Bước tới nội dung

Mô hình xã hội phúc lợi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một biển báo trung tâm cộng đồng ở Mỹ

Mô hình xã hội phúc lợi (Social welfare model) là một hệ thống cung cấp phúc lợi xã hội và hệ thống giá trị đi kèm với nó. Mô hình này thường bao gồm các chính sách xã hội ảnh hưởng đến phúc lợi của công dân một quốc gia trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường hoặc nền kinh tế hỗn hợp. Bảo hiểm xã hội liên quan đến cách nhà nước thực hiện các phúc lợi cho người thất nghiệp, lương hưu, chế độ nghỉ thai sản cho cả nam và nữ cũng như đối với người khuyết tật. Các dịch vụ chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe có thể gần như hoàn toàn do nhà nước tài trợ, dựa trên bảo hiểm tư nhân hay như Vương quốc Anh có một dịch vụ y tế gần như hoàn toàn do nhà nước tài trợ, ngược lại, tại Hoa Kỳ, các cá nhân phải dựa vào các hợp đồng bảo hiểm y tế trong trường hợp phải nhập viện, và chỉ có một khoản hỗ trợ tối thiểu của nhà nước dành cho những người nghèo hơn.

Các mô hình Mô hình xã hội phúc lợi

Kiểu Anh

Mô hình của Anh điển hình ở Vương quốc Anh, Canada, Úc, New Zealand, Nam Phi, Ireland, Hồng Kông, Singapore và các quốc gia Nam Á, mô hình của Anh có xu hướng có một nhà nước phúc lợi với quy mô xấp xỉ mức trung bình, so với các quốc gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), có thu nhập cao, nhưng ít toàn diện hơn so với các quốc gia ở bán đảo Scandinavia và phần lớn lục địa châu Âu. Họ có tình trạng nghèo đói cao hơn một chút và sự bất bình đẳng cao hơn. Mặc dù có một nhà nước phúc lợi nhỏ hơn hầu hết các nước Tây Âu, Anh, Canada, Úc và New Zealand lại cung cấp, bên cạnh những thứ khác, dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn dân theo hệ thống người trả tiền duy nhất (single-payer), phân phối lại thu nhập và đảm bảo một mức thu nhập ở mức đủ sống.[1]

Châu Âu

Mô hình Lục địa châu Âu được nhân rộng tại Áo, Pháp, Đức, BỉLuxembourg, mô hình Lục địa có các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ việc làm và một lượng lớn các quy định trong ngành công nghiệp. Tuy nhiên, thị trường lao động đã tỏ ra thiếu linh hoạt và phản ứng chậm với toàn cầu hóa. Các khoản trợ cấp thất nghiệp hào phóng dựa trên bảo hiểm và một nhà nước phúc lợi được tài trợ tốt được sử dụng để giảm nghèo và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Mô hình này nhìn chung có thể được xem là trung gian giữa mô hình của Anh và Bắc Âu. Mô hình Địa Trung Hải có ở Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, SípMalta. Mô hình Địa Trung Hải tương tự như mô hình Lục địa, nhưng tập trung phúc lợi vào lương hưu nhà nước hào phóng.

Bắc Âu

Mô hình Bắc Âu (Nordic Model) ở các nước Bắc Âu Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Iceland, Phần Lan nhưng còn bao gồm cả Hà Lan,[2] còn được gọi là mô hình nghiệp đoàn Bắc Âu (Nordic corporatist) do ảnh hưởng mạnh mẽ của các thành phần nghiệp đoàn chẳng hạn như công đoàn và tổ chức của người sử dụng lao động, chủ trương một nhà nước phúc lợi phát triển cao và do chính phủ tài trợ nhằm cung cấp các khoản trợ cấp thất nghiệp hào phóng cùng nhiều nguồn lực khác cho công chúng. Thị trường lao động được duy trì ở mức cơ động với việc sa thải và tuyển dụng dễ dàng, và chính phủ chăm lo cho những người bị sa thải bằng trợ cấp thất nghiệp và đào tạo lại. Sự bình đẳng của mô hình Bắc Âu đạt được thông qua thuế lũy tiến. Kết quả của chính sách này là Thụy Điển, Đan Mạch và Na Uy có mức chênh lệch thu nhập thấp nhất thế giới. Các nước Bắc Âu đã và đang tận hưởng mức tăng trưởng kinh tế và năng suất cao, nhưng đáng chú ý nhất là họ luôn chiếm giữ những vị trí hàng đầu trong các cuộc khảo sát về mức độ hạnh phúc trên thế giới.[3][4]

Các hệ thống phúc lợi trong Mô hình Bắc Âu cũng nổi lên là được đánh giá cao trong nhiều so sánh quốc tế tiêu chuẩn về phúc lợi hoặc sự an sinh.[5] Tuy nhiên, như một sự phê phán hạn chế, một số nhà nghiên cứu về phúc lợi và giới tính có trụ sở tại Bắc Âu đã lập luận rằng những đánh giá như vậy, dựa trên các tiêu chí phúc lợi/an sinh thông thường, ở một mức độ nào đó có thể đang trao quá nhiều đặc quyền cho các nước Bắc Âu về mặt, ví dụ, bình đẳng giới và sắc tộc. Họ gợi ý rằng nếu người ta có một cái nhìn rộng hơn về sự an sinh kết hợp với các vấn đề liên quan đến sự toàn vẹn thân thể (bodily integrity) hoặc quyền công dân về thể xác (bodily citizenship) (Pringle 2011),[6] thì một số hình thức thống trị của nam giới và/hoặc đặc quyền của người da trắng vẫn có thể được nhìn thấy là đang tồn tại dai dẳng ở các nước Bắc Âu, ví dụ như trong kinh doanh, bạo lực đối với phụ nữ, bạo lực tình dục đối với trẻ em, quân đội, giới học thuật và tôn giáo.[7][8][9]

Xem thêm Mô hình xã hội phúc lợi

Chú thích Mô hình xã hội phúc lợi

  1. Barr, N. (2004), Economics of the welfare state. New York: Oxford University Press (USA).
  2. Mardy (ngày 21 tháng 11 năm 2005). "Nordic model". Everything2.com. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2022.
  3. "Why are Dutch children so happy?". ngày 14 tháng 2 năm 2007.
  4. "The happiest taxes on earth". ngày 15 tháng 5 năm 2009.
  5. "Life satisfaction: Society at a Glance 2024". OECD (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2025.
  6. Pringle, Keith (2011). "Comparative Studies of Well-Being in Terms of Gender, Ethnicity and the Concept of Bodily Citizenship: Turning Esping- Andersen on His Head?"". Trong Oleksy, E; Hearn, J; Golańska, D (biên tập). The Limits of Gendered Citizenship: Contexts and Complexities. London: Routledge. tr. 137–156.
  7. Hearn, Jeff; Pringle, Keith (2006). European Perspectives on Men and Masculinities: National and Transnational Approaches. Houndmills: Palgrave Macmillan.
  8. Hearn, Jeff; Pringle, Keith (2018). "Men, Masculinities and Social Policy". Trong Shaver, Sheila (biên tập). Handbook of Gender and Social Policy. Oxford: Edward Elgar. tr. 55–73.
  9. Pringle, Keith (2016). "Doing (Oppressive) Gender via Men's Relations with Children". Trong Hayren, A; Henriksson, HW (biên tập). Critical Perspectives on Masculinities and Relationalities: In Relation to What?". New York: Springer. tr. 23–34.