Máy bay tiêm kích đa năng

Máy bay chiến đấu đa nhiệm là loại máy bay chiến đấu được thiết kế để thực hiện nhiều vai trò khác nhau trong chiến đấu. Những máy bay như F-35 Lightning II có thể được gọi là một 'tiêm kích đa nhiệm'.[1] Các vai trò này có thể bao gồm không chiến, yểm trợ trên không, ném bom đường không, trinh sát, tác chiến điện tử, và áp chế phòng không của đối phương.
Định nghĩa
Máy bay tiêm kích đa nhiệm là một loại máy bay phản lực quân sự được thiết kế để thực hiện nhiều nhiệm vụ chiến đấu khác nhau, thay vì chuyên biệt cho chỉ một vai trò. Những máy bay này kết hợp năng lực của tiêm kích đối không và máy bay tấn công đối đất, mang lại tính linh hoạt và hiệu quả trên chiến trường.
Có thể bổ sung thêm các vai trò khác như trinh sát đường không, kiểm soát không quân tiền phương, và tác chiến điện tử. Các nhiệm vụ tấn công còn bao gồm các phân nhóm như không kích ngăn chặn, chế áp phòng không đối phương (SEAD), và yểm trợ đường không tầm gần (CAS).

Đa nhiệm so với chiếm ưu thế trên không
Khái niệm đa nhiệm cũng được dùng cho những máy bay có cả hai vai trò lớn, trong đó vai trò chính là không chiến, còn vai trò phụ là tấn công đối đất. Tuy nhiên, những máy bay được thiết kế với sự nhấn mạnh vào chiến đấu trên không thường vẫn được xem là tiêm kích chiếm ưu thế trên không và thường chỉ được triển khai trong vai trò đó, dù về mặt lý thuyết chúng vẫn có khả năng tấn công mặt đất. Eurofighter Typhoon và Dassault Rafale đều được xếp loại là tiêm kích đa nhiệm; tuy nhiên, Typhoon thường được xem là một tiêm kích chiếm ưu thế trên không do năng lực không chiến quần vòng vượt trội hơn, trong khi khả năng tấn công tích hợp sẵn của nó có tải trọng bom nhẹ hơn so với những máy bay cùng thời như Rafale, loại máy bay chấp nhận hy sinh phần nào khả năng đối không để đổi lấy tải trọng lớn hơn[2]
Đối với Hải quân Hoa Kỳ, F-14 Tomcat ban đầu chỉ được triển khai như một tiêm kích chiếm ưu thế trên không, đồng thời là máy bay đánh chặn phòng thủ hạm đội và trinh sát chiến thuật trên không. Trái lại, chiếc F/A-18 Hornet đa nhiệm được thiết kế như một tiêm kích tấn công, nhưng chỉ có đủ ưu thế để tự bảo vệ trước máy bay tiêm kích đối phương khi cần. Mặc dù F-14 có một năng lực tấn công mặt đất thứ cấp chưa phát triển hoàn chỉnh (với Hệ thống Quản lý Vũ khí – Stores Management System (SMS) có các tùy chọn đối đất cũng như phần mềm sơ khai trong AWG-9), Hải quân Mỹ khi đó không muốn mạo hiểm sử dụng nó trong vai trò tấn công đối đất, do thiếu các biện pháp đối kháng điện tử phòng thủ thích hợp (DECM) và hệ thống cảnh báo bị radar bắt bám (RHAW) cho các chiến dịch trên phóng từ đất liền, cũng như vì bản thân chiếc tiêm kích này có chi phí quá cao. Đến thập niên 1990, Hải quân Hoa Kỳ mới lắp pod LANTIRN cho các máy bay F-14 và triển khai chúng trong các nhiệm vụ tấn công mặt đất chính xác.[3]
Swing-role
Một số máy bay, như Saab JAS 39 Gripen,[4] được gọi là swing-role, hằm nhấn mạnh khả năng chuyển đổi vai trò rất nhanh, hoặc chỉ trong thời gian ngắn báo động, hoặc thậm chí ngay trong cùng một nhiệm vụ. Theo Military Dictionary: "khả năng sử dụng một máy bay đa nhiệm cho nhiều mục đích khác nhau trong cùng một nhiệm vụ."[5]
Theo BAE Systems, đó là "một máy bay có thể thực hiện cả vai trò đối không lẫn đối đất trong cùng một nhiệm vụ, và chuyển đổi giữa các vai trò đó ngay lập tức, mang lại tính linh hoạt thực sự. Điều này làm giảm chi phí, tăng hiệu quả và nâng cao khả năng tương tác với không quân đồng minh".,[6]
"Khả năng [swing-role] cũng mang lại những lợi ích đáng kể về chi phí sở hữu/vận hành cho các chỉ huy tác chiến."[7]
Lịch sử

Mặc dù thuật ngữ "máy bay đa nhiệm" có thể là tương đối mới, một số kiểu thân máy bay trong lịch sử đã chứng minh được khả năng đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau. Đặc biệt, Junkers Ju 88 nổi tiếng ở Đức là một kiểu "jack-of-all-trades" (biết đủ mọi nghề / đa năng), có thể hoạt động như máy bay ném bom, máy bay ném bom bổ nhào, tiêm kích đêm, v.v., khá giống với cách mà [ơde Havilland Mosquito]] của Anh đảm nhiệm vai trò máy bay ném bom nhanh, trinh sát, và tiêm kích đêm. Hawker Hart cũng là một loại máy bay khá đa nhiệm trong rất nhiều biến thể của nó: được thiết kế như một máy bay ném bom hạng nhẹ, nhưng lại phục vụ như máy bay phối thuộc lục quân, tiêm kích hai chỗ ngồi, máy bay trinh sát cho hạm đội, và máy bay huấn luyện.
Chiếc F-4 Phantom II của lực lượng liên quân Hoa Kỳ do McDonnell Douglas chế tạo cũng phù hợp với định nghĩa về máy bay đa nhiệm, xét theo các cấu hình khác nhau của cùng một thiết kế khung thân cơ bản. Những cấu hình khác nhau của F-4 Phantom II đã được sử dụng trong các nhiệm vụ như không chiến đối không, tiêm kích–ném bom, trinh sát, và chế áp phòng không đối phương (SEAD), chỉ để kể ra một vài vai trò.
Lần sử dụng đầu tiên của thuật ngữ này là trong dự án đa quốc gia châu Âu mang tên Multi-Role Combat Aircraft, được thành lập năm 1968 để chế tạo một loại máy bay có khả năng thực hiện các vai trò tấn công chiến thuật, trinh sát đường không, phòng không, và tác chiến hàng hải.[cần dẫn nguồn] Thiết kế này nhằm thay thế nhiều loại máy bay khác nhau đang phục vụ trong các lực lượng không quân hợp tác tham gia dự án. Kết quả của dự án là Panavia Tornado, oại máy bay sử dụng cùng một thiết kế cơ bản để đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau, với biến thể (Interdictor/Strike) và sau này là Panavia Tornado ADV (Air Defence Variant). Trái lại, F-15 Eagle, một loại tiêm kích khác của cùng thời kỳ, được thiết kế cho chiếm ưu thế trên không và đánh chặn, với khẩu hiệu "not a pound for air to ground" (không dành lấy một pound tải trọng nào cho nhiệm vụ đối đất), dù F-15C vẫn có một khả năng tấn công mặt đất thứ cấp ít khi được sử dụng. Về sau, chương trình đó đã phát triển thành F-15E Strike Eagle, một biến thể interdictor/strike (ngăn chặn/tấn công), nhưng vẫn giữ được khả năng không chiến đối không sát thương cao của các phiên bản F-15 trước đó.
Loại tiêm kích mới nhất phù hợp với định nghĩa "đa nhiệm" là Lockheed Martin F-35 Lightning II/Joint Strike Fighter, được thiết kế để thực hiện các vai trò tấn công mặt đất/tấn công hải quân bằng công nghệ tàng hình, tiêm kích, trinh sát, và tác chiến điện tử. Tương tự như một phiên bản F-4 hiện đại, ba biến thể của loại máy bay này đáp ứng các vai trò tấn công và phòng không khác nhau trong yêu cầu chung của các quân chủng: biến thể tiêu chuẩn được dự định cuối cùng sẽ thay thế F-16 và A-10 trong USAF và các không quân phương Tây khác; một phiên bản STOVL được dự định thay thế Harrier trong biên chế Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Không quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoàng gia Anh; còn phiên bản tàu sân bay được dự định cuối cùng sẽ thay thế các máy bay F/A-18C/D cũ của Hải quân Hoa Kỳ và các nước khác đang vận hành F/A-18. Mục tiêu thiết kế của F-35 có thể được so sánh với người "anh em họ" lớn hơn và thiên nhiều hơn về ưu thế trên không của nó là F-22 Raptor.
Xem thêm
- Máy bay tiêm kích chiếm ưu thế trên không
- Máy bay cường kích
- Máy bay tiêm kích - ném bom
- Máy bay tiêm kích đánh chặn
Nguồn tham khảo
- ↑ "multi-role". Military-Dictionary.org. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Rafale Vs F/A-18 Super Hornet: Which one between Rafale and 'Rhino' is the better multirole fighter aircraft?". ngày 25 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "F-14 Tomcat fighter". United States Navy. United States Navy. ngày 5 tháng 7 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2007.
- ↑ "Fact file: Saab JAS39 C/D Gripen". ngày 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "swing-role". Military-Dictionary.org. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "BAE Systems Delivers Swing Role Radar Capability to Eurofighter Typhoon". BAE Systems (Press release). BAE Systems. ngày 19 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "The Aircraft". Eurofighter. Eurofighter Jagdflugzeug GmbH. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Đã định rõ hơn một tham số trong|work=và|website=(trợ giúp)