Minh Di đãi phỏng lục
| Minh Di đãi phỏng lục | |
|---|---|
| 明夷待訪錄 | |
| Thông tin sách | |
| Tác giả | Hoàng Tông Hy |
| Quốc gia | Nhà Thanh |
| Minh Di đãi phỏng lục | |||||||
| Giản thể | 明夷待访录 | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phồn thể | 明夷待訪錄 | ||||||
| |||||||
Minh Di đãi phỏng lục[1] là tác phẩm chính trị của học giả đầu thời Thanh Hoàng Tông Hy, được mệnh danh là "Cha đẻ của Phong trào Khai sáng Trung Quốc".[2] Nội dung sách công khai chỉ trích chế độ quân chủ chuyên chế đang thịnh hành ở Trung Quốc và được các tác giả đương đại diễn giải là tiền thân của lý thuyết về quyền công dân và đòi hỏi hệ thống chính trị dân chủ.[3] Hoàng Tông Hy bắt đầu viết sách này vào năm Thuận Trị thứ 18 đời Thanh (1661) và hoàn thành vào năm Khang Hi nguyên niên (1662), khoảng một thế kỷ trước cuốn Khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau.[4][5] Tác phẩm này có ảnh hưởng sâu sắc trong giai đoạn cuối thời Thanh, đặc biệt là trong Biến pháp Mậu Tuất và nỗ lực khác nhằm thiết lập chế độ quân chủ lập hiến ở Trung Quốc.[6][7]
Bản tiếng Anh của Minh Di đãi phỏng lục, do Wm. Theodore de Bary dịch với tựa đề Waiting for the Dawn, đã được Nhà xuất bản Columbia University Press phát hành vào năm 1993.[8]
Từ nguyên
Hai chữ đầu tiên "Minh Di" (明夷) được lấy từ tên một quẻ trong Chu Dịch (Quẻ Minh Di): "Kỳ Tử chi Minh Di" (箕子之明夷). Dựa theo Chu Dịch chính nghĩa giải thích: "Mặt trời lặn xuống đất, là tượng của quẻ Minh Di. Áp dụng vào việc nhân sự, thì đó là khi chủ tối tăm ở trên, bề tôi sáng suốt ở dưới, không dám hiển lộ chí hướng sáng suốt của mình, đó cũng là ý nghĩa của Minh Di". Ý nghĩa của hai chữ "Minh Di" chỉ sự tối tăm trước bình minh; còn "đãi phỏng" (待访) có nghĩa là chờ đợi minh quân đến thăm hỏi. Toàn bộ nhan đề Minh Di đãi phỏng lục có nghĩa là "Bản ghi nhớ chờ đợi minh quân đến thăm hỏi trong thời kỳ trước bình minh" (黎明前等待明君來訪的備忘錄; Lê minh tiền đẳng đãi minh quân lai phỏng đích bị vong lục).
Tư tưởng
Minh Di đãi phỏng lục đã phê phán một cách sâu sắc chủ nghĩa chuyên chế phong kiến, phản ánh một cách đầy đủ chủ trương văn hóa, kinh tế, chính trị của phái cải cách thuộc giai cấp địa chủ tầng lớp dưới chịu ảnh hưởng của phong trào thị dân thời kỳ đầu. Đây là một cuốn sách chống phong kiến mang màu sắc dân chủ khải mông, từng được coi là thuộc loại "tuyên ngôn dân quyền" của Trung Quốc thế kỷ 17.[9]
Hoàng Tông Hy thông qua sách này mà vận dụng phương pháp so sánh lịch sử, tìm hiểu căn nguyên trị loạn của xã hội, nhằm thẳng vào hiện thực xã hội, đưa ra chủ trương cải cách, chỉ ra tội ác của hệ thống pháp luật phong kiến và chế độ chuyên chế quân chủ, đi sâu vạch ra mâu thuẫn trong xã hội phong kiến Trung Quốc cuối thế kỷ 17. Hoàng Tông Hy phê phán các mối quan hệ vua - tôi, vua - dân truyền thống tồn tại trong xã hội phong kiến Trung Quốc từ thời Tần Hán. Ông cho rằng trong mối quan hệ vua - tôi cần phải coi thiên hạ là chủ, vua là khách, vua phải vì dân mà làm việc. Vậy mà, từ thời Tần Hán trở về sau, vua chúa Trung Quốc đều "coi thiên hạ là tài sản lớn nhất". Để tranh giành hưởng thụ cái tài sản đó, bọn họ đã không từ một thủ đoạn tàn bạo nào hết. Vua chúa Trung Quốc từ thời Tần Hán trở đi đều là một phường hại dân hại nước. Trong mối quan hệ vua - tôi, Hoàng Tông Hy cho rằng, tầng lớp trí thức ra làm quan thì phải vì dân mà làm việc, không nên chỉ một lòng một dạ làm việc phục vụ nhà vua. Ông phân biệt một cách rõ ràng vị trí của người làm quan với vị trí của kẻ đầy tớ. "Thần" thì phải ở vị trí vì dân mà làm thầy, làm bạn của vua chứ không phải là người hầu của vua; chỉ có tôi tớ mới là người hầu riêng của nhà vua. Quân thần cùng nhau cai trị thiên hạ, làm quan thì phải mưu cầu bình yên cho thiên hạ mà chủ yếu là mưu cầu sự yên vui cho dân chúng. Ông lấy cuộc sống yên vui của dân ra làm tiêu chuẩn cho một xã hội: dân yên vui thì là trị, dân không yên vui thì là loạn, còn sự hưng vong của một dòng họ, một vương triều thì lại không coi là quan trọng.[9]
Hoàng Tông Hy còn phê phán quan niệm đạo đức phong kiến truyền thống "quân sử thần tử, thần bất tử bất trung" (Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung). Ông cho rằng, bề tôi không phải vì vua mà sinh ra, cho nên không cần phải vì vua mà chết. Điều mà người làm quan theo đuổi chính là lợi ích của nhân dân. Hoàng Tông Hy phê phán chế độ pháp luật của chuyên chế phong kiến. Ông phân biệt giữa "pháp luật của thiên hạ" và "pháp luật của một nhà". Ông mong muốn phế bỏ chế độ "pháp luật của một nhà" của chủ nghĩa chuyên chế, khôi phục lại chế độ "pháp luật của thiên hạ", nếu không tình hình xã hội sẽ không thể nào tốt đẹp lên được.[9] Hoàng Tông Hy đề ra phương châm lấy trường học làm cơ quan để bàn việc nước, chủ trương mở rộng chức năng của trường học, lấy trường học làm cơ quan cao nhất để quyết định "phải - trái". Cái nơi mà ông gọi là trường học vừa có quyền lực chính trị lại vừa có tác dụng theo dõi, hướng dẫn dư luận, quyết định đúng sai, lại có thể tiến cử, phế bỏ quan chức. Có thể nói, trường học là một cơ cấu để tầng lớp trí thức có thể tham gia vào bộ máy chính quyền.[9]
Quan niệm dân chủ của Hoàng Tông Hy phản ánh nhu cầu của giới trí thức thuộc giai cấp địa chủ vừa và nhỏ trong xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, cũng phản ánh nguyện vọng của tầng lớp thị dân. Ông yêu cầu thay đổi quan hệ vua - tôi, quan hệ vua - dân cũng chính là chủ trương phế bỏ chủ nghĩa chuyên chế, chính quyền phải vì lợi ích của nhân dân, phải nghe theo dư luận của công chúng. Phải chịu sự giám sát, theo dõi của dân. Đó chính là tư tưởng dân chủ sản sinh ra cuối thời kỳ phong kiến. Tư tưởng chính trị của Hoàng Tông Hy cơ bản là tiếp thu từ Đặng Mục nhưng tiến bộ hơn Đặng Mục một bước. Nó có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử phát triển tư tưởng dân chủ ở Trung Quốc.[9]
Đánh giá
Lương Khải Siêu đã so sánh cuốn sách này với tác phẩm Khế ước xã hội của Rousseau, Ông lập luận rằng tác phẩm này được viết "vài thập kỷ trước khi Khế ước xã hội được xuất bản, và nó có thể được coi là một sản phẩm cao quý của văn hóa nhân loại".[10] Một nhà nghiên cứu khoa học chính trị Trung Quốc cho rằng chúng ta không nhất thiết phải đồng ý với quan điểm rằng Minh Di đãi phỏng lục "chứa đựng tinh thần dân chủ", nhưng phải thừa nhận một thực tế rằng cuốn sách này đã trở thành một xu hướng nội tại (được chấp nhận bên trong) trong tư tưởng dân chủ nước ngoài.[11] Thái Nguyên Bồi mô tả Minh Di đãi phỏng lục là "người báo trước của tư tưởng tự do".[12] Hầu Ngoại Lư coi cuốn sách này là 'tương tự' với Tuyên ngôn Nhân quyền của Trung Quốc thời cổ đại.[13] Tuy nhiên, cũng có ý kiến lập luận rằng Minh Di đãi phỏng lục của Hoàng Tông Hy hoàn toàn không thể so sánh được với Khế ước xã hội của Rousseau hay Tinh thần pháp luật của Montesquieu.[14]
Tham khảo
- ↑ S. Shmuel Noah Eisenstadt, Björn Wittrock (2005). Axial Civilizations And World History. Brill Publishers. tr. 523–. ISBN 90-04-13955-9.
- ↑ Liu Junning (ngày 6 tháng 7 năm 2011). "The Ancient Roots of Chinese Liberalism". The Wall Street Journal.
- ↑ Lý Duy Côn (1997). Trung Quốc nhất tuyệt. Trương Chính, Phan Văn Các, Ông Văn Tùng, Nguyễn Bá Thính biên dịch. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin. tr. 89–90.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách dịch giả (liên kết) - ↑ Daniel A. Bell (ngày 13 tháng 3 năm 1997). "An Asian Democracy For the 21st Century". The Wall Street Journal.
- ↑ Feng Tianyu; Xie Guian (2003). Deconstructing Dictatorship. Hubei People's Publishing House. ISBN 978-7-216-03727-3.
- ↑ Jing Wang (ngày 8 tháng 1 năm 2021). High Culture Fever: Politics, Aesthetics, and Ideology in Deng's China. University of California Press. tr. 82–. ISBN 978-0-520-32600-2.
- ↑ A book to understand Chinese classics. Compilation and Translation Bureau. ngày 4 tháng 6 năm 2015. tr. 51–.
- ↑ Joseph Runzo; Arvind Sharma; Nancy M. Martin (ngày 1 tháng 10 năm 2014). Human Rights and Responsibilities in the World Religions. Oneworld Publications. tr. 265–. ISBN 978-1-78074-681-4.
- 1 2 3 4 5 Nguyễn Thanh Hà (2009). 10 nhà sử học nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin. tr. 99–102.
- ↑ Wang Yuguang (1990). 30 books that influenced Chinese history. Wuhan University Press. tr. 186–.
- ↑ Tong Dezhi (ngày 3 tháng 8 năm 2018). Introduction to Comparative Political Culture: The Theoretical Reflection on the Plurality of Democracy. Springer. tr. 293–. ISBN 9789811315749.
- ↑ Wu Zhongxi (2004). A Brief History of Chinese Human Rights Thought: Cultural Tradition and Contemporary Practice. Xue Lin Publishing House. tr. 72–. ISBN 978-7-80668-713-0.
- ↑ From People-based to Democracy: Proceedings of the International Symposium on Huang Zongxi's People-based Thought. Zhejiang Ancient Books Publishing House. 2006. tr. 391–. ISBN 978-7-80715-199-9.
- ↑ On Academic Studies in Eastern Zhejiang. China Social Sciences Press. 1995. tr. 234–. ISBN 978-7-5004-1617-3.