Nguyễn Duân
Bài viết hoặc đoạn này cần được wiki hóa để đáp ứng tiêu chuẩn quy cách định dạng và văn phong của Wikipedia. (tháng 1/2026) |
Nguyễn Duân | |
|---|---|
Chức vụ | |
| Nhiệm kỳ | 2 tháng 3 năm 1946 – 5 tháng 7 năm 1960 |
| Đại diện | Quảng Ngãi |
| Nhiệm kỳ | 6 tháng 7 năm 1960 – 24 tháng 6 năm 1964 |
| Đại diện | Quảng Ngãi |
| Nhiệm kỳ | 25/06/1964 – 06/06/1971 |
| Đại diện | Quảng Ngãi |
Tổng công ty Xuất nhập khẩu Biên giới - | |
| Nhiệm kỳ | 1967 – 1974 |
Thông tin cá nhân | |
| Sinh | 16 tháng 6, 1911 |
| Mất | 31 tháng 1, 1987 |
| Nghề nghiệp | |
| Đảng chính trị | |
| Vợ | Trần Thị Cơ |
Nguyễn Duân
Nguyễn Duân (16 tháng 6 năm 1911 – 31 tháng 1 năm 1987), bí danh Cửu, là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách người Việt Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội Việt Nam liên tiếp ba khóa (Khóa I, II, III) đại diện cho tỉnh Quảng Ngãi, nguyên Ủy viên kinh tế Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Ngãi và là Giám đốc đầu tiên của Tổng công ty Xuất nhập khẩu Biên giới (FRONTARIMEX) trực thuộc Bộ Ngoại thương.
Thân thế
Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm 1911 (một số tài liệu ghi ngày 16 tháng 11) tại xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Xuất thân trong một gia đình phú nông, ông sớm tiếp nhận tư tưởng yêu nước và tham gia phong trào cách mạng từ năm 1931.
Sự nghiệp cách mạng và chính trị
Giai đoạn 1931 – 1945
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1931. Trong suốt thời kỳ vận động giải phóng dân tộc, ông hoạt động bí mật tại địa phương và bị thực dân Pháp theo dõi gắt gao. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông là một trong những cán bộ nòng cốt củng cố tổ chức Đảng tại Quảng Ngãi, được kết nạp lại vào Đảng ngày 1 tháng 10 năm 1945.
Giai đoạn chính quyền non trẻ và kháng chiến chống Pháp
Tháng 8 năm 1945, khi tỉnh Quảng Ngãi được đổi tên thành tỉnh Lê Trung Đình, ông tham gia Ủy ban Cách mạng Lâm thời và sau đó giữ chức Ủy viên kinh tế trong Ủy ban Hành chính tỉnh.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Quảng Ngãi cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Hồ Thiết và 5 đại biểu khác. Ông giữ vai trò đại biểu dân cử xuyên suốt giai đoạn kháng chiến chống Pháp tại Liên khu 5. Năm 1951, ông được cử đi đào tạo lý luận chính trị tại Trung Quốc.
Giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa và kháng chiến chống Mỹ
Sau năm 1954, ông tiếp tục được cử tri Quảng Ngãi bầu vào Quốc hội Khóa II (1960–1964) và Khóa III (1964–1971). Trong thời kỳ này, ông là Ủy viên Ủy ban Dân tộc của Quốc hội.
Về mặt chính quyền, ông chuyển công tác về Bộ Ngoại thương. Năm 1967, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc đầu tiên của Tổng công ty Xuất nhập khẩu Biên giới (FRONTARIMEX). Tại đây, ông có đóng góp quan trọng trong việc điều phối hàng viện trợ quốc tế chi viện cho chiến trường miền Nam và giúp đỡ cách mạng hai nước bạn Lào, Campuchia.
Ông mất ngày 31 tháng 1 năm 1987.
Khen thưởng
Do những cống hiến cho sự nghiệp độc lập dân tộc, ông đã được trao tặng:
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất (chống Pháp, 1963)
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất (chống Mỹ)
- Huân chương Độc lập hạng Ba (truy tặng năm 1986)
Liên kết ngoài
Việt Nam Dân Quốc Công Báo (Ra ngày thứ bẩy), Số 15, 13 Tháng Tư 1946
Đại biểu quốc hội Việt Nam khóa I
Đại biểu quốc hội Việt Nam khóa II