Nguyễn Văn Lưu (luật sư)
Nguyễn Văn Lưu | |
|---|---|
![]() | |
Chức vụ | |
Trưởng đoàn đại diện Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ | 1978 – 1978 |
| Tiền nhiệm | Đinh Bá Thi |
| Kế nhiệm | Hà Văn Lâu |
| Vị trí | Trụ sở Liên Hiệp Quốc |
Trưởng đoàn đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa | |
| Nhiệm kỳ | 1975 – 1978 |
| Vị trí | Trụ sở Liên Hiệp Quốc |
Vụ trưởng Vụ Tổ chức quốc tế, Hội nghị quốc tế, Điều ước và Luật pháp quốc tế | |
| Nhiệm kỳ | 2/1975 – 7/1975 |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu tư liệu | |
| Nhiệm kỳ | 1966 – |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
Tổng Thư ký Văn phòng Bộ | |
| Nhiệm kỳ | 1945 – 1947 |
| Tiền nhiệm | (chức vụ thành lập) |
| Kế nhiệm | Trần Văn Tuyên[1] |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
| Nhiệm kỳ | 3/1946 – 7/1947 |
| Tiền nhiệm | (chức vụ thành lập) |
| Kế nhiệm | Phan Mỹ |
| Đồng cấp: Tố Hữu, Lê Văn Lương | |
Cục trưởng Cục Cơ yếu | |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Đắc Chức |
| Kế nhiệm | Lại Ngọc Đoàn |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Nghề nghiệp | Luật sư, nhà ngoại giao |
| Đảng chính trị | |
Nguyễn Văn Lưu (? – ?) là một luật sư, nhà ngoại giao người Việt Nam. Ông từng là đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại trụ sở Liên Hợp Quốc, sau đó là đại diện thứ hai của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại đây kế nhiệm Đinh Bá Thi.[2]
Nguyễn Văn Lưu nguyên là Chánh Văn phòng Chủ tịch Chính phủ.[3] Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam như Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Cơ yếu, Chủ tịch Công đoàn Bộ.[4]
Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Văn Lưu (luật sư)
Nguyễn Văn Lưu thuộc nhóm 20 cán bộ đầu tiên khi Bộ Ngoại giao Việt Nam được thành lập với tên gọi Tổ Tham nghị / Ban Nghị sự, lúc này ông là 1 trong 5 người có vai trò cao nhất gồm Bùi Lâm, Trần Đình Long, Tạ Quang Bửu và Nguyễn Đức Thụy; ông giữ vai trò Tổng Thư ký.[5][6][7][8] Từ 1945 đến 1947, ông là Tổng Thư ký Văn phòng (tương đương Chánh Văn phòng) Bộ Ngoại giao, Chánh Văn phòng Chủ tịch Chính phủ, sau đó được kế nhiệm bởi ông Phan Mỹ.[9][10][3]
Từ cuối năm 1953 đến đầu năm 1954, Việt Nam mở 3 “Biện sự sứ” (tương đương Tổng Lãnh sự quán) ở Côn Minh – Vân Nam, Quảng Châu – Quảng Đông cà Nam Ninh – Quảng Tây. Nguyễn Văn Lưu phụ trách Biên niện sứ tại Nam Ninh.[7] Năm 1956, lớp đào tạo về ngoại giao được thành lập tại trường Bưởi do Ung Văn Khiêm làm Hiệu trưởng, Đinh Nho Liêm làm Phó Hiệu trưởng. Nguyễn Văn Lưu tham gia với vai trò giảng viên.[7]
Năm 1966, Vụ Nghiên cứu tư liệu được thành lập, Nguyễn Văn Lưu làm Vụ trưởng. Tháng 2 năm 1975, một Vụ Tổ chức quốc tế mới được thành lập với tên gọi “Vụ Tổ chức quốc tế, Hội nghị quốc tế, Điều ước và Luật pháp quốc tế” Nguyễn Văn Lưu là Vụ trưởng.[7]
Tháng 7 năm 1975, Việt Nam cử Đinh Bá Thi đại diện Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nguyễn Văn Lưu đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Liên Hợp Quốc vận động quốc tế kết nạp hai chính thể của Việt Nam vào tổ chức này.[11][12] Năm 1976, hai chính thể này sáp nhập làm một, trở thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam). Năm 1977 Năm 1978, Đinh Bá Thi - Trưởng đoàn đại diện của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc - vướng phải vụ án tình báo Trương Đình Hùng nên phải về nước, Nguyễn Văn Lưu là người kế nhiệm vai trò này.[7][13]
Ấn bản Nguyễn Văn Lưu (luật sư)
Ông tham gia soạn tập 3 của bộ sách " Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật" do Nhà xuất bản Pháp lý phát hành năm 1990.[14]
Xem thêm Nguyễn Văn Lưu (luật sư)
Tham khảo Nguyễn Văn Lưu (luật sư)
- ↑ Tổng lý/Chánh Văn phòng
- ↑ Phạm Ngạc (ngày 25 tháng 8 năm 2020). "Đại sứ Phạm Ngạc: Tận tâm với ngành Ngoại giao". Báo Thế giới và Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 "Lãnh đạo Văn phòng Chính phủ các thời kỳ". Văn phòng Chính phủ. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 428, 430, 302, 447.
- ↑ Hoàng Vĩnh Thành. "Ngoại giao Việt Nam: Những tháng ngày lịch sử". Báo Thế giới và Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Kiều Mai Sơn (2025). Chân dung 15 vị Bộ trưởng Chính phủ lâm thời (PDF). Nhà xuất bản Kim Đồng. tr. 26.
- 1 2 3 4 5 Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 33, 126, 170, 235, 241.
- ↑ Tạ Quang Chính (ngày 18 tháng 7 năm 2024). "GS. Tạ Quang Bửu với hoạt động ngoại giao và Hiệp định Geneva 1954". Báo Thế giới và Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Tập 4 (PDF). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. 2016. tr. 43, 55.
- ↑ Đỗ Hoàng Linh (ngày 17 tháng 8 năm 2016). "Những người bảo vệ Bác Hồ từ sau ngày độc lập". Báo Công An Nghệ An. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Yên Bình (ngày 17 tháng 9 năm 2022). "Dấu ấn Việt Nam trong "ngôi nhà chung" Liên hợp quốc". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Phạm Hằng (ngày 22 tháng 9 năm 2017). "Liên hợp quốc - Nơi tôi đi qua non nửa cuộc đời". Báo Thế giới và Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Lê Thu (ngày 7 tháng 3 năm 2016). "Chân dung 'người Nhện' suýt phá nát CIA". VietNamNet. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Hồ Chí Minh - Nhà nước và pháp luật T.3". Thư viện Quốc gia Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
