Ngô Đình Cẩn
Ngô Đình Cẩn | |
|---|---|
![]() Cẩn thời trẻ | |
| Sinh | 1911[a] Phủ Cam, Huế, Trung Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 9 tháng 5 năm 1964 (52–53 tuổi) Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa |
| Nguyên nhân mất | Hành quyết bằng xử bắn |
| Nổi tiếng vì | Em trai, thân tín của tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm |
| Đảng phái chính trị | Đảng Cần lao Nhân vị |
| Tôn giáo | Công giáo La Mã |
| Cha mẹ |
|
| Người thân | Gia đình họ Ngô |
| Chữ ký | |
Ngô Đình Cẩn (1911[a] – 9 tháng 5 năm 1964), biệt hiệu Hắc Long,[b][2] là em trai của Ngô Đình Diệm, tổng thống Việt Nam Cộng hòa đầu tiên. Ông được anh trai giao phó làm cố vấn Trung phần, phụ trách cao nguyên Trung phần và khu vực duyên hải trải dài từ Phan Thiết ở phía nam đến biên giới vĩ tuyến 17 ở phía bắc, đồng thời giữ cương vị Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia thuộc Đảng Cần lao Nhân vị trong khu vực. Đặt tổng hành dinh tại cố đô Huế, Ngô Đình Cẩn điều hành quân đội và mật vụ kiểm soát khu vực do mình đảm nhận. Trong thời gian cầm quyền, ông cai trị miền Trung như một bạo chúa thông qua việc tổ chức trấn áp, vây bắt những người cộng sản, người bất đồng chính kiến hoặc có tư thù cá nhân với mình.[3] Bởi lẽ đó, ông Cẩn được xem là người tàn độc nhất trong số các anh em nhà họ Ngô, được người đời mệnh danh là "bạo chúa miền Trung".[4][5]
Thời còn trẻ, Ngô Đình Cẩn là một người ủng hộ tư tưởng của nhà cách mạng Phan Bội Châu. Cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, vào thời điểm mà nhiều phe nhóm trong nước cũng như các thế lực quốc tế đang cố gắng giành quyền kiểm soát Việt Nam, ông đã tìm cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng dành cho ông Diệm. Sau khi hoàn tất loại bỏ các phe dân tộc chủ nghĩa đối lập ở miền Trung, Ngô Đình Cẩn đã trở thành "lãnh chúa" khu vực sau khi ông Diệm trở thành tổng thống của miền Nam Việt Nam vào năm 1955. Trong thời gian nắm quyền, ông Cẩn nổi tiếng không chỉ vì cai trị miền Trung bằng một bàn tay sắt mà còn được biết đến là có tham gia thực hiện các phi vụ buôn lậu và tham nhũng. Các hoạt động chống Cộng và trị an của ông tỏ rõ sự hiệu quả khi lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ở miền Trung yếu hơn hẳn so với các vùng khác. Vì vậy nên Lực lượng Dân vệ của ông được các quan chức Mỹ ở miền Trung khi ấy đánh giá là lực lượng chống Cộng hiệu quả.[6]
Ảnh hưởng của Ngô Đình Cẩn bắt đầu suy yếu đi sau khi anh trai của ông là Ngô Đình Thục được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Công giáo Huế. Sau khi nhậm chức, ông Thục tích cực truyền bá đức tin Công giáo, dẫn đến việc cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật Đản kỷ niệm ngày sinh của Thích-ca Mâu-ni. Lực lượng quân đội tư nhân dưới trướng Cẩn đã nã súng vào đám đông phản đối lệnh cấm để trấn áp khiến 9 người chết, góp phần kích động Biến cố Phật giáo năm 1963. Trước làn sóng biểu tình ngày một leo thang, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã buộc phải tiến hành trấn áp với mức độ tàn bạo càng ngày càng gia tăng. Mong muốn chấm dứt khủng hoảng và vãn hồi trật tự, một nhóm tướng lĩnh quân đội dưới sự giúp đỡ của chính quyền Mỹ đã tiến hành đảo chính lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm cùng cố vấn Ngô Đình Nhu vào đầu tháng 11 năm 1963. Ngô Đình Cẩn ban đầu được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị cho phép tị nạn, nhưng đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. sau đó đã yêu cầu nhân viên CIA Lucien Conein bắt giam ông Cẩn ở Sài Thành. Sau khi được bàn giao cho quân đội, ông bị tòa án chính phủ quân quản dưới trướng Dương Văn Minh kết án tử hình và xử bắn vào tháng 5 năm 1964.
Thời niên thiếu
Ngô Đình Cẩn là người con áp út trong một gia đình có 9 anh chị em và trong số 6 người con trai thì ông là người con thứ 5.[7] Mẹ ông là Phạm Thị Thân, cha ông Ngô Đình Khả là một quan đại thần trong triều đình vua Thành Thái dưới thời Pháp thuộc.[8][9] Ông sinh năm 1910 hoặc 1911 tại họ đạo Phủ Cam, Huế và có tên thánh là Gioan Baotixita (Jean Baptiste).[1] Tuy không phải là con út nhưng cái tên "Cậu Ụt" hay "Cậu Út" là tên tục của Ngô Đình Cẩn khi còn nhỏ.[10]
Phản đối việc chính quyền Pháp truất ngôi và lưu đày vua Thành Thái, Ngô Đình Khả từ quan về nhà làm ruộng.[8] Sau khi cha tạ thế, anh cả và anh thứ ba của Ngô Đình Cẩn đều lần lượt ra làm quan lớn. Anh cả Ngô Đình Khôi được bổ nhiệm làm Tổng đốc Nam Nghĩa[c] trong khi người anh thứ ba Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận trước khi trở thành thượng thư trẻ nhất trong triều đình nhà Nguyễn vào năm 1933. Do bất mãn trước sự cai trị của Pháp nên chỉ vài tháng sau khi được sắc phong làm thượng thư, ông Diệm nối gót cha từ quan trở về làm một thường dân, trong khi ông Khôi tiếp tục tại chức cho tới khi Nhật vào Đông Dương mới về hưu, rồi bị Việt Minh ám sát năm 1945.[9] Người anh thứ hai, Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, về sau được bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng Giáo phận Huế. Anh trai thứ tư, Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị và là nhà hoạch định chiến lược của chính quyền Diệm. Em trai út Ngô Đình Luyện trở thành nhà ngoại giao sau khi gia đình họ Ngô thâu tóm nền chính trị miền Nam. Trong số sáu người anh em trai, chỉ có Thục và Luyện là tránh khỏi phận bị hành quyết hoặc ám sát trong các biến động chính trị tại Việt Nam.[11]
Thông tin chi tiết về cuộc sống đầu đời của Cẩn là không nhiều. Thời trẻ, ông nghiên cứu các tác phẩm và bình luận của nhà yêu nước Phan Bội Châu.[12] Được xem là là nhà cách mạng hàng đầu Việt Nam lúc bấy giờ, Phan Bội Châu bị chính quyền thuộc địa Pháp bắt giữ và bị kết án tử hình trước khi được giảm án xuống quản thúc tại gia.[13][14] Ông được người Pháp đưa về an trí tại Bến Ngự (Huế) và sống nốt quãng đời còn lại tại mảnh đất này.[12] Ngô Đình Cẩn thường ghé qua con xuồng ba lá của Phan Bội Châu trên dòng sông Hương, khi đến mang theo đồ ăn làm lễ vật để được nghe "Ông già Bến Ngự" luận bàn về chính trị.[12] Được xem là người ít học nhất trong gia đình,[15] Ngô Đình Cẩn chưa bao giờ rời khỏi Việt Nam và là người duy nhất trong số mấy anh em không theo học tại một cơ sở giáo dục do người châu Âu điều hành.[16] Trong khi các anh em đều ra làm quan hoặc du học ở nước ngoài, ông vẫn giành phần lớn thời gian ở nhà chăm sóc mẹ già, nên dù không phải là con trưởng nhưng ông vẫn được hưởng tập ấm,[d] thừa hưởng hương hỏa của cha mẹ.[17]
Việt Nam rơi vào hỗn loạn sau khi Nhật Bản xâm lược và thay thế chính quyền thuộc địa của Pháp trong trong Thế chiến thứ hai. Khi chiến tranh kết thúc, người Nhật đầu hàng quân Đồng Minh và buộc phải rút lui về nước trong khi nước Pháp do bị suy yếu nghiêm trọng bởi bất ổn chính trị dưới chế độ Vichy nên không thể thiết lập kiểm soát ở Đông Dương.[18] Vào lúc này, mặt trận Việt Minh của Hồ Chí Minh giành được chính quyền và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đụng độ vũ trang với người Pháp cũng như với các nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam khác để giành quyền kiểm soát đất nước.[19] Trong thời gian này, Ngô Đình Cẩn đã tổ chức một cơ sở hỗ trợ bí mật cho ông Diệm ở miền Trung.[20] Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ là một trong số rất nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc đang cố gắng giành quyền lãnh đạo quốc gia và đã trải qua hơn một thập kỷ sống ẩn dật, không màng tới chuyện chính sự.[19] Ngô Đình Cẩn góp công lớn giúp anh trai loại bỏ các nhóm dân tộc chủ nghĩa chống Cộng khác, bao gồm Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng – những phe nhóm cạnh tranh trực tiếp với ông Diệm nhằm thu hút sự ủng hộ của quần chúng.[20] Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm truất phế Quốc trưởng Bảo Đại trong một cuộc trưng cầu dân ý đầy gian lận do Ngô Đình Nhu tổ chức.[21][22] Ba ngày sau, ông Diệm tự xưng là Tổng thống của chính thể mới Việt Nam Cộng hòa.[23]
Thuộc cấp của Ngô Đình Cẩn thu hút dân chúng bỏ phiếu cho Diệm. Những người không tuân theo thường bị truy đuổi gắt gao, đánh đập, hành hạ bằng cách đổ nước sốt tiêu hoặc nước vào mũi.[22][24] Những hành vi bạo lực này đặc biệt rõ ràng tại những khu vực thuộc thẩm quyền của ông Cẩn,[25] nhất là tại Huế, nơi người dân vẫn còn nhiều cảm tình với cựu hoàng Bảo Đại và triều Nguyễn.[25] Trong vòng một tuần trước khi cuộc bỏ phiếu diễn ra, ông đã ra lệnh cho cảnh sát bắt giữ 1.200 người vì lý do chính trị. Tại Hội An, một số người đã thiệt mạng trong cuộc bạo động diễn ra vào ngày bầu cử.[26]
Cai trị

Trong thời Đệ nhất Cộng hòa, các thành viên gia đình họ Ngô nắm mọi thực quyền trong tay, vì vậy chế độ Diệm thường bị cho là gia đình trị.[27][28] Về phần mình, Ngô Đình Cẩn tuy không có vị trí chính thức trong chính phủ, nhưng nắm rất nhiều quyền lực tại Trung phần và được mệnh danh là "Lãnh chúa miền Trung".[29][5] Ông Cẩn sở hữu quyền lực gần như vô hạn trong vùng, cùng ông Diệm và ông Nhu nắm quyền sinh sát tại miền Nam[30] và thường can thiệp vào các chiến dịch đàn áp Việt Cộng đậm chất "phong kiến" của quân đội.[31] Bộ máy cai trị của ông Cẩn tại Huế khi đó được xem như một "triều đình thứ hai" bên cạnh Sài Gòn.[32] Robert Scigliano, một nhà báo và một học giả từ Nhóm Cố vấn Việt Nam của Đại học bang Michigan (MSUG), nhận định rằng Cẩn cùng ông bà Nhu và Thục đã tạo thành "một tầng lớp tinh hoa đứng ngoài vòng pháp luật, cùng với [ông] Diệm quyết định vận mệnh của [đất nước] Việt Nam."[31] Tổng thể bộ máy và hoạt động ở Trung phần đều nằm ngoài tầm kiểm soát của Sài Gòn và cố vấn Ngô Đình Nhu, do đó ông Cẩn đôi khi phủ quyết các quan chức được chính phủ trung ương bổ nhiệm về khu vực do ông quản lý.[33]
Ngô Đình Cẩn sở hữu quân đội, cảnh sát và mật vụ riêng. Nổi tiếng nhất trong số những lực lượng dưới trướng Ngô Đình Cẩn là cơ quan tình báo – phản gián Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung,[34] chuyên thực hiện các nhiệm vụ thu thập thông tin phục vụ cho công việc truy lùng và tiêu diệt Việt Cộng, đồng thời cũng bắt giam và thủ tiêu những đối thủ chính trị chống Cộng khác.[35] Ngoài ra ông Cẩn còn bị cáo buộc tích lũy một khối tài sản lớn thông qua các hành vi tham nhũng, chẳng hạn như ăn hối lộ từ giới doanh nhân để đổi lấy việc cho phép họ tiếp cận hợp đồng viện trợ nước ngoài từ Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Dwight D. Eisenhower và John F. Kennedy. Ông yêu cầu các doanh gia phải nộp một khoản phí cho Phong trào Cách mạng Quốc gia trực thuộc Đảng Cần lao Nhân vị,[36] đổi lại sẽ được chuẩn thuận giấy phép nhập khẩu và đơn xin nhận ngoại viện. Ngoài việc nắm độc quyền buôn bán quế tại miền Nam, ông Cẩn bị cho là đã tham gia tuồn gạo ra miền Bắc thông qua thị trường chợ đen, cũng như tổ chức buôn lậu thuốc phiện khắp châu Á qua ngả Lào.[31][37]

Ông thường xảy ra xung đột với các anh của mình về các vấn đề nội bộ, đặc biệt là với Ngô Đình Nhu – cố vấn có ảnh hưởng nhất của Diệm,[38] đồng thời cũng là người kiểm soát de facto phần phía nam của đất nước. Hai người luôn nảy sinh bất đồng liên quan đến các dự án viện trợ của Hoa Kỳ và hoạt động buôn bán gạo, nhưng nhìn chung không can thiệp trực tiếp vào khu vực thuộc thẩm quyền của đối phương.[38] Ngô Đình Cẩn từng trình lên ông Diệm một danh sách dài những đối thủ chính trị bị mình bắt giam và mong muốn mở văn phòng cho cảnh sát mật của mình ở Sài Gòn. Tuy nhiên ông Cẩn không đồng ý để mật vụ của mình phải báo cáo lên ty cảnh sát thủ đô vì cho rằng hàng ngũ cảnh sát đã đầy rẫy cộng sản.[39] Ông cho xây dựng các trại tra tấn và cải tạo, đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến.[37] So sánh với các anh trai, Scigliano nói rằng ông Cẩn "được coi là thành viên nghiêm khắc nhất, mà một số người sẽ gọi là man rợ [nhất], trong gia đình, ông cai trị lãnh địa của mình bằng một bàn tay hà khắc, đôi khi tàn nhẫn."[31] Đề cập đến cách cai trị chuyên quyền của Ngô Đình Cẩn, một nhà phê bình người Việt Nam nói rằng, không giống như ông Diệm, ông Cẩn kiên định và khiến những thân cận không nghi ngờ gì về những gì ông muốn: "Họ không bối rối khi nói nước đôi về các lý tưởng và thể chế dân chủ."[40] Khác với hình ảnh "anh chàng nhà quê bất tài, chân đi guốc gỗ, miệng nhai trầu" được báo chí mô tả, thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn lại cho rằng "Ngô Đình Cẩn là một người rất tài giỏi, nếu anh em Diệm – Nhu nghe lời Cẩn thì chưa chắc chế độ Ngô Đình Diệm đã sụp đổ lúc đó."[41] Việc tạo ra một hệ thống vừa có ưu đãi vừa có răn đe một cách rõ ràng nêu trên là yếu tố góp phần tạo nên thành công của ông Cẩn.[40]
Chống Cộng
Bất chấp sự cai trị chuyên quyền và hà khắc của mình, Ngô Đình Cẩn vẫn được quan chức Hoa Kỳ tại Huế khen ngợi bởi thành tích trấn áp các cuộc nổi dậy của Việt Cộng. Khu vực Trung phần do ông cai trị yên bình hơn nhiều so với những vùng giáp ranh Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Lúc bấy giờ, Ngô Đình Nhu ở miền Nam đang áp dụng chương trình Ấp Chiến lược trên phạm vi lớn, mục đích ngăn chặn cán bộ Việt Cộng tiếp cận người dân.[42] Tại miền Trung, ông Cẩn thành lập lực lượng Dân vệ (Popular Force) làm giải pháp thay thế cho chương trình của ông Nhu ở miền Nam.[6] Ông Cẩn cho rằng 1 phần 3 dân chúng vùng nông thôn có cảm tình với Việt Cộng, một con số đủ đáng kể để khiến chương trình Ấp Chiến lược không hiệu quả khi những người này có thể đe dọa những người dân khác từ ngay bên trong cộng đồng làng xã. Dân vệ đoàn của ông Cẩn là một nhóm tình nguyện viên đã trải qua quá trình huấn luyện nghiêm ngặt tương tự như chương trình Huấn luyện Tuyển mộ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Những ai vượt qua khóa đào tạo sẽ được đưa vào các đơn vị 150 người rồi được chỉ định sống và làm việc tại các làng quê vào ban ngày. Vào ban đêm, lực lượng này sẽ đi tuần quanh làng, sử dụng chiến thuật đánh nhanh rút gọn hòng đối phó với quân Cộng sản. Theo báo cáo của các quan chức Hoa Kỳ tại miền Trung Việt Nam, chương trình này đã thu hút được sự ủng hộ từ dân chúng vì các thành viên của Lực lượng Dân vệ không chỉ hòa nhập vào cuộc sống thường nhật của người dân mà còn mang lại cho họ cảm giác an toàn.[6] Các đơn vị này sẽ được xem là hoàn thành nhiệm vụ sau 6 tháng triển khai và sẽ được luân chuyển đến những vùng có nguy cơ bất ổn khác.[6] Trái ngược với đánh giá tích cực của các quan chức Mỹ tại địa phương, giới chức Hoa Kỳ tại Washington, D.C. lại tỏ ra hoài nghi. Họ cho rằng lực lượng Dân vệ đoàn thực chất là công cụ để ông Cẩn đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến.[43]
Khủng hoảng Phật giáo
Trong số bốn anh em nhà họ Ngô kiểm soát các vấn đề đối nội của Việt Nam (không bao gồm Ngô Đình Luyện), Ngô Đình Cẩn được đánh giá là người thế tục nhất. Sau khi ông Thục được Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế, ảnh hưởng của ông Cẩn dần suy giảm do ông Thục chủ trương xóa nhòa ranh giới giữa Giáo hội Công giáo và nhà nước. Đầu năm 1963, ông Nhu cử một phái viên từ Sài Gòn ra Huế bảo ông Cẩn nghỉ hưu rồi chuẩn bị lên đường sang Nhật Bản.[44] Tuy nhiên, tình hình nhanh chóng trở nên bất ổn trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa vào mùa hè năm 1963. Căng thẳng khởi phát khi cờ Tòa Thánh được treo nhân dịp đại lễ Ngân khánh kỷ niệm 25 năm ngày tấn phong giám mục của ông Thục, trong khi cờ Phật giáo lại bị cấm treo tại lễ Phật Đản kỷ niệm ngày sinh của Thích-Ca Mâu-Ni diễn ra 4 ngày sau đó, tức ngày 8 tháng 5.[45] Bản thân ông Cẩn không kỳ thị Phật giáo, có mối quan hệ thân thích với giới lãnh đạo Phật giáo như Thượng tọa Thích Trí Quang.[46] Dẫu vậy tại ngày lễ Phật Đản, cấp dưới của ông Cẩn đã ra lệnh cho lực lượng võ trang nã súng vào đám đông Phật tử không vũ khí biểu tình phản đối lệnh cấm khiến 9 người thiệt mạng.[39] Ngô Đình Cẩn khi đó tin rằng thế lực đứng sau vụ xả súng vào ngày 8 tháng 5 thực ra là Hoa Kỳ. Trong bối cảnh quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đang trở nên căng thẳng, ông cho đây là một âm mưu nhằm làm suy yếu chế độ do gia đình họ Ngô nắm quyền.[47]
Một sự cố tôn giáo đáng chú ý khác xảy ra không lâu sau đó tại lãnh địa của ông Cẩn. Người ta phát hiện một con cá chép to lớn bất thường bơi trong một cái ao nhỏ gần trung tâm Đà Nẵng. Các phật tử địa phương cho rằng con cá chép này là một Đệ tử của Đức Phật hóa kiếp mà thành.[48] Khi các cuộc hành hương đến ao chiêm bái cá chép ngày càng gia tăng về tần suất và quy mô, giới chức địa phương dưới quyền ông Cẩn bắt đầu cảm thấy bất an. Các cơ quan thực thi pháp luật địa phương đã sử dụng nhiều cách, từ đánh mìn cho đến nã đạn súng máy xuống ao, nhưng tuyệt nhiên vẫn không giết được con cá. Cực chẳng đã, họ đành phải nhờ cậy Lực lượng đặc biệt Việt Nam Cộng hòa do Đại tá Lê Quang Tung chỉ huy dưới quyền ông Nhu. Quân đội ném lựu đạn và cuối cùng tiêu diệt được con cá. Việc huy động lực lượng lớn như thế đã vô tình tạo ra tác động ngoài ý muốn khi câu chuyện nhanh chóng được báo giới trong và ngoài nước đưa tin. Sau đó, một số binh lính nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) khi hạ cánh xuống hiện trường từ trực thăng đã múc nước đổ đầy vào chai vì tin nước ở đây có phép lành.[48]
Bị bắt giam

Bị châm ngòi bởi các vụ giết người ở Huế trong ngày lễ Phật Đản, nên trong suốt mùa hè năm 1963, các tăng ni và Phật tử trong nước đã tổ chức các cuộc biểu tình lớn trên phạm vi toàn quốc nhằm đòi bình đẳng tôn giáo cũng như phản đối đường lối thiên vị Công giáo của chánh phủ Ngô Đình Diệm.[37][49] Để đối phó với tình trạng hỗn loạn, Diệm đã điều động cảnh sát và quân đội có vũ trang đàn áp các cuộc biểu tình. Lực lượng cảnh sát dùng lựu đạn cay, lựu đạn khói và chó nghiệp vụ giải tán đám đông khiến hàng trăm người bị thương. Chính phủ sau đó huy động thêm Lực lượng đặc biệt QLVNCH tiến hành các cuộc tấn công vào chùa chiền tại Sài Gòn và Huế. Hơn một nghìn người đã bị bắt giam, trong khi hàng trăm người khác mất tích và được cho là đã tử vong.[50]
Khi sự bất bình trong quần chúng ngày một dâng cao, một nhóm sĩ quan QLVNCH bao gồm Dương Văn Minh cùng một số tướng lĩnh khác đã lên kế hoạch và thực hiện một cuộc đảo chính do Hoa Kỳ hậu thuẫn vào tháng 11. Trong nhóm tướng lĩnh tham gia đảo chính có sự góp mặt của Tôn Thất Đính, vốn được cho là đặc biệt trung thành với Tổng thống Diệm và là tâm phúc của ông Cẩn.[51] Việc Đính bí mật chuyển sang ủng hộ nhóm đảo chính trong khi vẫn duy trì được sự tin tưởng của Diệm và Nhu được xem là bước ngoặt quyết định.[52][53] Hai anh em bị lật đổ và sát hại sau khi nhận ra một cách muộn màng sự phản bội của người mà mình tin tưởng.[54][55]
Sau sự sụp đổ của gia đình họ Ngô, công chúng Nam Việt Nam đã gây áp lực lên phía Nhà Trắng, yêu cầu có một lập trường cứng rắn đối với ông Cẩn.[56] Cùng thời điểm đó, người ta phát hiện một hố chôn tập thể chứa khoảng 200 xác chết trong đất của ông. Lãnh sự Hoa Kỳ tại Huế John Helble xác nhận sự tồn tại của các dãy ngục tối kiểu thế kỷ 18 với những phòng giam bẩn thỉu, tối tăm ở khu Chín Hầm. Nơi đây vốn được người Pháp xây làm kho chứa vật liệu, vũ khí.[57] Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp, người Nhật thu gom toàn bộ vũ khí ở đây, khu Chín Hầm bị bỏ trống.[58] Sau khi nắm quyền, ông Cẩn cho cải tạo các căn hầm này làm trại giam.[3] Dù tướng Trần Văn Đôn đã khẳng định với người dân rằng khu phức hợp này đã có từ thời Pháp thuộc, nhưng họ vẫn coi ông Cẩn như một kẻ giết người hàng loạt. Vào ngày 4 tháng 11, hai ngày sau khi cuộc đảo chính kết thúc, hàng nghìn dân thường giận dữ đã cuốc bộ ba cây số đến dinh thự của Cẩn tọa lạc ở vùng ngoại ô phía nam Huế – nơi ông đang sống với người mẹ già – để báo thù. Chính quyền quân sự dùng dây thép gai và xe bọc thép bao vây khuôn viên nhà, dự đoán rằng dân chúng sẽ nổi loạn và tấn công ông Cẩn.[56] Tuy nhiên, lúc này ông Cẩn đã chạy vào ẩn náu trong nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế và đang cân nhắc việc xin người Mỹ cho phép tị nạn chính trị.[56] Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: che chở cho ông Cẩn đồng nghĩa rằng họ đang bảo vệ một chế độ độc tài thối nát đã tra tấn và giết hại hàng trăm ngàn dân thường, còn nếu để cho đám đông căm phẫn tấn công ông Cẩn thì sẽ khiến danh tiếng của chính quyền quân sự mới do Hoa Kỳ hậu thuẫn bị tổn hại.[56][59] Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi đó đã ra chỉ thị:
"Ngô Đình Cẩn cần được cấp quyền tị nạn nếu ông ta gặp nguy hiểm về mặt thể chất từ bất kỳ phía nào. Nếu [ông ta] được cấp quyền tị nạn, [hãy] giải thích cho chính quyền Huế [hiểu] rằng bạo lực sẽ làm tổn hại đến uy tín của chế độ mới trên trường quốc tế. Cũng xin nhắc lại với họ rằng Hoa Kỳ từng có hành động tương tự để bảo vệ Thích Trí Quang khỏi chính quyền ông Diệm và trường hợp ông Cẩn lần này cũng tương tự như vậy."[59]
Tòa Bạch Ốc gửi điện tín đến Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào ngày 4 tháng 11 đồng ý di tản mẹ con ông Cẩn. Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân đoàn I của QLVNCH – người từng tham gia đàn áp Phật tử ở Huế – có nói riêng với Cẩn rằng chính quyền sẽ cho phép ông rời khỏi Việt Nam an toàn. Sang ngày 5 tháng 11, ông Cẩn đến lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Huế cùng một chiếc vali chứa đầy Mỹ kim. Cũng trong sáng ngày hôm đó, tướng Trí được lệnh của Hội đồng Quân nhân Cách mạng đưa hai mẹ con ông Cẩn về Sài Gòn.[60] Trí chỉ hứa rằng hai người sẽ an toàn lên một máy bay Mỹ vào Sài Gòn, tại đó quan chức sứ quán sẽ tiếp đón.[59] Trên chuyến bay, ông Cẩn được tháp tùng bởi bốn người Mỹ: một phó lãnh sự, hai quân cảnh và một trung tá quân đội.[56] Cẩn lúc bấy giờ đã có ý định xin tị nạn tại Nhật Bản.[59]
Song Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge, Jr. lại có phương án khác.[61] Thoạt đầu khi biết tin Ngô Đình Cẩn đang tị nạn tại Lãnh sự quán Hoa Kỳ, Đỗ Cao Trí đến Tòa lãnh sự Mỹ cảnh báo cơ quan này đừng chứa chấp ông Cẩn vì nếu dân chúng Huế xông vào đập phá Tòa lãnh sự và hành hung ông Cẩn thì không có lực lượng nào đủ khả năng bảo đảm an ninh. Tòa lãnh sự Mỹ quyết định trao trả Ngô Đình Cẩn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa.[62] Do vậy, thay vì cử các quan chức sứ quán đến sân bay Tân Sơn Nhất tiếp đón mẹ con ông Cẩn, Lodge đã cử nhân viên CIA Lucien Conein – người từng hỗ trợ nhóm tướng lĩnh lập kế hoạch đảo chính ông Diệm.[61] Conein đón bắt ông Cẩn ngay tại sân bay và bàn giao cho lực lượng đảo chính rồi giam nhốt tại khám đường Chí Hòa. Đại sứ Lodge nói rằng Tướng Đôn đã hứa sẽ xử lý ông Cẩn "về mặt pháp lý và tư pháp". Ông báo với Washington rằng Hoa Kỳ không cần phải cấp phép tị nạn cho ông Cẩn nữa, nói rằng: "Đối với tôi, dường như lý do chúng ta cho ông ta tị nạn không còn tồn tại".[59][63] Ông cũng nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không thể can thiệp vào các vấn đề liên quan tới tư pháp, vì ông Cẩn "chắc chắn là một nhân vật đáng trách, một người xứng với tất cả sự ghê tởm mà ông ta hiện đang phải nhận". Lodge lập luận rằng nếu Cẩn không bị giết, việc bảo vệ ông có thể tạo ấn tượng rằng Hoa Kỳ ủng hộ các hoạt động trái với luật pháp. Đại sứ Lodge từng kể lại rằng Quốc trưởng Dương Văn Minh khi đó từng đảm bảo ông Cẩn sẽ nhận được sự khoan hồng ngay cả khi bị kết án tử hình. Tuy nhiên, lời nói này mâu thuẫn với Conein khi ông khẳng định lực lượng đảo chính thực tế muốn ông Cẩn phải chết.[59]
Trong vụ xét xử, ông Cẩn đã phải đối mặt với những điều bất lợi ngay từ đầu, khi hàng ngàn tù nhân chính trị được trả tự do đã lần lượt tường thuật những câu chuyện về các vụ tra tấn dưới bàn tay của anh em họ Ngô.[63]
Xét xử và xử tử
Có tin cho rằng tướng Nguyễn Khánh – người tham gia lật đổ Dương Văn Minh trong cuộc đảo chính tháng Giêng năm 1964 – đã đề nghị cho Ngô Đình Cẩn ra nước ngoài sống lưu vong với điều kiện ông Cẩn phải chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của mình ở Thụy Sĩ. Ông Cẩn từ chối, khẳng định mình không có tiền. Trong hồi ký, Trần Văn Đôn cho rằng trước sau gì ông Khánh cũng sẽ xử tử Cẩn, vì ông nắm giữ nhiều thông tin về hành vi tham nhũng của các tướng lĩnh tham gia đảo chính.[64] Dưới thời Ngô Đình Diệm, Nguyễn Khánh chỉ huy Quân đoàn II QLVNCH hoạt động ở Tây Nguyên dưới sự giám sát của Ngô Đình Cẩn.[65][66] Mặc dầu đã giúp bắt ông Cẩn, Lodge vẫn khuyên Khánh nên kiềm chế và cân nhắc giảm nhẹ bản án vì lo ngại án tử hình có thể gây ra làn sóng phản đối trong lòng giáo dân cũng như những phản ứng tiêu cực từ dư luận quốc tế.[67]
Bản thân ông Cẩn phải đối mặt với nhiều cáo buộc đến từ các nhân chứng tự nhận là nạn nhân của chế độ Ngô Đình Diệm.[67] Trong phiên tòa xét xử, Hòa thượng Thích Trí Quang cùng các nguyên đơn khác kiên quyết bác bỏ bản án khoan hồng và vận động đòi án tử cho ông Cẩn.[67] Lý do mà họ đưa ra là nếu còn sống, ông Cẩn có thể tìm cách khôi phục quyền lực do gia đình họ Ngô vẫn còn nhiều người ủng hộ. Ban đầu Đại sứ Lodge chỉ trích việc Thích Trí Quang vận động đòi xử tử Ngô Đình Cẩn.[68] Trong một cuộc gặp gỡ với Lodge vào đầu tháng 4 năm 1964, Thượng tọa Thích Trí Quang cảnh báo rằng sự ủng hộ của Phật giáo đối với Washington trong cuộc chiến chống Cộng sẽ bị suy giảm nếu người Mỹ không ủng hộ một bản án đủ cứng rắn cho ông Cẩn.[67] Vào ngày ngày 22 tháng 4 năm 1964, Ngô Đình Cẩn bị Tòa án Cách mạng tuyên án tử hình.[69] Ít ngày sau, ông Cẩn đệ đơn lên Quốc trưởng Dương Văn Minh xin ân xá. Đồng thời, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng gửi thư xin ân xá với lý do ông Cẩn đang mắc bệnh nặng và không còn sống được bao lâu, nên không cần thiết phải hành quyết.[70] Tình huống này một lần nữa đặt ông Minh vào vị trí nắm giữ quyền sinh sát một thành viên gia đình họ Ngô, vì trước đó chính ông là người trực tiếp ra lệnh cho cận vệ Nguyễn Văn Nhung giết chết Diệm và Nhu trong cuộc đảo chính.[71]
Trong quá trình diễn ra phiên tòa, bệnh tình tiểu đường của ông Cẩn ngày càng trở nên trầm trọng còn mẹ già của ông cũng qua đời. Đến ngày 9 tháng 5 năm 1964, do sức khỏe suy yếu và không thể tự đi lại, ông phải được cáng ra sân trong nhà tù. Tại đây, ông được hai lính canh và hai linh mục Công giáo hỗ trợ để đứng dựa vào cột. Ông từ chối bịt mắt, bày tỏ mong muốn được tận mắt chứng kiến cuộc hành quyết của mình. Song đề nghị ấy bị từ chối và ông đã bị xử bắn trước sự mục kích của khoảng 200 người.[60]
Đại sứ Lodge lên tiếng phủ nhận trách nhiệm của mình trong vụ án, tuyên bố rằng Hoa Kỳ đã làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn việc thi hành án tử hình. Mặc dù từng tuyên bố cho phép ông Cẩn tị nạn tại Đại sứ quán Hoa Kỳ,[64] nhưng thực ra chính Lodge là người ra lệnh cho Conein chặn bắt ông Cẩn tại Tân Sơn Nhất.[63] Linh mục Phaolô Cao Văn Luận – viện trưởng Viện Đại học Huế, người từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm cách chức do không áp dụng các biện pháp cứng rắn đối với phong trào sinh viên Phật giáo – đề nghị Đại sứ Lodge không được xử tử Cẩn. Theo linh mục Luận, Lodge từng cam kết với ông rằng vụ hành quyết sẽ không diễn ra.[64]
Thi thể ông Cẩn được chôn cất tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất, về sau quy tụ về nghĩa trang Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương), an nghỉ cùng hai người anh Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và thân mẫu Phạm Thị Thân.[72] Sau khi qua đời, số tài sản cá nhân của ông Cẩn đã được quyên góp cho các tổ chức từ thiện Công giáo thông qua những ngân hàng ngoại quốc.[73]
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- 1 2 Các học giả hiện vẫn chưa đạt được đồng thuận về ngày sinh chính thức của Ngô Đình Cẩn. Các nguồn tán thành năm 1911 đều chỉ nêu mỗi năm sinh mà không có ngày sinh cụ thể. Theo sổ rửa tội được lưu giữ tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam (Huế) thì ông Cẩn sinh ngày 1 tháng 11 năm 1910.[1] Nhưng thông tin này mâu thuẫn với ngày sinh của anh ruột ông là Ngô Đình Nhu bởi vì theo thông tin chính thức thì ông Nhu sinh ngày 7 tháng 10 năm 1910, do đó việc ông Cẩn chào đời chỉ sau chưa đầy một tháng từ cùng một người mẹ là điều bất hợp lý.
- ↑ Có một giai thoại kể lại rằng Ngô Đình Cẩn đặc biệt sùng bái ông già Phú Sơn (頭山 満, Tōyama Mitsuru) của Hắc Long hội (黑龍會 kokuryūkai), một nhóm bán quân sự theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan nổi tiếng ở Nhật Bản. Ông Cẩn thường kể với bạn bè các câu chuyện về chính đảng Hắc Long, về phong thái của ông già Phú Sơn khi gặp Nhật Hoàng. Chính vì vậy, bản thân ông Cẩn đôi khi cũng tự xưng là "ông già Phú Sơn". Xem: Phan Văn 1996, tr. 24
- ↑ Nam Nghĩa là tên cũ của Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay
- ↑ Tập ấm (襲蔭) là một từ cũ, dùng để chỉ một người được cấp hàm ấm sinh (廕生) – tức người học trò được hưởng sự che chở từ ông cha, thường là quan lại cấp cao trong triều. Theo truyền thống, người con trai trưởng được hưởng tập ấm.
Chú thích
- 1 2 Phan Bùi Bảo Thy 2013
- ↑ Phan Văn 1996, tr. 24.
- 1 2 Bảo tàng tổng hợp Thừa Thiên Huế 2002, tr. 35.
- ↑ Lê Cung 2006, tr. 38, 42.
- 1 2 Nguyệt Đam & Thần Phong 1964, tr. 258.
- 1 2 3 4 Jones 2003, tr. 205
- ↑ Phan Văn 1996, tr. 47.
- 1 2 Jacobs 2006, tr. 18–19
- 1 2 Tucker 2000, tr. 288–293
- ↑ Thích Nhật Từ & Nguyễn Kha 2013, tr. 233.
- ↑ Tucker 2000, tr. 292.
- 1 2 3 Hammer 1987, tr. 114
- ↑ Tucker 2000, tr. 326.
- ↑ Jacobs 2006, tr. 21.
- ↑ Karnow 1997, tr. 210.
- ↑ Buttinger 1967, tr. 1253.
- ↑ Ban biên tập VietNamNet 2013.
- ↑ Tucker 2000, tr. 142.
- 1 2 Jacobs 2006, tr. 22–25
- 1 2 Miller 2004
- ↑ Tucker 2000, tr. 366.
- 1 2 Karnow 1997, tr. 239
- ↑ Bộ ngoại giao Việt Nam 2004, tr. 498–499.
- ↑ Jacobs 2006, tr. 95
- 1 2 Miller 2004, tr. 207
- ↑ Miller 2004, tr. 208
- ↑ Mặc Lâm & Vũ Quốc Thúc 2016, tr. 243.
- ↑ Phan Văn 1996, tr. 4.
- ↑ Buttinger 1967, tr. 955.
- ↑ Lý Quí Chung 2004, tr. 37.
- 1 2 3 4 Buttinger 1967, tr. 954–55
- ↑ Lê Cung 2006, tr. 38.
- ↑ Scigliano 1964, tr. 58
- ↑ Phan Văn 1996, tr. 3.
- ↑ Phan Văn 1996, tr. 5.
- ↑ Tucker 2000, tr. 59.
- 1 2 3 Tucker 2000, tr. 288–89
- 1 2 Karnow 1997, tr. 246
- 1 2 Langguth 2000, tr. 99
- 1 2 Buttinger 1967, tr. 1149–50
- ↑ Pomonti 2006, tr. 64.
- ↑ Karnow 1997, tr. 273.
- ↑ Jones 2003, tr. 217.
- ↑ Hammer 1987, tr. 105–10.
- ↑ Lê Cung 2006, tr. 42.
- ↑ Phan Văn 1996, tr. 177.
- ↑ Hammer 1987, tr. 116.
- 1 2 Prochnau 1995, tr. 411
- ↑ Jacobs 2006, tr. 142–52.
- ↑ Jacobs 2006, tr. 152–53.
- ↑ Karnow 1997, tr. 317.
- ↑ Karnow 1997, tr. 318–22.
- ↑ Tô Huy Rứa 2010, tr. 311.
- ↑ Karnow 1997, tr. 326.
- ↑ Quốc Đại 2003, tr. 11–12.
- 1 2 3 4 5 Jones 2003, tr. 433
- ↑ Bảo tàng tổng hợp Thừa Thiên Huế 2002, tr. 33.
- ↑ Bảo tàng tổng hợp Thừa Thiên Huế 2002, tr. 34.
- 1 2 3 4 5 6 Hammer 1987, tr. 305–06
- 1 2 Lý Quí Chung 2004, tr. 39.
- 1 2 Lý Quí Chung 2004, tr. 38.
- ↑ Nguyễn Đắc Xuân 2012.
- 1 2 3 Jones 2003, tr. 434
- 1 2 3 Hammer 1987, tr. 306–07
- ↑ Tucker 2000, tr. 299
- ↑ Tucker 2000, tr. 580
- 1 2 3 4 McAllister 2008, tr. 760
- ↑ McAllister 2008, tr. 778
- ↑ Hoành Linh Đỗ Mậu 1987, Chương 16.
- ↑ N.N.P. 2009
- ↑ Karnow 1997, tr. 325–26.
- ↑ Trung Sơn 2016
- ↑ Langguth 2000, tr. 258.
Thư mục
- Ban biên tập VietNamNet (ngày 27 tháng 1 năm 2013). "Thú vui của 'bạo chúa miền Trung' Ngô Đình Cẩn". VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020.
- Bảo tàng tổng hợp Thừa Thiên Huế (2002). Di tích lịch sử vǎn hóa Thừa Thiên Huế. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa. OCLC 604010789.
- Bộ ngoại giao Việt Nam (2004). Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. OCLC 253894516.
- Buttinger, Joseph (1967). Vietnam: A Dragon Embattled (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Praeger Publishers. OCLC 411224.
- Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963 (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: E. P. Dutton. ISBN 0-525-24210-4. OCLC 230884592.
- Jacobs, Seth (2006). Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in Vietnam, 1950–1963 (bằng tiếng Anh). Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-4447-8. OCLC 607639087.
- Hoành Linh Đỗ Mậu (1987). Việt-Nam máu lửa quê hương tôi: hồi-ký chính trị: bổ túc hồ sơ về sự sụp-đổ của Việt-Nam Cộng-Hòa. Bản điện tử. Mission Hills, Calififornia: Nhà xuất bản Quê Hương. OCLC 221367638.
- Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 0-19-505286-2. OCLC 474424086.
- Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A History (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Penguin Books. ISBN 0-670-84218-4. OCLC 982647406.
- Langguth, A. J. (2000). Our Vietnam: the war, 1954–1975 (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-81202-9. OCLC 1158436592.
- Lê Cung (2006). "Huế – Nơi mở đầu phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963". Viện sử học. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Hà Nội: Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. ISSN 0866-7497. OCLC 259818348.
- Lý Quí Chung (2004). Chánh Trinh: hồi ký không tên. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. OCLC 64588731.
- Mặc Lâm; Vũ Quốc Thúc (2016). Việt Nam, 40 Năm Sau. Đài Á Châu Tự Do. ISBN 978-1-63218-077-3.
- McAllister, James (2008). "'Only Religions Count in Vietnam': Thich Tri Quang and the Vietnam War". Modern Asian Studies (bằng tiếng Anh). Quyển 42 số 4. tr. 751–782. doi:10.1017/s0026749x07002855. ISSN 0026-749X. JSTOR 20488040.
- Miller, Edward (2004). Grand Designs, Vision, Power and Nation Building in America's Alliance with Ngo Dinh Diem, 1954–1960 (bằng tiếng Anh). Đại học Harvard. JSTOR 20072608. OCLC 228512797.
- Miller, Edward (tháng 10 năm 2004). "Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngo Dinh Diem". Journal of Southeast Asian Studies (bằng tiếng Anh). Quyển 35 số 3. Singapore: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 433–58. doi:10.1017/S0022463404000220. JSTOR 20072608.
- Nguyễn Đắc Xuân (ngày 10 tháng 1 năm 2012). "Huế - những tháng ngày sục sôi - Kỳ 6: Số phận Ngô Đình Cẩn". Tuổi Trẻ Online. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
- Nguyệt Đam; Thần Phong (1964). Chín năm máu lửa dưới chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Sài Gòn: Tác giả xuất bản. OCLC 11778681.
- N.N.P. (ngày 8 tháng 7 năm 2009). "Phút cuối của Ngô Đình Cẩn". An ninh thế giới. Công an Nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
- Phan Văn (1996). Đoàn mật vụ của Ngô Đình Cẩn: sách tham khảo của lực lượng CAND. Hà Nội: Nhà xuất bản Công an Nhân dân. LCCN 97948329. OCLC 38147986.
- Pomonti, Jean-Claude (ngày 23 tháng 3 năm 2006). Un Vietnamien bien tranquille: l'extraordinaire histoire de l'espion qui défia l'Amérique (bằng tiếng Pháp). Paris: Éditions des Équateurs. ISBN 978-2-84990-034-5. OCLC 237119430.
- Quốc Đại (2003). Ai giết anh em Ngô Đình Diệm: sách tham khảo. Sơn La: Nhà xuất bản Thanh niên. OCLC 470752509.
- Prochnau, William (1995). Once upon a Distant War (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Times Books. ISBN 0-8129-2633-1.
- Phan Bùi Bảo Thy (ngày 19 tháng 1 năm 2013). "Những chuyện ít biết về "bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn". An ninh thế giới. Công an Nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2020.
- Scigliano, Robert (1964). South Vietnam: Nation Under Stress (bằng tiếng Anh). Boston, Massachusetts: Houghton Mifflin. ISBN 0313205957. OCLC 2294565.
- Thích Nhật Từ; Nguyễn Kha (2013). Pháp nạn Phật giáo 1963: Nguyên nhân, bản chất và tiến trình. Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay.
- Tô Huy Rứa (2010). Lịch sử Nam bộ kháng chiến – Tập 2: 1954-1975. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật. OCLC 753867822.
- Trung Sơn (ngày 28 tháng 8 năm 2016). "Công viên Lê Văn Tám - nghĩa trang của người giàu Sài Gòn xưa". VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2020.
- Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History (bằng tiếng Anh). Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9. OCLC 1021774760.
Đọc thêm
- Dương Phước Thu (2006). Tử ngục Chín Hầm và những điều ít biết về Ngô Đình Cẩn. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa. OCLC 124061551.
- Hà Hoàng (2002). Sài Gòn đoạn kết bản trường ca. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Vǎn nghệ. OCLC 62718546.
- Lê Xuân Nhuận (2002). "Cảnh-sát-hóa", quốc-sách yểu-tử của Việt-Nam Cộng-Hòa: hồi-ký. Alameda, California: Nhà xuất bản Xây Dựng. ISBN 978-0-9665293-7-1. OL 5883177W.
- Nguyễn Đắc Xuân (2000). Hỏi đáp về Triều Nguyễn và Huế xưa. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. OCLC 46707742.
- Nguyễn Văn Minh (2004). Dòng họ Ngô Đình: Ước mơ chưa đạt. Garden Grove, California: Hoàng Nguyên. OCLC 60788070.
- Trần Độ (1989). Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ Ngô Đình Diệm: hồi-ký. San Diego, California: Nhà xuất bản Mẹ Việt Nam. OCLC 68626030.
