic realism)[7] và với các khái niệm về ý nghĩa và tham chiếu (sense and reference) của Gottlob Frege . Lập luận này đã được một số tác giả gọi là "chủ nghĩa toàn thể nhân học" (anthropological holism).[8]
Đoạn 43 trong Những tìm sâu triết học của Wittgenstein viết: “Đối với một lớp lớn các trường hợp - dù không phải tất cả - trong đó chúng ta sử dụng từ ‘ý nghĩa’, nó có thể được định nghĩa như sau: ý nghĩa của một từ là cách sử dụng của nó trong ngôn ngữ.”
Wittgenstein mở đầu Những tìm sâu triết học bằng một trích dẫn từ Tự thú (Confessions) của Augustine. Trích dẫn này đại diện cho quan điểm rằng ngôn ngữ là dùng để chỉ đến các đối tượng trong thế giới. Đây chính là quan điểm mà ông sẽ phê phán.[9]
Các từ riêng lẻ trong ngôn ngữ dùng để gọi tên các đối tượng - các câu là sự kết hợp của những tên ấy. Trong bức tranh về ngôn ngữ này, chúng ta tìm thấy gốc gác của ý tưởng sau: Mỗi từ đều có một ý nghĩa. Ý nghĩa này tương ứng với từ. Nó là đối tượng mà từ đại diện.
Wittgenstein bác bỏ nhiều lối suy nghĩ khác nhau về ý nghĩa của một từ hoặc cách xác định ý nghĩa. Ông chỉ ra làm sao mà, trong mỗi trường hợp, ý nghĩa của từ đều tiền giả định khả năng sử dụng nó của chúng ta. Đầu tiên, ông yêu cầu người đọc thực hiện một thí nghiệm tư tưởng: hãy đưa ra một định nghĩa cho từ “trò chơi” (game). Thoạt đầu, đó có vẻ như là một nhiệm vụ đơn giản. Nhưng sau đó, ông dẫn dắt chúng ta đến vấn đề của từng định nghĩa có thể có của từ trò chơi. Bất cứ định nghĩa nào tập trung vào tính giải trí đều khiến chúng ta không thỏa mãn, vì cảm xúc mà một kỳ thủ cờ vua đẳng cấp thế giới trải qua rất khác so với cảm xúc của một nhóm trẻ con chơi trò “vịt, vịt, ngỗng” (duck, duck, goose - [một trò chơi cho trẻ em có nguồn gốc từ Thụy Điển .ND]. Bất cứ định nghĩa nào tập trung vào tính đối kháng sẽ không giải thích được trò chơi ném bóng qua lại (game of catch) hay chơi bài solitaire [trò chơi sử dụng bài để xếp một mình .ND] Và một định nghĩa tập trung vào các quy tắc của trò chơi cũng sẽ phải đối diện với những khó khăn tương tự.
Điểm cốt lõi của bài tập này thường bị bỏ qua. Quan điểm của Wittgenstein không phải là việc không thể định nghĩa trò chơi, mà là “ngay cả khi chúng ta không có một định nghĩa, chúng ta vẫn có thể sử dụng từ này một cách thành công”. Mọi người đều hiểu khi chúng ta nói về việc chơi một trò chơi, và chúng ta thậm chí có thể xác định một cách rõ ràng và sửa đổi các cách sử dụng sai của từ đó mà không hề cần tham chiếu đến định nghĩa nào nêu rõ các điều kiện cần và đủ để áp dụng khái niệm trò chơi. Từ tiếng Đức chỉ trò chơi, Spiele / Spiel, mang ý nghĩa khác với tiếng Anh; ý nghĩa của Spiele mở rộng đến cả khái niệm chơi (play) và việc chơi (playing). Ý nghĩa tiếng Đức này có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn các nhận xét của Wittgenstein về trò chơi.
Wittgenstein lập luận rằng các định nghĩa xuất hiện từ cái mà ông gọi là những dạng sống, đại khái là văn hóa và xã hội mà chúng được sử dụng trong. Wittgenstein nhấn mạnh khía cạnh xã hội của nhận thức; trong hầu hết các trường hợp, để thấy ngôn ngữ hoạt động như thế nào, chúng ta phải xem nó hoạt động ra sao trong một tình huống xã hội cụ thể. Chính sự nhấn mạnh này vào việc chú tâm đến bối cảnh xã hội, thứ là nền tảng khiến ngôn ngữ có thể hiểu được, đã giải thích cho nhận xét ngắn gọn, mang tính ẩn dụ của Wittgenstein: “Nếu một con sư tử có thể nói, chúng ta cũng không thể hiểu nó.” Tuy nhiên, khi đề xuất thí nghiệm tư duy liên quan đến nhân vật hư cấu Robinson Crusoe, một thuyền trưởng bị đắm tàu trên một hòn đảo hoang không có cư dân nào khác, Wittgenstein cho thấy rằng ngôn ngữ không phải lúc nào cũng là một hiện tượng xã hội (mặc dù trong hầu hết các trường hợp là vậy); thay vào đó, tiêu chuẩn để một thứ gì đó được coi là ngôn ngữ nằm ở tập hợp các hoạt động quy phạm liên kết với nhau: dạy dỗ, giải thích, kỹ thuật [được sử dụng .ND] và tiêu chí đúng/sai. Tóm lại, ngôn ngữ có thể chia sẻ được là điều thiết yếu, nhưng điều này không ngụ ý rằng để một ngôn ngữ hoạt động, nó phải được chia sẻ.
Wittgenstein bác bỏ ý tưởng rằng các định nghĩa trực quan (định nghĩa chỉ thị? - ostensive definitions) có thể mang đến cho chúng ta ý nghĩa của một từ. Đối với Wittgenstein, vật mà từ đó đại diện không mang đến ý nghĩa của từ đó. Wittgenstein lập luận cho điều này bằng cách thực hiện một loạt các bước để cho thấy rằng việc hiểu một định nghĩa trực quan tiền giả định sự hiểu biết về cách sử dụng từ đang được định nghĩa.[10] Vì vậy, ví dụ, không có sự khác biệt giữa việc chỉ vào một tờ giấy, chỉ vào màu sắc của nó, hay chỉ vào hình dạng của nó, nhưng việc hiểu sự khác biệt này là rất quan trọng khi ta muốn sử dụng tờ giấy để đưa ra định nghĩa trực quan về hình dáng nay màu sắc.
Sự tương đồng gia đình (family resemblances)
Tại sao chúng ta có thể chắc chắn rằng một hoạt động cụ thể (ví dụ: bắn súng mục tiêu ở Thế vận hội Olympic) là một trò chơi, trong khi một hoạt động tương tự (ví dụ: bắn tỉa quân sự) lại không phải? Lời giải thích của Wittgenstein gắn liền với một phép so sánh quan trọng. Làm thế nào để chúng ta nhận ra rằng hai người mà chúng ta biết có quan hệ họ hàng với nhau? Chúng ta có thể thấy chiều cao, cân nặng, màu mắt, tóc, mũi, miệng, kiểu nói, quan điểm xã hội hoặc chính trị, cử chỉ, cấu trúc cơ thể, họ, v.v. tương tự nhau. Nếu ta thấy đủ điểm tương đồng, ta nói rằng ta đã nhận thấy sự tương đồng gia đình (family resemblance).[11] Đây không phải lúc nào cũng là một quá trình có ý thức - thường thì ta không liệt kê các điểm tương đồng cho đến một ngưỡng nhất định; ta thấy sự tương đồng một cách trực giác. Wittgenstein gợi ý rằng điều tương tự cũng đúng với ngôn ngữ. Tất cả chúng ta đều quen thuộc với đủ những thứ là trò chơi và đủ những thứ không phải là trò chơi để chúng ta có thể phân loại những hoạt động mới là trò chơi hoặc không phải là trò chơi.[12]
Điều này đưa chúng ta trở lại với sự phụ thuộc của Wittgenstein vào giao tiếp gián tiếp và các thí nghiệm tư duy. Một số sự rối rắm triết học xảy đến vì ta không thể nhìn thấy sự tương đồng gia đình. Ta phạm sai lầm trong việc hiểu các quy tắc mơ hồ và trực giác (intuitive) mà ngôn ngữ sử dụng và do đó, đã tự trói mình vào những nút thắt triết học. Ông gợi ý rằng nỗ lực gỡ rối những nút thắt này đòi hỏi nhiều hơn là những lập luận suy diễn đơn giản chỉ ra các vấn đề với một số lập trường cụ thể nào đó. Thay vào đó, mục tiêu lớn hơn của Wittgenstein là cố gắng kéo ta ra khỏi các vấn đề triết học đủ lâu để nhận ra khả năng trực giác của mình trong việc nhìn thấy sự tương đồng gia đình.[13]
Tài liệu tham khảo Những tìm sâu triết học Những tìm sâu triết học
- ↑ Lackey, Douglas P. (1999). "What Are the Modern Classics? The Baruch Poll of Great Philosophy in the Twentieth Century". The Philosophical Forum. 30 (4): 329–346. doi:10.1111/0031-806X.00022. ISSN 1467-9191.
- ↑ Cahill, Kevin (2006). "The Concept of Progress in Wittgenstein's Thought". The Review of Metaphysics. 60 (1): 71–100.
- 1 2 Wittgenstein, Ludwig (1953). Philosophical Investigations: The German Text, with a Revised English Translation. Blackwell. § 23. ISBN 978-0-631-23159-2.
- ↑ "Philosophical Investigations Part 1: Sections 1–20". SparkNotes. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Philosophical Investigations Part 1: Sections 21–64". SparkNotes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Philosophical Investigations Part 1: Sections 65–91". SparkNotes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Sedley, D. N. (2003). Plato's Cratylus (ấn bản thứ 7). Cambridge: Cambridge University Press.
- ↑ "Philosophical Investigations Part 1: Sections 92–137". SparkNotes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Wittgenstein, Ludwig (1953). Philosophical Investigations: The German Text, with a Revised English Translation. Blackwell. § 1. ISBN 978-0-631-23159-2.
- ↑ Stern, David G. (2008). "Wittgenstein's critique of referential theories of meaning and the paradox of ostension, Philosophical Investigations §§ 26-48". Trong Zamuner, Edoardo; Levy, D. K. (biên tập). Wittgenstein's Enduring Arguments. Routledge. tr. 192. ISBN 978-1-134-10706-3.
- ↑ See § 66-§ 71.
- ↑ "Philosophical Investigations Part 1: Sections 65–91". SparkNotes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Philosophical Investigations Part 1: Sections 65–91". SparkNotes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ § 97 quotation:
the order of possibilities, which must be common to both world and thought ... must be utterly simple.
<ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng