Nguyễn Đức Thiệng
Nguyễn Đức Thiệng | |
|---|---|
Chức vụ | |
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền | |
| Nhiệm kỳ | 1969 – 1972 |
| Đại biện | Vũ Xuân Áng |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Văn Phát |
| Kế nhiệm | Nguyễn Văn Thắng |
| Vị trí | Algérie kiêm nhiệm Sénégal |
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền | |
| Nhiệm kỳ | 1966 – 1969 |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Thương |
| Kế nhiệm | |
| Vị trí | Guinea kiêm nhiệm Cộng hòa Congo |
Quyền Vụ trưởng Vụ Tây Á – Phi châu | |
| Nhiệm kỳ | 1963 – 1964 |
| Tiền nhiệm | Hoàng Mười[3] |
| Kế nhiệm | Hoàng Bảo Sơn[4] |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 15 tháng 1, 1922 Nghệ An. Liên bang Đông Dương |
| Mất | 27 tháng 7, 1998 (76 tuổi) Việt Nam |
| Nghề nghiệp | Nhà ngoại giao |
| Đảng chính trị | Tháng 11, 1945 |
Nguyên Đức Thiệng (1922 – 1998) là một nhà ngoại giao người Việt Nam, ông từng là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Algérie kiêm nhiệm Sénégal và Guinea kiêm nhiệm Congo-Brazzaville.
Tiểu sử
Nguyễn Đức Thiệng sinh ngày 15 tháng 1 năm 1922, trong một gia đình nông dân tại xã Bắc Thành, huyện Yên Thành (nay là xã Quan Thành) tỉnh Nghệ An. Ông qua đời ngày 27 tháng 7 năm 1998 sau một cơn đau tim.[5]
Sự nghiệp
Từ năm 1936 đến năm 1941, Nguyên Đức Thiệng hoạt động trong hai tổ chức Tân Việt Cách mệnh Đảng và Mặt trận phản đế tại quê nhà. Đầu năm 1941, Nguyễn Đức Thiệng bị Pháp bắt giam 1 tháng tại nhà giam Yên Thành, sau này ông được thả cùng với Phan Thế Nghiện. Giữa năm 1945, ông được Chu Văn Biên giao trách nhiệm xây dựng tổ chức Việt Minh tại xã Tân Thành(nay là Quan Thành) và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương, trở thành Chủ tịch Việt Minh kiêm Phó Chủ tịch ủy ban xã đầu tiên của xã Tân Thành từ ngày 25 tháng 8 năm 1945.[5]
Tháng 11 năm 1945, Nguyên Đức Thiệng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Chấp hành Huyện ủy Yên Thành, sau đó ông tổ chức thành lập chi bộ đảng đầu tiên của xã Tân Thành và giữ chức Bí thư. Năm 1946 và 1948, ông lần lượt được bầu làm Chủ tịch mặt trận Liên Việt và Bí thư Huyện ủy Yên Thành, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Đầu năm 1950 đến đầu 1952, Nguyên Đức Thiệng giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức của Tỉnh ủy Nghệ An. Giữa năm 1952, ông làm thường trực tuyên huấn Ủy ban phát động quần chúng giảm tô của Liên khu IV. Từ năm 1953 đến năm 1955, được cử đi học ở nước ngoài.[5]
Đầu năm 1955, Nguyên Đức Thiệng được cử làm Bí thư thứ nhất đại biện lâm thời kiêm Bí thư chi bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Hungary. Năm 1961, được điều về lần lượt làm Phó Vụ trưởng của Vụ tổ chức và Liên Xô Đông Âu thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. Năm 1963, ông được bỏ nhiệm làm Quyền Vụ trưởng Vụ Tây Á – Phi châu.[5][6]
Năm 1964 đến năm 1966, Nguyên Đức Thiệng được điều sang làm Tham tán Công sứ tại Cộng hòa Dân chủ Đức.[5]
Từ năm 1966 đến tháng 5 năm 1972, điều làm Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Guinea kiêm nhiệm Congo-Brazzaville.[7][5][8] Ông được cho là người đã tặng cuốn sách “Châu Phi tiến bước - Tập X” cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 3 tháng 12 năm 1968, cuốn sách đang được trưng bài tại di tích Nhà BK1 trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch.[9]
Từ tháng 7 năm 1969 đến 7 năm 1972, Nguyên Đức Thiệng là đại sứ Việt Nam tại Algérie, kiêm nhiệm thêm Sénégal từ năm 1970.[5][10]
Từ năm 1972 đến khi về hưu năm 1986, Nguyễn Đức Thiệng giữ các chức vụ Thường trực ủy ban, Phó Chủ tịch Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam và Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh xâm lược của Trung Quốc. Từ 1990, ông là thành viên ủy ban điều tra chất độc hóa học.[5]
Khen thưởng
- Huân chương Độc lập – hạng Ba[5]
- Huân chương Kháng chiến chống Pháp – hạng Nhì[5]
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước – hạng Nhất[5]
- Huy hiệu 50 tuổi Đảng[5]
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ Đại sứ tại Guinea
- ↑ Đại sứ tại Cộng hòa Congo
- ↑ Quyền Vụ trưởng
- ↑ Vụ trưởng
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Ngô Đức Tiến (ngày 20 tháng 6 năm 2020). "Nguyễn Đức Thiệng: Người cộng sản liêm chính, mẫu mực, ngòi bút chính luận sắc bén". Báo và Phát thanh, Truyền hình Nghệ An. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 120, 420.
- ↑ Nghị quyết 255 NQ/TVQH (1966)
- ↑ "Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh (trang 526)". Bảo tàng Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Nguyễn Thị Thu (ngày 22 tháng 9 năm 2021). "Cuốn sách "Châu Phi tiến bước" trong Nhà BK1". Khu Di tích Phủ Chủ tịch. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Nghị quyết 763 NQ/TVQH (1969) và 961 NQ/TVQH (1970)