Tứ trụ
Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước là nhóm lãnh đạo cao cấp nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong khẩu ngữ, nhóm chính khách còn được gọi là Tứ trụ hoặc thi thoảng là Ngũ trụ.
Nguyên gốc của thuật ngữ này xuất phát từ thời kỳ quân chủ tại Việt Nam, dùng để chỉ bốn vị quan "trụ cột" của triều đình, được sử dụng phổ biến dưới thời nhà Đinh và nhà Nguyễn. Hiện nay, thuật ngữ Tứ trụ hiện nay chủ yếu được dư luận, một số cơ quan báo chí, tổ chức truyền thông, các nhà phân tích độc lập cũng như các tiếng nói không chính thống ở Việt Nam sử dụng.
Dù có nhiều thay đổi trong xuyên suốt lịch sử hiện đại, hiện nay, thuật ngữ Tứ trụ dùng để chỉ nhóm chính khách gồm Tổng Bí thư kiêm nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và Thường trực Ban Bí thư. Chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước là chức vụ lãnh đạo cao nhất của Đảng và cũng là nguyên thủ quốc gia; Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu chính phủ; Chủ tịch Quốc hội là người đứng đầu Quốc hội Việt Nam và Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam; Thường trực Ban Bí thư là người lãnh đạo, chủ trì công việc thường ngày của Ban Bí thư.
Các khái niệm Tứ trụ thời phong kiến
Thời nhà Đinh
Tứ trụ triều Đinh là 4 vị tướng của vua là Tể tướng Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Thượng thư Trịnh Tú, Thái sư Lưu Cơ. Bốn vị này là những vị quan trong triều nhà Đinh được hậu thế tôn vinh là tứ trụ triều đình. Trong quần thể di sản thế giới Tràng An hiện nay có đền Tứ Trụ thờ 4 vị đại quan nói trên. Tại đền Vua Đinh Tiên Hoàng ở quần thể di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) cũng có tòa thiêu hương thờ Tứ trụ triều đình.
Sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Sử chép rằng Vua phong cho Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Đinh Điền là Ngoại giáp, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, Lưu Cơ làm Đô hộ Phủ Sĩ sư, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được làm Sùng chân Uy nghi và phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt vương. Danh xưng Tứ trụ triều Đinh là do đời sau tôn vinh.
Thời Nguyễn
Dưới thời Nguyễn, tứ trụ triều đình còn được hiểu là Tứ trụ Đại học sĩ là 4 chức quan Đại học sĩ cao cấp thời quân chủ Việt Nam:
- Cần Chánh điện Đại học sĩ
- Văn Minh điện Đại học sĩ
- Võ Hiển điện Đại học sĩ
- Đông Các Đại học sĩ
Bốn vị quan này đều hàm Chính nhất phẩm, cao hơn cả Thượng thư (hàm Chính nhị phẩm, tương đương Bộ trưởng thời nay) và Tổng đốc. Bình thường, vua chọn 4 viên quan cao cấp này để làm cố vấn và là thành viên Viện Cơ mật [cần dẫn nguồn]. Khi có biến, 4 viên quan đó ("Tứ trụ triều đình") mặc nhiên trở thành Phụ chính Đại thần và lập ra Hội đồng Phụ chính [cần dẫn nguồn]. Hội đồng Phụ chính là tổ chức cao cấp trong triều đình phong kiến [cần dẫn nguồn], chỉ hình thành khi vua vắng mặt hoặc còn nhỏ tuổi, để điều hành công việc đất nước. Giúp việc cho 4 Đại học sĩ này là Hiệp biện Đại học sĩ.
Lãnh đạo chủ chốt từ 1945 đến 1991

Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Các vị trí Chủ tịch nước và Chủ tịch Chính phủ (tức Thủ tướng) được thành lập và Hồ Chí Minh kiêm nhiệm cả hai vị trí. Hai vị trí này được hợp thức hóa bằng Hiến pháp 1946, cùng năm chức vụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tức Chủ tịch Quốc hội) chính thức được thành lập.
Từ thời điểm đó đến năm 1991 (trừ giai đoạn 1960 – 1969), 4 vị trí này chưa bao giờ cùng tham gia Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực nhất Đảng Cộng sản Việt Nam. Vị trí Tổng Bí thư và Thủ tướng là 2 vị trí luôn tham gia Bộ Chính trị từ ngày đầu thành lập. Trong khi đó, Chủ tịch nước giai đoạn 1969 – 1981, Chủ tịch Quốc hội giai đoạn 1946 – 1960 và 1981 – 1992 không tham gia Bộ Chính trị. Ngoài ra, trong giai đoạn 1951 – 1969 còn tồn tại vị trí Chủ tịch Đảng – vị trí quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cả 4 vị trí nói trên. Do đó, hệ thống Tứ trụ chưa thực sự hình thành trong suốt giai đoạn này.
Giai đoạn 1945 đến 1969
Trong giai đoạn này, quyền lực tập trung xoay quanh Chủ tịch Đảng kiêm Chủ tịch nước Hồ Chí Minh – lãnh đạo của Cách mạng Việt Nam. Bên cạnh vị trí của Hồ Chí Minh, cấu trúc quyền lực còn bao gồm Tổng Bí thư, Thủ tướng và thi thoảng là người đứng đầu Quốc hội (Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 1960 – 1976).
| Mốc thời gian | Chủ tịch Đảng | Chủ tịch nước | Tổng Bí thư[N 1] | Thủ tướng Chính Phủ | Lãnh đạo Lập pháp[N 2] | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2 tháng 9, 1945 – | Chức vụ chưa được thành lập | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | Trường Chinh (1907 – 1988) | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | Đương chức không tham gia Bộ Chính trị[N 3] | |||||
| 19 tháng 2, 1951 – 20 tháng 9, 1955 | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | |||||||||
| 20 tháng 9, 1955 – 5 tháng 10, 1956 | Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) | |||||||||
| 5 tháng 10, 1956 – | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | |||||||||
| 6 tháng 7, 1960 – 10 tháng 9, 1960 | Trường Chinh (1907 – 1988) | |||||||||
| 10 tháng 9, 1960 – 2 tháng 9, 1969 | Lê Duẩn (1907 – 1986) | |||||||||
Giai đoạn 1969 đến 1992
Sau khi Lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969, vị trí Chủ tịch Đảng bị bãi bỏ. Từ 1969 đến 1981, cấu trúc quyền lực xoay quanh ba vị trí: Tổng Bí thư, Thủ tướng và Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng không tham gia Bộ Chính trị. Vào năm 1981, Uỷ viên Bộ Chính trị Trường Chinh, người khi ấy đang giữ cương vị Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước sau khi Việt Nam trải qua thay đổi cấu trúc bộ máy nhà nước. Kể từ đó đến năm 1992, cấu trúc quyền lực xoay quanh Tổng Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (tức Chủ tịch nước) và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Thủ tướng) do những lãnh đạo quốc hội kế nhiệm Trường Chinh đều không tham gia Bộ Chính trị cho đến năm 1992. Do cấu trúc quyền lực chủ yếu xoay quanh 3 cá nhân nên trong cả giai đoạn từ 1969 đến 1992 thì nhóm chính khách này còn được gọi là Tam nhân.[1]
Bên cạnh đó, cho đến năm 1986 còn có một nhân vật được đánh giá là quyền lực chỉ đứng sau Tổng Bí thư là Lê Đức Thọ, người sau này trở thành cá nhân duy nhất được suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương dù chưa từng là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hay Thủ tướng.
| Mốc thời gian | Tổng Bí thư[N 4] | Lãnh đạo Nhà nước[N 5] | Lãnh đạo Hành pháp[N 6] | Lãnh đạo Lập pháp[N 7] | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2 tháng 9, 1969 – 4 tháng 7, 1981 | Lê Duẩn (1907 – 1986) | Đương chức không tham gia Bộ Chính trị[N 8] | Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) | Trường Chinh (1907 – 1988) | ||||
| 4 tháng 7, 1981 – 10 tháng 7, 1986 | Trường Chinh (1907 – 1988) | Đương chức không tham gia Bộ Chính trị[N 9] | ||||||
| 10 tháng 7, 1986 – 14 tháng 7, 1986 | Văn phòng bỏ trống[N 10] | |||||||
| 14 tháng 7, 1986 – | Trường Chinh (1907 – 1988) | |||||||
| 18 tháng 12, 1986 – 17 tháng 6, 1987 | Nguyễn Văn Linh (1915 – 1998) | |||||||
| 17 tháng 6, 1987 – 18 tháng 6, 1987 | Phạm Hùng (1912 – 1988) | |||||||
| 18 tháng 6, 1987 – 10 tháng 3, 1988 | Võ Chí Công (1912 – 2011) | |||||||
| 10 tháng 3, 1988 – 22 tháng 6, 1988 | Văn phòng bỏ trống[N 11] | |||||||
| 22 tháng 6, 1988 – | Đỗ Mười (1917 – 2018) | |||||||
| 27 tháng 6, 1991 – 9 tháng 8, 1991 | Đỗ Mười (1917 – 2018) | |||||||
| 9 tháng 8, 1991 – 23 tháng 9, 1992 | Võ Văn Kiệt (1922 – 2008) | |||||||
Lãnh đạo chủ chốt sau 1992

Năm 1969, chức vị Chủ tịch Đảng bị bãi bỏ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đưa Tổng Bí thư trở thành vị trí quyền lực nhất hệ thống chính trị. Tuy nhiên phải đến tận Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 khi lần đầu tiên sau 22 năm, Chủ tịch nước và Chủ tịch Quốc hội cùng tham gia Bộ Chính trị, thì hệ thống Tứ trụ mới thực sự hình thành, trở thành những nhân vật quyền lực nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Giai đoạn 1992 đến 2025
Năm 1992, cấu trúc quyền lực được thay đổi khi Uỷ viên Bộ Chính trị Nông Đức Mạnh được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, đưa vị trí này sánh ngang với cấu trúc "Tam nhân" của thời kỳ trước để hình thành nên Tứ trụ. Cấu trúc này được chuẩn hoá bằng Kết luận số 35–KL/TW ban hành vào ngày 5 tháng 5 năm 2022 khi nêu rõ nhóm Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước gồm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội.[2][3] Cấu trúc này giữ ổn định cho đến năm 2025.
| Mốc thời gian | Tổng Bí thư | Chủ tịch nước | Thủ tướng Chính Phủ | Chủ tịch Quốc hội | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 23 tháng 9, 1992 – 23 tháng 9, 1997 | Đỗ Mười (1917 – 2018) | Lê Đức Anh (1920 – 2019) | Võ Văn Kiệt (1922 – 2008) | Nông Đức Mạnh (sinh 1940) | ||||
| 24 tháng 9, 1997 – 25 tháng 9, 1997 | Trần Đức Lương (1937 – 2025) | |||||||
| 25 tháng 9, 1997 – 26 tháng 12, 1997 | Phan Văn Khải (1933 – 2018) | |||||||
| 26 tháng 12, 1997 – | Lê Khả Phiêu (1931 – 2020) | |||||||
| 22 tháng 4, 2001 – 27 tháng 6, 2001 | Nông Đức Mạnh (sinh 1940) | |||||||
| 27 tháng 6, 2001 – 26 tháng 6, 2006 | Nguyễn Văn An (sinh 1937) | |||||||
| 26 tháng 6, 2006 – 27 tháng 6, 2006 | Nguyễn Phú Trọng (1944 – 2024) | |||||||
| 27 tháng 6, 2006 – | Nguyễn Minh Triết (sinh 1942) | Nguyễn Tấn Dũng (sinh 1949) | ||||||
| 19 tháng 1, 2011 – 23 tháng 7, 2011 | Nguyễn Phú Trọng (1944 – 2024) | |||||||
| 23 tháng 7, 2011 – 25 tháng 7, 2011 | Nguyễn Sinh Hùng (sinh 1946) | |||||||
| 25 tháng 7, 2011 – 31 tháng 3, 2016 | Trương Tấn Sang (sinh 1949) | |||||||
| 31 tháng 3, 2016 – 2 tháng 4, 2016 | Nguyễn Thị (sinh 1954) | |||||||
| 2 tháng 4, 2016 – 6 tháng 4, 2016 | Trần Đại Quang (1956 – 2018) | |||||||
| 7 tháng 4, 2016 | Nguyễn Xuân Phúc (sinh 1954) | |||||||
| 21 tháng 9, 2018 – 23 tháng 10, 2018 | Đương chức không tham gia Bộ Chính trị[4] | |||||||
| 23 tháng 10, 2018 – 31 tháng 3, 2021 | Nguyễn Phú Trọng (1944 – 2024) | |||||||
| 31 tháng 3, 2021 – 5 tháng 4, 2021 | Vương Đình Huệ (sinh 1957) | |||||||
| 5 tháng 4, 2021 – | Nguyễn Xuân Phúc (sinh 1954) | Phạm Minh Chính (sinh 1958) | ||||||
| 18 tháng 1, 2023– 2 tháng 3, 2023 | Đương chức không tham gia Bộ Chính trị[5] | |||||||
| 2 tháng 3, 2023 – | Võ Văn Thưởng (sinh 1970) | |||||||
| 21 tháng 3, 2024 – | Đương chức không tham gia Bộ Chính trị[6] | |||||||
| 2 tháng 5, 2024 – | Văn phòng bỏ trống[7] | |||||||
| 20 tháng 5, 2024 – 22 tháng 5, 2024 | Trần Thanh Mẫn (sinh 1962) | |||||||
| 22 tháng 5, 2024 – | Tô Lâm (sinh 1957) | |||||||
| 19 tháng 7, 2024 – 03 tháng 8, 2024 | Văn phòng bỏ trống[8] | |||||||
| 03 tháng 8, 2024 – 21 tháng 10, 2024 | Tô Lâm (sinh 1957) | |||||||
| 21 tháng 10, 2024 – 8 tháng 9, 2025 | Lương Cường (sinh 1957) | |||||||
Giai đoạn 2025 đến nay
Ngày 8 tháng 9 năm 2025, Quy định số 368–QĐ/TW được ban hành, thay thế Kết luận số 35 trước đó. Theo đó, vị trí Thường trực Ban Bí thư – người phụ trách, chủ trì công việc hàng ngày của Ban Bí thư – được bổ sung vào nhóm Lãnh đạo chủ chốt, nâng số lãnh đạo ở nhóm này lên năm người. Trên thực tế, trong suốt thời gian dài trước đó, Thường trực Ban Bí thư là vị trí duy nhất được mặc định đứng sau nhóm Lãnh đạo chủ chốt và cũng thường dự các cuộc họp của nhóm này.[3][9] Sau khi vị trí này được bổ sung vào nhóm Lãnh đạo chủ chốt, báo chí đã gọi nhóm chính khách này bằng những cái tên như "Ngũ trụ" hoặc "Bộ Ngũ" thay thế cho "Tứ trụ".[10]
Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau đó, vào năm 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu kiêm nhiệm Chủ tịch nước. Từ sau 1969, đã từng có một số trường hợp mà lãnh đạo Đảng kiêm nguyên thủ quốc gia như Trường Chinh hay Nguyễn Phú Trọng nhưng những trường hợp này thường mang tính chất "tạm thời", "đột xuất" (Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh được bầu kiêm nhiệm Tổng Bí thư sau khi Lê Duẩn qua đời; Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu kiêm nhiệm Chủ tịch nước sau khi Trần Đại Quang qua đời cho đến khi hết nhiệm kỳ ban đầu của ông Quang vào năm 2021 thì chuyển giao vị trí Chủ tịch nước lại cho Nguyễn Xuân Phúc, trở lại mô hình ban đầu). Tuy nhiên, động thái bầu Tổng Bí thư Tô Lâm làm Chủ tịch nước ngay từ đầu nhiệm kỳ trên thực tế đã nhất thể hóa chức danh Tổng Bí Thư và Chủ tịch nước thành một, điều được cả báo chí chính thống và không chính thống đưa tin và thừa nhận.[11][12] Vì lẽ đó, nhóm Lãnh đạo chủ chốt dù gồm 5 vị trí nhưng chỉ do 4 cá nhân nắm giữ nên thuật ngữ "Tứ trụ" quen thuộc tiếp tục được sử dụng để chỉ nhóm chính khách này.
| Mốc thời gian | Tổng Bí thư | Chủ tịch nước | Thủ tướng Chính Phủ | Chủ tịch Quốc hội | Thường trực Ban Bí thư | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 8 tháng 9, 2025 – 7 tháng 4, 2026 | Tô Lâm (sinh 1957) | Lương Cường (sinh 1957) | Phạm Minh Chính (sinh 1958) | Trần Thanh Mẫn (sinh 1962) | Trần Cẩm Tú (sinh 1961) | |||||
| 7 tháng 4, 2026 – nay | Tô Lâm (sinh 1957) | Lê Minh Hưng (sinh 1970) | ||||||||
Xem thêm
Ghi chú
- ↑ Đảng Cộng sản Đông Dương (đến 1951)Đảng Lao động Việt Nam (sau 1951)
- ↑ Trưởng ban Thường trực Quốc hội (đến 1960)Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau 1960)
- ↑ Các lãnh đạo Quốc hội trong giai đoạn 1945 đến 1960 gồm Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng không tham gia Bộ Chính trị nên không được xếp vào nhóm Lãnh đạo chủ chốt chính thức
- ↑ Đảng Lao động Việt Nam (đến 1976)Đảng Cộng sản Việt Nam (sau 1976)
- ↑ Chủ tịch nước (trước 1981); Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (sau 1981)
- ↑ Thủ tướng Chính Phủ (trước 1981); Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (sau 1981)
- ↑ Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (trước 1976); Chủ tịch Quốc hội (sau 1976)
- ↑ Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Ngày hôm sau, Phó Chủ tịch Tôn Đức Thắng được giao Quyền Chủ tịch nước cho đến khi chính ông được chính thức bầu làm Chủ tịch nước vào ngày 22 tháng 9. Tuy nhiên, cho đến khi mất vào năm 1980, dù là Chủ tịch nước nhưng ông chưa bao giờ tham gia Bộ Chính trị - cơ quan quyền lực nhất trên thực tế của Đảng Cộng sản Việt Nam - nên không được xếp vào nhóm Lãnh đạo chủ chốt chính thức. Tương tự, người tạm quyền sau khi Tôn Đức Thắng từ trần là Nguyễn Hữu Thọ cũng không tham gia Bộ Chính trị và không được xếp vào nhóm này
- ↑ Các lãnh đạo Quốc hội trong giai đoạn từ năm 1981 đến 1992 gồm Nguyễn Hữu Thọ và Lê Quang Đạo đều không tham gia Bộ Chính trị nên không được xếp vào nhóm Lãnh đạo chủ chốt chính thức
- ↑ Ngày 10 tháng 7 năm 1986, Tổng Bí thư Lê Duẩn từ trần mà không có cá nhân nào được bầu ngay lập tức để kế nhiệm ông cho đến khi Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư tại Hội nghị đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V vào ngày 14 tháng 7 năm 1986
- ↑ Ngày 10 tháng 3 năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng từ trần. Đến ngày hôm sau, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt được giao Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho đến khi Thường trực Ban Bí thư Đỗ Mười được bầu chính thức làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vào ngày 22 tháng 6 cùng năm. Do chỉ tạm quyền nên ông Kiệt chưa được xếp vào nhóm Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong thời gian này
Tham khảo
- ↑ "Từ 'Tam Nhân' đến 'Tứ Trụ': Hành trình đi tìm quyền lực của Quốc hội".
- ↑ "Danh mục chức danh lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị". https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/. 24/5/2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=và|date=(trợ giúp); Liên kết ngoài trong(trợ giúp)|website= - 1 2 "Kết luận số 35-KL/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở". Tư liệu - Văn kiện. Đảng Cộng sản Việt Nam. ngày 5 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Ngày 21 tháng 9 năm 2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh được giao quyền Chủ tịch nước. Do bà Thịnh không tham gia Bộ Chính trị và chỉ giữ Quyền Chủ tịch nước nên không được coi là một Tứ trụ chính thức.
- ↑ Ngày 18 tháng 1 năm 2023, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc từ chức. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân được giao quyền Chủ tịch nước. Do bà Xuân không tham gia Bộ Chính trị và chỉ giữ Quyền Chủ tịch nước nên không được coi là một Tứ trụ chính thức.
- ↑ Ngày 21 tháng 3 năm 2024, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng từ chức. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân được giao quyền Chủ tịch nước. Do bà Xuân không tham gia Bộ Chính trị và chỉ giữ Quyền Chủ tịch nước nên không được coi là một Tứ trụ chính thức.
- ↑ Ngày 2 tháng 5 năm 2024, sau khi Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ từ chức, không có cá nhân nào được bầu để kế nhiệm ông. Thay vào đó, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn được phân công điều hành hoạt động của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho đến khi ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội vào ngày 20 tháng 5.
- ↑ Ngày 19 tháng 7 năm 2024, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần, không có cá nhân nào ngay lập tức được bầu để kế nhiệm ông. Thay vào đó, Chủ tịch nước Tô Lâm được phân công điều hành công việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư cho đến khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bản thân ông làm Tổng Bí thư mới.
- ↑ "TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG CHỦ TRÌ CUỘC HỌP LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT". xaydungchinhsach.chinhphu.vn/. ngày 13 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ↑ "Tứ Trụ thành 'Bộ Ngũ' và những biến động 'lãnh đạo chủ chốt' và 'cấp cao'".
- ↑ "Nhất thể hóa: Hợp nhất quyền lực để guồng máy hành động vì dân". vov.gov.vn. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Ông Tô Lâm nhất thể hóa: Khác gì với ông Tập Cận Bình ở Trung Quốc?".